Những năm 1960, Hàn Quốc là một trong các quốc gia nghèo nhất trên thế giới, thu nhập bình quân đầu người Hàn Quốc khoảng $ 80 USD/năm, chi tiêu chính phủ chủ yếu phụ thuộc chủ yếu vào viện trợ nước ngoài. Sau nửa thế kỷ phát triển, Hàn Quốc đã vươn lên mạnh mẽ về kinh tế, với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm 7,6%, liên tục trong 40 năm, đã làm nên “Kỳ tích sông Hàn”, và ngay từ đầu thập niên 1990 Hàn Quốc đã trở thành một trong bốn “con rồng kinh tế châu Á”.
Những năm 1960, Hàn Quốc là một trong các quốc gia nghèo nhất trên thế giới, thu nhập bình quân đầu người Hàn Quốc khoảng $ 80 USD/năm, chi tiêu chính phủ chủ yếu phụ thuộc chủ yếu vào viện trợ nước ngoài. Sau nửa thế kỷ phát triển, Hàn Quốc đã vươn lên mạnh mẽ về kinh tế, với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm 7,6%, liên tục trong 40 năm, đã làm nên “Kỳ tích sông Hàn”, và ngay từ đầu thập niên 1990 Hàn Quốc đã trở thành một trong bốn “con rồng kinh tế châu Á”.
Năm 1968, đánh dấu sự khởi đầu hành trình trấn hưng dân tộc của Hàn Quốc với bước đột phá khẩu từ cải cách giáo dục. Tìm ra bí kíp thành công thần kỳ của người hàng xóm Nhật Bản, đó là phát huy sức mạnh nguồn nhân lực và điểm khởi đầu là giáo dục, Hàn Quốc quyết định thay đổi giáo dục bằng cách bê nguyên sách giáo khoa của người Nhật về dịch sang tiếng Hàn và giảng dạy, ngoại trừ các môn xã hội như địa lý, lịch sử và văn học.
Quan điểm “theo đuôi” Nhật Bản trong cải cách giáo dục lúc đó bị nhiều chính giới Hàn Quốc chỉ trích, phản đối và cho rằng việc làm đó làm mất thể diện Quốc gia: “lẽ nào, người Hàn lại không tự soạn được một bộ sách giáo khoa cho mình”. Nhưng rồi, quan điểm “lấy kinh nghiệm của người khác, về áp dụng cho mình” đã thắng thế, việc cải cách giáo dục, thay sách giáo khoa vẫn được thực hiện theo hướng đó, với luận giải: “Vì để có chương trình giáo dục đó, người Nhật đã mất cả trăm năm cải biên từ sách giáo khoa, giáo trình và phương pháp đào tạo của nền giáo dục phương Tây cho phù hợp với đặc trưng châu Á, bắt đầu từ thời Minh Trị Thiên Hoàng. Để rút ngắn thời gian, cách hiệu quả nhất là lấy kinh nghiệm của người khác, còn giành nguồn lực để lo các việc quan trọng khác. Và tấm gương thành công của nền kinh tế Nhật Bản dựa trên lòng tự hào dân tộc, tính kỷ luật và đạo đức của toàn thể xã hội đã được người Hàn áp dụng thành công, và Hàn Quốc đã nhanh chóng trở thành một bản sao mới của Nhật Bản.
Đúng 20 năm sau, với việc đăng cai tổ chức thành công sự kiện thể thao lớn nhất hành tinh - Olympic Seoul 1988, Hàn Quốc đã làm cả thế giới ngỡ ngàng và thán phục, khi trực tiếp mục sở thị những kỳ tích bên bờ sông Hàn: Tất cả, ô-tô, xe máy, dệt nhuộm, hoá chất, đóng tàu, điện tử, thực phẩm... đều là Made in Korea với tiêu chuẩn đẳng cấp quốc tế. Lúc này, Nhật Bản có cái gì, thì Hàn Quốc có cái đó, dù dân số của Hàn Quốc chỉ bằng 1/3 Nhật Bản.
