Hiện nay, Việt Nam có 4 ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại do nhà nước giữ cổ phần chi phối ( sau đây gọi tắt là ngân hàng thương mại nhà nước – NHTMNN). Để đảm bảo “nâng cao vai trò, vị trí chi phối của các NHTM NN; bảo đảm các NHTMNN thật sự là lực lượng chủ lực, chủ đạo của hệ thống các TCTD, có quy mô lớn, hoạt động an toàn, hiệu quả đồng thời có đủ năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế” theo định hướng tại Đề án 2541, vấn đề nâng cao hiệu quả vai trò chủ sở hữu của Nhà nước tại các ngân hàng này có ý nghĩa rất quan trọng. Bài viết này đề cập đến khuôn khổ pháp lý, thực trạng giám sát phần vốn nhà nước tại các NHTMNN thông qua người đại diện đồng thời đưa ra một số gợi ý nhằm nâng cao vai trò của người đại diện vốn nhà nước tại các ngân hàng này.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) được giao nhiệm vụ là đại diện cho Chính phủ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước tại các NHTMNN tại khoản 20 Điều 2 của Nghị định 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008. Theo đó, một trong những nhiệm vụ của NHNN là “Thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước”. Sau đó, khi Luật NHNN 2010 ra đời, nhiệm vụ này được tiếp tục quy định tại Khoản 4 Điều 10. Ngoài ra, Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 26/12/20132 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước cũng nêu rõ quyền thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước của NHNN tại Khoản 28 Điều 2.
Để thực hiện tốt trách nhiệm đại diện vốn của mình, NHNN, đã ban hành Quyết định 931/QĐ-NHNN “Quy chế về người quản lý, người đại diện vốn Nhà nước tại NHTMNN và NHTMCP do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ” ngày 15/5/2014.
Có thể nói, các tiêu chuẩn, điều kiện, nghĩa vụ, trách nhiệm, đánh giá người đại diện, các mẫu biểu báo cáo được quy định khá rõ trong Quyết định 931. Cụ thể:
- Những tiêu chuẩn và điều kiện khi cử người đại diện được quy định tại Khoản 1 Điều 7: Là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam; Có đủ tiêu chuẩn, điều kiện của chức danh dự kiến đảm nhiệm theo quy định tại Điều 50 Luật các TCTD; Tuân thủ các quy định tại Điều 34 Luật các TCTD; Có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao; Hiểu biết pháp luật, có ý thức chấp hành pháp luật; Có kinh nghiệm công tác 03 năm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Người đại diện dự kiến đảm nhiệm chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị, ưu tiên người đã trải qua công tác quản lý Nhà nước ít nhất 01 năm tại NHNN từ cấp Vụ trưởng hoặc tương đương trở lên; Người đại diện dự kiến đảm nhiệm chức danh Tổng Giám đốc, thành viên HĐQT ưu tiên người đã trải qua công tác quản lý nhà nước ít nhất 01 năm tại NHNN từ cấp Phó Vụ trưởng hoặc tương đương trở lên; Người đại diện dự kiến đảm nhiệm chức danh Tổng giám đốc phải là thành viên HĐQT.
- Khoản 1, 3 và 4 của Điều 14 quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của người đại diện với nội dung chính là: Thay mặt NHNN theo dõi, giám sát tình hình, kết quả hoạt động tài chính tại NHTMCP do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ theo quy định của pháp luật, điều lệ ngân hàng; Thường xuyên theo dõi, thu thập thông tin về tình hình hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh, giám sát tình hình tài chính, gửi các báo cáo định kỳ (quý, năm), báo cáo bất thường và báo cáo đột xuất theo yêu cầu của NHNN và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; Báo cáo kịp thời, đề xuất những giải pháp đối với NHNN về tình hình doanh nghiệp hoạt động thua lỗ; không đảm bảo khả năng thanh toán; đầu tư không đúng mục tiêu chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; không hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ do NHNN giao hoặc những trường hợp sai phạm khác.
- Việc đánh giá người đại diện tại các NHTMNN được quy định tại Khoản 1, Điều 23. Theo đó, người đại diện sẽ được đánh giá theo 4 nội dung: Việc tuân thủ pháp luật, việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các quy định của ngành về công tác cán bộ, việc thực hiện vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của người đại diện, sự phối hợp với Hội đồng quản trị (HĐQT) trong việc thực hiện Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông; Kết quả thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao; Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong, lề lối làm việc; Trình độ, năng lực quản lý.
