QUỐC HỘI KHÓA XIII UỶ BAN KINH TẾ Số: 2499/BC-UBKT13 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2015 |
BÁO CÁO
đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014; kết quả thực hiện những tháng đầu năm 2015
Chuẩn bị cho Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII, ngày 24/4/2015, Ủy ban Kinh tế đã tổ chức phiên họp toàn thể thẩm tra Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014. Trên cơ sở Báo cáo của Chính phủ, ý kiến đại biểu dự phiên họp; qua tổng hợp ý kiến các cơ quan của Quốc hội, một số Đoàn ĐBQH, UBND tỉnh, thành phố, các chuyên gia kinh tế, các nhà khoa học và qua giám sát, khảo sát thực tế, Ủy ban Kinh tế thay mặt Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội xin báo cáo một số nội dung như sau:
I. Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2014
Tại Kỳ họp thứ 8, Chính phủ đã báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 20141. Đến nay, đánh giá lại cho thấy nhiều chỉ tiêu đạt kết quả cao hơn so báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 82, các cân đối vĩ mô tiếp tục ổn định hơn3; nhiều công trình kết cấu hạ tầng được hoàn thành và khởi công mới. Sau thời gian tập trung chỉ đạo và triển khai việc giảm quá tải bệnh viện tuyến tỉnh, trung ương có bước cải thiện4; Chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ; Chủ quyền quốc gia được giữ vững, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; Công tác đối ngoại và hội nhập có nhiều tiến bộ.
Chương trình xây dựng nông thôn mới được chỉ đạo thực hiện quyết liệt, việc kiểm tra đôn đốc được tiến hành thường xuyên, đến cuối năm 2014 có 785 xã đạt 19 tiêu chí xã nông thôn mới chiếm tỷ lệ 8,8% và có 1285 xã đạt 15 đến 18 tiêu chí xã nông thôn mới chiếm 14,5% tổng số xã trong cả nước, đặc biệt có 02 đơn vị cấp huyện: huyện Xuân Lộc, thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai được công nhận cấp huyện có các xã hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới đầu tiên cả nước. Qua khảo sát thực tế tại một vài địa phương cho thấy, tại những xã, huyện đạt tiêu chí xây dựng nông thôn mới như Huyện Xuân Lộc thì tỉnh Đồng Nai có sự chuẩn bị trong thời gian dài, ngay đầu năm 2007 tỉnh có chủ trương về xây dựng nông thôn mới với mục tiêu "4 có" hay xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, trước khi có chủ trương xây dựng nông thôn mới, xã đã đạt 13/19 tiêu chí và khi thực hiện xây dựng nông thôn mới cho thấy địa phương nào Đảng, chính quyền, cả hệ thống chính trị vào cuộc quyết liệt, hỗ trợ để người dân tổ chức sản xuất hiệu quả và mang lại bầu không khí dân chủ, tạo sự đồng thuận cao cùng với sự hỗ trợ nhà nước, doanh nghiệp thì chương trình này tác động sự phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh ở các địa phương5.
Ủy ban Kinh tế nhận thấy, kết quả trên là do Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã kiên trì triển khai quyết liệt Kết luận Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, các Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và cả hệ thống chính trị đã tăng cường, thường xuyên tổ chức giám sát thực thi chính sách, pháp luật và sự nỗ lực rất lớn để vượt qua khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Đặc biệt ngay sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực, công tác cải cách thể chế được đẩy mạnh, nhiều đạo luật đã được Quốc hội thông qua như Luật đất đai (sửa đổi), Luật doanh nghiệp (sửa đổi), Luật đầu tư (sửa đổi), Luật đấu thầu (sửa đổi), Luật đầu tư công, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, Luật xây dựng (sửa đổi), Luật nhà ở (sửa đổi), Luật tiếp công dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế, Luật bảo hiểm xã hội (sửa đổi), Luật giáo dục nghề nghiệp... và từ khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đã góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp trong thủ tục thuế, hải quan, tiếp cận điện năng6... Bên cạnh đó, một số ý kiến cho rằng, đạt được kết quả trên còn có nguyên nhân tác động thuận lợi từ bên ngoài nhất là mặt bằng lãi suất các quốc gia ở mức thấp, tạo điều kiện tăng dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta; giá lương thực ổn định ở mức thấp, giá các mặt hàng đầu vào của sản xuất (nhất là dầu thô) giảm mạnh, đã tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế nước ta.
Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị báo cáo của Chính phủ cần phân tích, đánh giá cụ thể hơn về một số vấn đề như sau:
(1) Đánh giá tác động toàn diện hơn về công tác điều hành chỉ số giá tiêu dùng trong năm 2014; theo số ước thực hiện báo cáo tại Kỳ họp thứ 8 và số liệu kết quả thực tế có sự chênh lệch quá lớn: CPI kế hoạch Quốc hội giao tăng khoảng 7,0%, số báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ 8 tăng 4,5 - 4,6%, số liệu đánh giá lại chỉ tăng 1,84% so với tháng 12/2013 bởi công tác dự báo, điều hành CPI sẽ tác động mạnh đến kế hoạch đầu tư, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, người dân và tâm lý xã hội, tâm lý thị trường.
(2) Hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn còn gặp khó khăn, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động lớn7, tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động có lãi thấp8. Cổ phần hóa DNNN, thoái vốn nhà nước còn chậm9, chất lượng và hiệu quả tái cơ cấu chưa cải thiện nhiều. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng lên, khu vực FDI đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế10, nhất là đóng góp kim ngạch xuất khẩu tới 65% - 67% tổng kim ngạch xuất khẩu, chỉ riêng SamSung Việt Nam đã đóng góp xuất siêu 10 tỷ USD trong 2 năm: năm 2013 xuất siêu 3,9 tỷ USD, năm 2014 xuất siêu 6,1 tỷ USD đã tạo nguồn ngoại tệ dồi dào và góp phần tích cực ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, tác động của FDI trong việc nâng cao trình độ công nghệ cho nền kinh tế Việt Nam chưa rõ nét. Có ý kiến quan ngại rằng, nếu nguồn vốn FDI rút khỏi thị trường sẽ tác động xấu đến sự phát triển bền vững nền kinh tế nước ta.
(3) Một số ý kiến cho rằng, nợ xấu ngân hàng ổn định không có biến động lớn qua các năm; theo các báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, cuối năm 2011 nợ xấu chiếm 3,07%, cuối năm 2012 nợ xấu chiếm 4,08%, cuối năm 2013 nợ xấu chiếm 3,61%, cuối năm 2014 nợ xấu chiếm 3,25%, ngoài ra, đến ngày 21/12/2014, Công ty quản lý tài sản tổ chức tín dụng (VAMC) phát hành trái phiếu đặc biệt 79,3 nghìn tỷ đồng (xấp xĩ 2% dư nợ) mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng.
(4) Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, vẫn xảy ra tình trạng được mùa mất giá, khó khăn tiêu thụ sản phẩm... gây thiệt hại và bức xúc cho người dân. Mặc dù có nhiều nỗ lực, cố gắng trong việc ban hành các đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp nhưng vẫn còn lúng túng, vướng mắc trong việc tổ chức lại sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động. Việc nhân rộng các mô hình sản xuất, quản lý thành công trong thực tiễn, nhất là mô hình liên kết chuỗi giá trị đối với các sản phẩm nông nghiệp còn chậm.
Công tác quản lý, sử dụng đất đai ở các công ty nông, lâm nghiệp quốc doanh thời gian qua chưa thực sự chuyển biến. Quá trình cổ phần hóa chậm và cũng đã bộc lộ những điểm bất hợp lý. Tình trạng lấn chiếm, giao khoán sử dụng sai mục đích, đối tượng dẫn đến thất thoát, lãng phí tài nguyên đất còn khá phổ biến; hiệu quả sản xuất chưa cao, đóng góp nguồn thu cho xã hội và ngân sách nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực. Nguyên nhân chính là do mô hình quản lý, quản trị doanh nghiệp chưa hiệu quả; trách nhiệm quản lý của các công ty và chính quyền địa phương có nơi còn buông lỏng.