Không hiểu trong 20 năm đó, cả dân tộc Hàn Quốc đã quyết tâm thoát nghèo như thế nào? Trên tivi chỉ có 2 chương trình là “dạy làm người” và “dạy làm ăn”, từ cái văn minh nhỏ xíu như nụ cười của một nhân viên bán hàng, đến cách quản lý chi phí của một quán cà phê, đến cách tạo dựng một nhà máy... đều được truyền dạy một cách cặn kẽ.
Và sau 20, Hàn Quốc đã lột xác: Từ một dân tộc “xin việc”, tức các doanh nghiệp nước ngoài đến đặt nhà máy tại Hàn và thuê lao động Hàn, Hàn Quốc bắt đầu khan hiếm lao động và trở thành dân tộc đi “cho việc”. Mở rộng đầu tư ra nước ngoài, Hàn Quốc mang tiền đi xây dựng nhà máy ở khắp nơi trên thế giới và hàng triệu người dân bản địa Trung Quốc, Thái Lan, Philippines,... trở thành người làm thuê cho các doanh nghiệp Hàn Quốc. Hàn Quốc đã thành công trong việc tiếp nối Nhật Bản thành dân tộc đi cho việc người khác.
Năm 1988, khai mạc Olympic Seoul pháo hoa thắp sáng 2 bờ sông Hàn, Hàn Quốc chính thức bước chân vào nhóm 24 quốc gia thịnh vượng nhất thế giới, hơn 100 quốc gia giàu có nhất trên thế giới miễn visa cho người Hàn Quốc.
Không tự thoả mãn với những kỳ tích đã đạt được, Hàn Quốc đã sớm nhìn thấy nhưng thách thức mới lại xuất hiện, đó không còn là những thách thức trước Nhật Bản, mà là Hồng Kông và Singapore, 2 Quốc đảo thông minh, 2 cực hút nam châm của cả châu Á về tài chính, thương mại và giải trí. Phim Hồng Kông tràn ngập thị trường và không có đối thủ.
Để xây dựng công nghiệp điện ảnh, năm 1988, Hàn Quốc tuyển chọn ngay 2000 sinh viên ưu tú, cử sang Kinh đô điện ảnh quốc tế - Holywood, trau rồi kinh nghiệm thành công của Điện ảnh Hoa kỳ, tập trung học hành các công nghệ làm film của người Mỹ, từ đạo diễn, diễn viên, phục trang, đạo cụ,... Sau 4 năm đào tạo, năm 1992, những bộ phim Hàn Quốc đầu tiên ra đời như Cảm xúc, Mối tình đầu, Hoa cúc... với một thế hệ diễn viên tài năng, trẻ đẹp và phù hợp với thị hiếu của người châu Á. Đến nay, văn hóa Hàn Quốc nhanh chóng được quảng bá ra thế giới và thâm nhập vào nhiều nước một cách mạnh mẽ. Hiện nay, Hàn Quốc là một trong top 10 nước xuất khẩu văn hóa hàng đầu thế giới. Làn sóng Hallyu thông qua K-pop, các bộ phim truyền hình và điệu nhảy Gangnam Style đã lan rộng và được đón nhận ở rất nhiều quốc gia. Những ngôi sao điện ảnh và truyền hình xứ Hàn là thần tượng tại rất nhiều nước.
Ngành làm film phối hợp với thời trang, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng, bắt đầu xâm nhập vào các thị trường. Đại sứ quán Hàn Quốc tại các nước có nhiệm vụ dịch thuật ra tiếng địa phương và tặng không cho các đài truyền hình, tạo ra làn sóng film Hàn phổ biến khắp nơi. Và film Hồng Kông dần bị đá văng ra khỏi thị trường cho thuê băng đĩa tại nhiều quốc gia, và các vũng lãnh thổ trong khu vực.
Cũng năm 1988, Hàn Quốc còn đưa 2000 sinh viên ưu tú khác đi Milan và Paris để học về công nghệ thời trang và mỹ phẩm.