Các NHTM là các doanh nghiệp đặc biệt nên hoạt động của các ngân hàng cũng có những “đặc thù” khác với các công ty như: (i) Sự không rõ ràng của một số nguồn thông tin tài chính khiến khó đánh giá chất lượng hoạt động và rủi ro; (ii) Sự đa dạng về các đối tượng thụ hưởng nên khó quản lý; (iii) Độ rủi ro lớn, nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi ro trong hoạt động là rất cao và rất dễ dẫn đến phá sản; (iv) Chịu sự quản lý chặt chẽ với nhiều quy định khắt khe và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ thống, nếu đổ vỡ có thể gây ra tổn thất lớn và trên phạm vi rộng. Tuy nhiên, Quyết định 931 mới chỉ đề cập đến những điều kiện chung để người đại diện đảm trách được các công việc được giao mà chưa có những quy định riêng liên quan đến điều kiện về năng lực và kỹ năng của người lãnh đạo gắn với tính đặc thù trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Ngoài ra, các tiêu chí đánh giá người đại diện chủ yếu vẫn nặng về định tính như các tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức, viên chức thường thấy. Các tiêu chí này rất khó định lượng nên rất dễ dẫn đến việc đánh giá mang tính cảm tính, hiệu quả đánh giá sẽ không cao.
Trên thế giới hiện nay, việc giám sát vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các NHTM NN nói riêng được thực hiện theo 3 phương thức chính là: (i) giám sát trực tiếp thông qua người đại diện chủ sở hữu; (ii) giám sát thông qua hệ thống báo cáo và (iii) giám sát thông qua tổ chức độc lập, trong đó hai phương thức đầu được sử dụng nhiều hơn. NHNN cũng sử dụng đồng thời 2 phương thức: (i) giám sát trực tiếp thông qua người đại diện chủ sở hữu tại NHTM; (ii) Giám sát gián tiếp thông qua báo cáo.
NHNN áp dụng phương thức giám sát trực tiếp bằng việc cử người đại diện đối với phần vốn sở hữu của nhà nước tại các NHTM. Hình thức cử người đại diện tại các NHTM của NHNN khá giống nhau đó là sắp xếp người đại diện nắm giữ các vị trí then chốt trong NHTM gồm Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc và 1 Ủy viên HĐQT, đồng thời chia nhỏ phần vốn Nhà nước tại mỗi NHTM cho cả 3 người đại diện để tránh quyền lực tập trung vào một người và để họ có thể giám sát lẫn nhau. Điều đáng chú ý là trong số 3 người đại diện thì có 2 người (Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc) là người đại diện chuyên trách thay mặt NHNN để điều hành hoạt động kinh doanh của ngân hàng và một người (Ủy viên HĐQT) là người đại diện kiêm nhiệm, không tham gia điều hành. Thông thường, người đại diện kiêm nhiệm là một cán bộ quản lý cấp vụ đương nhiệm tại NHNN. Với cách thức như vậy những người được cử làm đại diện sẽ hỗ trợ và phản biện cho nhau một cách tốt hơn. Tuy nhiên, có lẽ do người đại diện kiêm nhiệm chỉ làm việc bán thời gian và lại quá bận rộn với trách nhiệm quản lý cấp Vụ tại NHNN, không có điều kiện tìm hiểu sâu về hoạt động kinh doanh của ngân hàng nên chưa phát huy được hết vai trò của mình đối với sự phát triển của ngân hàng.
NHNN áp dụng phương thức giám sát thông qua báo cáo định kỳ của các ngân hàng với chế độ báo cáo được quy định rõ ràng về các loại báo cáo phải nộp, hình thức, nội dung, thời hạn nộp báo cáo cho NHNN và thời hạn công khai báo cáo tài chính của ngân hàng.