(5) Đời sống một bộ phận người lao động, hộ nghèo, gia đình chính sách còn nhiều khó khăn, còn có chênh lệch lớn về mức sống và an sinh giữa các vùng, nhóm dân cư, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới, kết quả giảm nghèo ở một số nơi chưa thực sự bền vững.
II. Tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2015
Sau 4 tháng đầu thực hiện, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực. Tăng trưởng GDP quý 1 có mức phục hồi rõ rệt, đạt 6,03%, mức tăng cao nhất so với cùng kỳ những năm gần đây11, số thu ngân sách đạt khá12. Tỷ lệ lạm phát kiểm soát ở mức thấp. Khu vực dịch vụ tăng trưởng khá, tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ đã loại trừ yếu tố giá tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước cho thấy các tín hiệu tích cực về tăng tổng cầu. Lãi suất tiếp tục giảm, đến nay điều chỉnh tỷ giá tăng 2% đã sử dụng hết mục tiêu định hướng cả năm 2015. An sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm. Hoạt động đối ngoại song phương, đa phương được đẩy mạnh13, quốc phòng, an ninh được đảm bảo, việc tổ chức Đại hội đồng Liên nghị viện thế giới (IPU-132) được các nhà lãnh đạo nghị viện các nước trên thế giới đánh giá thành công mọi mặt góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy ngoại giao nghị viện, nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội vẫn bộc lộ nhiều khó khăn, thách thức, đó là:
- Tăng trưởng chưa thực sự bền vững do tác động về giá dầu thô ở mức thấp. Tăng trưởng quý I do yếu tố chính là đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và khai khoáng (khai thác dầu thô, than đá)14, trong khi đó mức tăng trưởng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ở mức thấp, chỉ tăng 2,14% so với mức tăng 2,68% cùng kỳ năm trước. Một số chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, đóng tàu đánh bắt thủy sản, nhà ở cho người thu nhập thấp... được đánh giá là chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng, Nhà nước nhưng triển khai chậm chạp, gặp nhiều vướng mắc gây phiền hà và tác động không nhỏ đến phát triển KT-XH tại các vùng miền, địa phương, chưa đáp ứng được lòng mong mỏi của người dân15. Chất lượng nguồn lao động chưa cải thiện nhiều, vẫn thiếu hụt lao động có trình độ cao16.
Một số ý kiến cũng lo ngại về xu hướng nhập siêu lớn trong những tháng đầu năm 2015, 4 tháng đã nhập siêu 3 tỷ USD tương đương khoảng 6% tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn so với chỉ tiêu Quốc hội là 5%, trong đó có nguyên nhân do kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp, thủy sản giảm 15,8% so cùng kỳ, đồng thời lo ngại sự phụ thuộc lớn vào nhập khẩu một số thị trường17. Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam chịu sự tác động từ sự sụt giảm của giá cả hầu hết hàng hóa trên thế giới18, trong đó có cả những hàng hóa xuất khẩu mà Việt Nam có lợi thế19. Dự báo xuất khẩu năm 2015 sẽ khó khăn hơn, nhất là cầu bên ngoài còn yếu và nhiều nước giảm giá mạnh đồng tiền so với đồng USD, dẫn đến thâm hụt thương mại trong năm 2015 ở mức cao.
- Nợ công tiếp tục gia tăng với tốc độ cao, trong năm 2015, dự báo nghĩa vụ trả nợ ở mức cao20. Cổ phần hóa DNNN, thoái vốn nhà nước còn chậm nên khó có thể hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa giai đoạn 2014-2015. Chủ trương thực hiện liên kết vùng thiếu giải pháp cụ thể, thiếu các quy định pháp lý ràng buộc nên kết quả đạt được chưa cao, hiệu quả chưa rõ nét.
- Công tác bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an toàn thực phẩm, an toàn lao động, bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều khó khăn. Việc kiểm soát xe quá tải trọng làm hư hại cơ sở hạ tầng chưa triệt để, tình trạng tai nạn giao thông vẫn diễn biến phức tạp cả về số vụ và số người chết, người bị thương, nhất là trong các dịp nghỉ Tết, lễ dài ngày. Tình trạng đình công ở một số doanh nghiệp vẫn tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư, làm tác động xấu đến môi trường đầu tư; việc bức xúc của người dân sống tại khu vực Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 do bị ảnh hưởng ô nhiễm môi trường cho thấy chưa có cách tiếp cận tốt, kịp thời lắng nghe và giải quyết sớm kiến nghị chính đáng của người dân từ phía chính quyền và nhà đầu tư. Một số lễ hội có biểu hiện thiếu lành mạnh, kém văn minh gây phản cảm và đáng bị lên án từ dư luận xã hội21. Hạn hán, thiếu nước sản xuất, nước sinh hoạt tại một số địa phương ở khu vực Nam Trung Bộ diễn ra gay gắt.