Các tập đoàn như xe Kia, Samsung, Hyundai còn thuê cả ê-kip thiết kế của các hãng xe Đức như Mercedes, BMW làm việc cho họ, với tham vọng xuất khẩu xe Hàn Quốc sang thị trường khó tính nhất là Mỹ và châu Âu. Với cách nghĩ: Muốn bán hàng cho Tây thì bao bì nhãn mác phải phù hợp với thẩm mỹ của Tây, chứ kiểu” tròn tròn xinh xinh” của dân châu Á, tụi Tây không thích, không bán được. Và nền công nghiệp xe hơi Hàn Quốc đã nhanh chóng gặt hái được thành công. Nhiều mẫu xe Made in Korea như Hyundai, Kia bán chạy ở Bắc Mỹ và châu Âu. Người Mỹ, người châu Âu bắt đầu nhìn người Hàn với ánh mắt khác, ngưỡng mộ, ngạc nhiên và thích thú.
Ngoài ra, những sinh viên giỏi toán nhất cũng được người Hàn định hướng theo học ngành tài chính ở các đại học lớn ở Mỹ, với tham vọng Seoul sẽ sớm trở thành Trung tâm Tài chính như London, New York. Các quỹ đầu tư ra đời, tự tìm kiếm các nhà máy mới khởi nghiệp để rót tiền vào, và tham gia quản trị...
Một người Hàn giàu có là cả dân tộc Hàn giàu. Hệ thống bán lẻ Lotte có nghĩa vụ mang hàng hoá Hàn đi khắp nơi. Ông lớn Samsung bắt đầu tuyển dụng những sinh viên giỏi nhất châu Á về cho học bổng thạc sĩ miễn phí với điều kiện tốt nghiệp xong phải mấy năm phục vụ cho họ. Họ gom trí tuệ của cả châu Á để chinh phục thị trường điện thoại thông minh và máy tính bảng, cạnh tranh đối đầu với Apple, đối đầu với cả một tập thể trí tuệ Thung lũng Silicone, cứ như Airbus của châu Âu cạnh tranh với Boeing vậy.
Mọi người Hàn Quốc, từ công nhân lao động, đến các viên chức hay doanh nhân..., đều ưu tiên dùng hàng nội địa, ngần như mọi thứ hàng hoá họ dùng đều có thương hiệu Made in Korea (trừ những thứ chưa được sản xuất trong nước), dù lúc sản phẩm kém cỏi còn xấu xí và đầy lỗi của thập niên bảy mươi hay hiện đại tinh xảo như bây giờ. Chính phong trào “người Hàn dùng hàng Hàn”, đã giúp kích cầu nội địa, giúp những doanh nghiệp non trẻ của thời khởi nghiệp những năm thập niên 70 nhanh chóng phát triển để sản xuất ra những có sản phẩm tinh xảo, đẳng cấp quốc tế ngày nay.
Nhớ lần đầu tiên, xuất ngoại đi thăm Hàn Quốc, mùa thu năm 2005, mấy đồng nghiệp ở cơ quan cẩn thận ghi tên mấy nhãn hiệu mỹ phẩm ưa thích và nhờ mua giùm. Ở cửa hàng mỹ phẩm, cô bán hàng mặc bộ váy veston đen, chạy như bay lấy hết sản phẩm này đến sản phẩm khác cho khách hàng xem, đều là của Hàn cả. Do tiếng Anh không nói tốt nên cô cứ giải thích bằng tiếng Hàn đến lúc giọng khàn đặc. Đến lúc tôi lấy tay chỉ hộp phấn Lancom, thì cô thất vọng oà khóc. Tôi bối rối, không hiểu vì sao cô khóc? Chắc cô khóc vì cô đã không thành công khi tình yêu nước của cô không thuyết phục được khách hàng. Tôi sững sờ nhìn cô, và thật cảm phục trước những tình cảm mãnh liệt mà cô gái bán hàng giành cho thương hiệu hàng hoá made in Korea? Tôi bèn mua thêm mấy hộp mỹ phẩm của Hàn, dù chẳng phải thứ mà tôi cần, vì kính phục quá.
Khi bước ra khỏi cửa hàng, ngoái lại vẫn thấy cổ bán hàng gập đầu cung kính. Ngoài phố, gió bắt đầu lạnh, từng tốp học sinh chạy tập thể dục rầm rập trên vỉa hè, những chiếc áo khoác thêu cờ tổ quốc ở sau lưng. Vậy là sau lưng của mỗi công dân Hàn Quốc luôn là tổ quốc. Và đó là cội nguồn sức mạnh để tạo dựng nên Kỳ tích Sông Hàn như hôm nay.
(Cnth theo Tạp chí thnh)