Suy đến cùng, mục tiêu của việc giám sát đối với phần vốn nhà nước tại các NHTM NN là nhằm đánh giá được thực trạng tình hình tài chính của ngân hàng, những nguy cơ, rủi ro về mất vốn. Từ đó, đưa ra được những cảnh báo từ phía cơ quan quản lý nhà nước, những biện pháp từ chủ sở hữu và những hoạt động, giải pháp ngăn ngừa của ngân hàng để đảm bảo tình hình tài chính lành mạnh. Vì vậy, để nâng cao vai trò của người đại diện vốn nhà nước tại các NHTM NN cần chú ý một số điểm sau:
- Rà soát, chỉnh sửa, bổ sung Quyết định 931 theo hướng xây dựng một bộ tiêu chí chi tiết liên quan đến tiêu chuẩn, điều kiện cử người đại diện cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm của người đại diện, đánh giá người đại diện dựa vào công việc cụ thể mà họ đảm nhận tại NHTM. Bộ tiêu chí được xây dựng phải phù hợp với đặc thù hoạt động kinh doanh ngân hàng. Có như vậy, việc lựa chọn, bổ nhiệm, đánh giá người đại diện mới đạt hiệu quả cao, đúng người, đúng việc.
- Như đã đề cập ở trên về những đặc thù trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nên quản trị rủi ro là một công tác vô cùng quan trọng mà bất cứ ngân hàng nào cũng phải quan tâm. Vì vậy, ngoài các mẫu biểu hướng dẫn công tác báo cáo mà những người đại diện vốn phải báo cáo định kỳ hàng quý và hàng năm theo hướng dẫn tại Thông tư 21/2014/TT-BTC3 ngày 14/2/2014 của Bộ Tài chính về quy chế hoạt động của người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp thì nên xây dựng thêm mẫu biểu hướng dẫn báo cáo về công tác quản trị rủi ro tại ngân hàng để công tác giám sát, đánh giá người đại diện mang tính toàn diện và đạt hiệu quả cao hơn.
- Để những người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại các NHTMNN hỗ trợ và phản biện cho nhau một cách tốt hơn nên thay đổi hình thức người đại diện kiêm nhiệm sang hình thức biệt phái người đại diện sang làm việc có thời hạn tại các NHTMNN và được hưởng quyền lợi của thành viên hội đồng quản trị của ngân hàng. Hình thức biệt phái và chế độ quyền lợi này sẽ khuyến khích người đại diện làm việc hiệu quả và có trách nhiệm hơn.
- Đổi mới cơ chế lương, thưởng, phạt đối người đại diện theo hướng gắn công sức họ bỏ ra cho ngân hàng và gắn với kết quả kinh doanh của ngân hàng. Có như vậy mới tạo được động lực cho người đại diện phát huy sự sáng tạo và cống hiến hết sức mình, đồng thời cũng gắn liền trách nhiệm của họ với hiệu quả kinh doanh của đơn vị mình được cử làm đại diện. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, chế độ đánh giá người đại diện tại NHTMNN được thực hiện hàng năm và là cơ sở để quyết định thưởng phạt cho người đại diện. Đánh giá thường niên và nhiệm kỳ dựa trên cơ sở hợp đồng trách nhiệm và quyền lợi được ký kết giữa người đại diện và SASAC (cơ quan đại diện chủ sở hữu, trực thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc). Chỉ tiêu đánh giá cơ bản bao gồm tổng lợi nhuận và giá trị kinh tế tăng thêm, có xét đến các yếu tố điều kiện lịch sử và ưu thế của ngân hàng. Như vậy, việc giám sát người đại diện vốn thông qua kết quả làm việc của họ có thể mang lại hiệu quả hơn so với việc giám sát trực tiếp bằng các quy định hành chính.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 – 2015” ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012
2. Thông tư 21/2014/TT-BTC “Ban hàng quy chế hoạt động của người đại diện theo ủy quyền đôi với phần vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp” ngày 14/2/2014
3. Đặng Thị Thu Hằng (2014), Vai trò sở hữu của ngân hàng nhà nước tại các ngân hàng thương mại mà nhà nước nắm cổ phần chi phối, DTNH.17/2013
ThS. Nguyễn Thị Mai Phượng
Phòng Nghiên cứu phát triển các định chế tài chính
1 Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 – 2015” ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012
2 Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 thay thế cho Nghị định 96/2008/NĐ-CP
3 Thông tư 21/2014/TT-BTC “Ban hành quy chế hoạt động của người đại diện theo ủy quyền đôi với phần vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp” ngày 14/2/2014