Những tháng còn lại của năm 2015 dự báo tình hình diễn biến không thay đổi lớn so với dự báo đầu năm. Hầu hết các ý kiến tán thành báo cáo Chính phủ và cho rằng có nhiều khả năng sẽ thực hiện vượt mức tăng trưởng GDP 6,2% và thực hiện được các chỉ tiêu do Nghị quyết Quốc hội thông qua năm 2015. Để thực hiện kết quả cao nhất Nghị quyết Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 và góp phần hoàn thành kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2011-2015. Xin đề xuất Chính phủ cần tập trung những vấn đề như sau:
(1) Về tái cơ cấu nền kinh tế: phải hoàn thành phê duyệt các đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực và từng địa phương chậm nhất là cuối quý II năm 2015. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; coi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ khoa học, công nghệ cao là nhân tố quyết định để tăng năng suất lao động để đến cuối năm 2015 bảo đảm cơ bản hoàn thành cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển nhanh, bền vững, hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội theo Nghị quyết của Quốc hội. Giảm tỷ lệ vốn nhà nước trong các doanh nghiệp mà nhà nước không cần giữ chi phối; tăng cường giám sát tài chính, giám sát hoạt động và đổi mới đội ngũ lãnh đạo quản lý doanh nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Nghiên cứu, xem xét để trình Quốc hội ban hành Luật hoặc Nghị quyết riêng về cổ phần hóa DNNN để bảo đảm hiệu quả của quá trình cổ phần hóa, tăng cường giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Đối với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, cần tập trung giải quyết những vướng mắc hiện nay, trong đó cần xác định rõ những lợi thế và các loại sản phẩm của từng địa phương, nâng cao tính hiệu quả trong tổ chức thực hiện tái cơ cấu, giải pháp hàng đầu vẫn là công tác quy hoạch, kế hoạch sản xuất. Đồng thời quan tâm đến việc tổng kết, hoàn thiện mô hình quản lý, mô hình sản xuất nông nghiệp, phát triển mô hình HTX kiểu mới thông qua các mô hình này để nâng cao hiệu quả việc ứng dụng khoa học công nghệ, chế biến sâu, tăng năng suất lao động và giảm rủi ro thị trường. Đảm bảo đầu tư kết cấu cơ sở hạ tầng khu vực cửa khẩu như địa điểm kho chứa hàng hóa, kho sơ chế bảo quản nông sản, bãi đỗ phương tiện chở hàng hóa xuất nhập khẩu đáp ứng được yêu cầu, tăng cường năng lực thông quan tại các cửa khẩu giải quyết cơ bản bất cập xảy ra gần đây.
Đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo mang lại hiệu quả thực chất thể hiện qua tổ chức lại sản xuất hiệu quả hơn và nâng cao, cải thiện đời sống người dân. Đối với các xã, huyện, thị xã đã hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới cần có hướng dẫn trong việc nâng cao chất lượng các tiêu chí, bảo đảm phát triển bền vững.
Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp. Trong đó, tiếp tục rà soát, xác định rõ đối tượng quản lý, giao khoán, mô hình khoán, phương thức tổ chức sản xuất; cơ chế tài chính phù hợp với từng vùng, vai trò phối hợp quản lý đất đai của chính quyền địa phương; làm tốt công tác quy hoạch đất đai trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, giải quyết dứt điểm những tranh chấp đất đai, thúc đẩy quá trình sản xuất lớn nông nghiệp hàng hóa với công nghệ cao từ nguồn quỹ đất hiện có.
