Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhận được 02 kiến nghị của cử tri tỉnh Long An thuộc thẩm quyền giải quyết, xử lý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) do Ban Dân nguyện chuyển đến Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII. NHNN trả lời kiến nghị của cử tri như sau:
1. Kiến nghị 1: “Đề nghị xem xét lại việc cho phép hàng loạt các Ngân hàng cổ phần hoạt động dẫn đến nợ xấu lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng. Giải pháp và lộ trình xử lý nợ xấu hiện nay mang lại hiệu quả như thế nào chưa rõ. Đề nghị Chính phủ tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để sớm ổn định chính sách tiền tệ.”
Trả lời:
1. Về việc cho phép hàng loạt ngân hàng cổ phần hoạt động dẫn đến nợ xấu lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng:
Nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) phát sinh do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có nguyên nhân từ việc cho phép thành lập và hoạt động nhiều ngân hàng thương mại cổ phần trong thời gian trước đây khi tín dụng tăng trưởng nhanh và năng lực quản trị, điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần còn nhiều hạn chế.
Thời gian qua đặc biệt là giai đoạn triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD và Đề án xử lý nợ xấu của các TCTD, bên cạnh việc chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp tái cơ cấu và xử lý nợ xấu, NHNN đã tạm dừng cấp phép thành lập ngân hàng mới để tập trung củng cố, chấn chỉnh các ngân hàng hiện có. Đồng thời, chỉ đạo việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD trên nguyên tắc tự nguyện và đúng quy định của pháp luật. Nhờ đó, số lượng các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã giảm dần, đặc biệt là các TCTD yếu kém. Từ năm 2011 đến 15/6/2015, hệ thống TCTD đã giảm 15 TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
2. Về hiệu quả của các giải pháp, lộ trình xử lý nợ xấu:
Căn cứ Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD Việt Nam, Đề án thành lập Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) đã được Bộ Chính trị, Chính phủ thông qua và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 31/5/2013, trong thời gian qua, ngành ngân hàng đã triển khai đồng bộ và tích cực các giải pháp xử lý nợ xấu, hạn chế, ngăn ngừa nợ xấu phát sinh với quyết tâm cao nhất dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương. Cụ thể:
- Tập trung hoàn thiện khung pháp lý, quy định an toàn về cấp tín dụng và mua, bán, xử lý nợ xấu như ban hành chuẩn mực mới chặt chẽ hơn về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro nhằm tạo cơ sở xác định, phản ánh hợp lý chất lượng tín dụng; trình Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC và Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 31/3/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP; Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/9/2013 quy định về mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC; Thông tư số 01/TTLT- NHNN-BXD-BTP-BTNMT hướng dẫn thủ tục thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai; Thông tư số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 16/6/2014 hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm...
- Tăng cường công tác thanh tra, giám sát chất lượng tín dụng và việc chấp hành các quy định của pháp luật về tín dụng, phân loại nợ, trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro nhằm làm rõ thực trạng nợ xấu và có biện pháp xử lý phù hợp.
- Chỉ đạo các TCTD tích cực trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu; đôn đốc thu hồi nợ; xử lý tài sản bảo đảm; tập trung bán nợ xấu cho VAMC; tiết giảm tối đa chi phí, hạn chế tăng lương, thưởng; giảm mức chi cổ tức hàng năm để tạo nguồn tài chính xử lý nợ xấu; tiếp tục hỗ trợ vốn cho khách hàng vay với lãi suất hợp lý để khắc phục khó khăn, phục hồi sản xuất kinh doanh, từ đó có nguồn thu để trả nợ ngân hàng.
- Các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh các biện pháp tái cơ cấu doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh và tiếp tục phát triển; đồng thời ban hành các cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc xử lý nợ xấu, kích thích thị trường bất động sản phục hồi, từ đó góp phần nâng cao chất lượng tín dụng, từng bước giảm nợ xấu.
Nhờ sự chủ động, nỗ lực và quyết tâm của ngành Ngân hàng, nợ xấu đã được kiềm chế và xử lý một khối lượng đáng kể. Từ năm 2012 đến nay, hệ thống các TCTD đã xử lý được 70% tổng số nợ xấu được xác định tại thời điểm tháng 9/2012, đưa tỷ lệ nợ xấu theo số liệu giám sát của NHNN từ mức 17,21% tại thời điểm tháng 9/2012 về mức 3,81% vào thời điểm tháng 3/2015. Đây là kết quả rất đáng ghi nhận trong bối cảnh không dùng tiền từ ngân sách nhà nước và nền kinh tế còn nhiều khó khăn. Qua đó, đã tạo điều kiện giúp các TCTD cải thiện nguồn vốn, khả năng chi trả và mở rộng tín dụng cho nền kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ; Giảm mạnh mặt bằng lãi suất cho vay xuống mức chỉ bằng khoảng 40% lãi suất của nửa cuối năm 2011, thấp hơn mức lãi suất của năm 2005-2006; Thúc đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại các TCTD...
Mặc dù Chính phủ và NHNN đã có rất nhiều nỗ lực nhưng công tác xử lý nợ xấu của các TCTD vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, như: (i) Thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ TCTD xử lý nợ xấu, các tài sản bảo đảm tiền vay; (ii) Trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm, tố tụng và thi hành án phức tạp, kéo dài gây tốn kém thời gian và chi phí cho TCTD trong quá trình xử lý nợ xấu; (iii) Thị trường mua bán nợ chưa phát triển gây khó khăn cho việc mua bán nợ và tài sản bảo đảm; (iv) Khung pháp lý về xử lý nợ, tài sản bảo đảm còn nhiều bất cập, việc sửa đổi các Luật liên quan cần nhiều thời gian, ảnh hưởng lớn đến tiến độ, mục tiêu xử lý nợ xấu; (v) Khách hàng vay chưa chủ động cơ cấu lại hoạt động, tăng cường năng lực tài chính, quản trị và tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh để trả nợ ngân hàng; (vi) Việc triển khai tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mới chỉ đạt được kết quả bước đầu, nhiều vấn đề tài chính và nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước chưa được đẩy mạnh xử lý...