(2) Kiên trì thực hiện các nguyên tắc thị trường trong quản lý kinh tế tiến đến tiệm cận với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, nhằm thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, hình thành giá thị trường đối với mặt hàng xăng dầu, giá phí vận tải và giá dịch vụ khác. Đồng thời, phải xây dựng phương án ứng phó khi giá các mặt hàng như giá lương thực, giá dầu và giá các mặt hàng đầu vào của sản xuất tăng cao trở lại. Triển khai kịp thời các đạo luật mới ban hành, không để xảy ra tình trạng luật chờ nghị định, thông tư hướng dẫn và rà soát loại bỏ những nội dung không cần thiết nhất là điều kiện kinh doanh. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích các mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI, giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa; cải cách toàn diện nền hành chính công, trong đó có việc cải cách thủ tục hành chính, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước cần thay đổi một cách căn bản để phù hợp với yêu cầu quản lý kinh tế trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu nhằm tạo chuyển biến một cách căn bản, rõ nét hơn trong quá trình thực thi công vụ. Đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng; công khai, minh bạch quy trình, thủ tục hành chính và có chế tài xử lý để giảm chi phí không chính thức.
(3) Tổng kết, đánh giá việc thí điểm chủ trương xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực y tế, giáo dục và giao thông vận tải, có cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát chặt chẽ nhằm ngăn chặn tình trạng độc quyền, bảo đảm cho người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ với chi phí rẻ hơn, chất lượng tốt hơn. Việc nhượng quyền khai thác công trình giao thông đường bộ, đường sắt, cảng biển, cảng hàng không cần tính toán thận trọng, kỹ lưỡng, phải có tầm nhìn chiến lược và xây dựng đề án được các cấp thẩm quyền phê duyệt và không làm tăng gánh nặng chi phí dịch vụ quá sức chịu đựng của người dân, doanh nghiệp.
Ban hành chính sách và các giải pháp thúc đẩy liên kết các vùng trên cơ sở vừa khai thác lợi thế so sánh giữa các địa phương và tính liên kết phát triển bền vững lâu dài trong vùng. Có biện pháp khai thác kết cấu hạ tầng đã được đầu tư, nhất là đường cao tốc, bến cảng... bảo đảm tính kết nối, lan tỏa và hiệu quả các công trình đối với toàn vùng. Phân bổ đủ vốn đầu tư mới và duy tu, bảo dưỡng các công trình thủy lợi, hồ chứa nước ở khu vực Tây Nguyên, miền Trung, Nam Trung Bộ để chống hạn và lũ quét ở các khu vực này.
(4) Tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục tư pháp nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của chủ nợ, góp phần đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, nợ đọng xây dựng cơ bản theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ.
(5) Chủ động xây dựng cẩm nang tuyên truyền và hướng dẫn hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, nhất là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia ký kết với các quốc gia. Tăng cường vai trò của các bộ, ngành trong việc hỗ trợ doanh nghiệp; phát huy vai trò của hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề để giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tiếp cận, sẵn sàng tận dụng cơ hội và khắc phục các thách thức trong quá trình hội nhập.
(6) Đảm bảo nguồn tài chính thực hiện chính sách người có công, các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm an toàn giao thông, kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời theo pháp luật đối với các doanh nghiệp vận tải có xe chở quá tải trọng làm hư hại cơ sở hạ tầng giao thông, các trường hợp vi phạm quy định trong thực thi an toàn lao động, bảo vệ tài nguyên rừng, tài nguyên nước.
(7) Tập trung đào tạo cung cấp nguồn nhân lực đạt trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, thích ứng với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và gắn tái cơ cấu nền kinh tế. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm số lao động khu vực phi chính thức, lao động nông nghiệp, phân công hợp lý công tác quản lý nhà nước về dạy nghề để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Tiếp tục thực hiện giảm quá tải bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh.
(8) Đảm bảo quốc phòng, an ninh, đặc biệt là tại các địa bàn chiến lược như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và vùng biển đảo trong mọi tình huống.
Trên đây là Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, xin kính trình Quốc hội./.
Nơi nhận: - Các vị ĐBQH; - Lưu: HC, KT. - Epas: 32265 |
TM. ỦY BAN KINH TẾ CHỦ NHIỆM (Đã ký) Nguyễn Văn Giàu |