Vì vậy, để xử lý vấn đề nợ xấu một cách triệt để, bên cạnh nỗ lực của ngành Ngân hàng như đã triển khai trong thời gian qua, cần có sự vào cuộc quyết liệt hơn của cả hệ thống chính trị trong việc hỗ trợ nguồn lực, hoàn thiện khung pháp lý, tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển và thúc đẩy thị trường bất động sản, thị trường tài chính phát triển, hỗ trợ các TCTD thu hồi nợ, tài sản, kể cả đẩy nhanh việc điều tra, xét xử và thi hành các vụ án liên quan đến ngân hàng.
Với việc tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp đã thực hiện trong thời gian qua, sự nỗ lực của ngành ngân hàng và sự hỗ trợ tích cực của cả hệ thống chính trị, NHNN tin tưởng mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu về mức dưới 3% đến cuối năm 2015 theo lộ trình là khả thi.
2. Kiến nghị 2: “Đề nghị ngành ngân hàng nghiên cứu đơn giản hóa thủ tục hành chính trong vay vốn để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận nguồn vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất.”
Trả lời:
Nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng, đồng thời, thực hiện chủ trương của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, thời gian qua NHNN đã chủ động ban hành nhiều văn bản, quyết liệt chỉ đạo các TCTD thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến điều kiện và thủ tục vay vốn theo hướng đơn giản, thông thoáng, giảm bớt phiền hà cho khách hàng trên cơ sở đảm bảo an toàn vốn vay và phù hợp với quy định của pháp luật, như:
- Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; xem xét miễn giảm lãi vốn vay trên cơ sở đánh giá các biện pháp khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng vay; xem xét, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng đã ký trước đây xuống mức lãi suất cho vay hiện hành...
- Ban hành văn bản số 1778/NHNN-VP ngày 24/03/2015 chỉ đạo các ngân hàng thương mại tăng cường đổi mới, cải tiến các quy trình, thủ tục cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng để tăng cường công tác quản lý và nâng cao chất lượng dịch vụ trong các lĩnh vực hoạt động ngân hàng phù hợp với chủ trương cải cách hành chính.
- Trình Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (có hiệu lực từ ngày 25/7/2015) thay thế Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010. Nghị định này sẽ giải quyết được những tồn tại, bất cập trong thực tế triển khai Nghị định 41/2010/NĐ-CP và tạo điều kiện cho các đối tượng khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tiếp cận được nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần quan trọng giúp lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phát triển ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống người nông dân. Theo đó: (i) Điều chỉnh tăng mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản tối đa1; (ii) Mở rộng đối tượng được cho vay không có bảo đảm bằng tài sản2; các đối tượng khách hàng được vay không có tài sản bảo đảm chỉ phải nộp TCTD giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đối với các đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp do Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận; (iii) Bổ sung phương thức cho vay lưu vụ: TCTD và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá thời gian của 02 (hai) chu kỳ sản xuất liên tiếp; theo đó, khách hàng vay không phải làm thủ tục vay vốn lại sau khi hết một chu kỳ sản xuất.
- Ban hành Thông tư số 05/2015/TT-NHNN ngày 04/5/2015 hướng dẫn các TCTD phối hợp với Quỹ Bảo lãnh tín dụng trong cho vay có bảo lãnh của Quỹ Bảo lãnh tín dụng theo quy định tại Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg ngày 15/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa được Quỹ Bảo lãnh tín dụng bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của TCTD, thì doanh nghiệp không phải làm thủ tục về thế chấp, cầm cố tài sản để bảo đảm tiền vay với TCTD.
- Tổ chức các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại các địa phương nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên đã góp phần khơi thông nguồn vốn tín dụng, hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp, người dân trong việc tiếp cận vốn. Trên thực tế, các doanh nghiệp, khách hàng có nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và có năng lực tài chính tốt, dự án, phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, khả thi đã tiếp cận vốn dễ dàng hơn với lãi suất hợp lý. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng, chủ yếu là do năng lực tài chính yếu kém, không chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh đề nghị vay vốn; nợ phải trả tồn đọng lớn chưa có biện pháp xử lý... Bên cạnh đó, do hàng tồn kho chậm tiêu thụ, khó khăn về thị trường đầu ra khi sức cầu trong và ngoài nước còn thấp nên vẫn có những doanh nghiệp dù đáp ứng đủ điều kiện vay vốn nhưng chưa có nhu cầu vay vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Vì vậy, để tăng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng, ngoài những giải pháp từ phía NHNN và các TCTD, bản thân doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động của mình, nâng cao khả năng tài chính, tạo niềm tin để các TCTD yên tâm cấp tín dụng. Đồng thời, cần có sự phối hợp đồng bộ của các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các giải pháp về tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ, như: rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thuế, đầu tư xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thế chấp và cầm cố tài sản đăng ký giao dịch bảo đảm, kiểm toán báo cáo tài chính… thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh...
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục bám sát Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội để tiếp tục thực hiện các giải pháp về hoạt động ngân hàng để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hiệu quả được vay vốn ngân hàng thuận lợi, góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trên đây là ý kiến trả lời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về nội dung kiến nghị của cử tri tỉnh Long An. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trân trọng cảm ơn và rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ của cử tri đối với hoạt động ngân hàng./.