NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Số: 23/BC-NHNN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày 26 tháng 3 năm 2015 |
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ KẾT HỢP PHÁT TRIỂN
KINH TẾ GẮN VỚI QUỐC PHÒNG, AN NINH TRÊN ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC,
TRỌNG TÂM LÀ CÁC ĐỊA BÀN TÂY BẮC, TÂY NGUYÊN, TÂY NAM BỘ
TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG GIAI ĐOẠN 2011-2014
Thực hiện Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2015 về chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về kết hợp phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn chiến lược (trọng tâm là các địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ)”, căn cứ chức năng, nhiệm vụ được Quốc Hội, Chính phủ giao, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xin báo cáo như sau:
Phần I
KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG TRÊN CÁC ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC
VÀ ĐỊA BÀN TÂY BẮC, TÂY NGUYÊN, TÂY NAM BỘ
1. Tây Bắc
Vùng Tây Bắc bao gồm 12 tỉnh1 chiếm gần 1/3 diện tích cả nước với trên 9,8 triệu dân, tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Tây Bắc là vùng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có nhiều tiềm năng về đất đai, khoáng sản với các mỏ có giá trị như apatit, sắt, đá vôi, đất hiếm, đa kim, đa khoáng… và thuỷ điện. Đây vừa là thế mạnh, vừa là cơ sở quan trọng để phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản của vùng và cả nước.
Với 9 tỉnh biên giới giáp Trung Quốc, Tây Bắc được coi là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng. Vì vậy, xây dựng vùng Tây Bắc vững mạnh toàn diện là nhiệm vụ quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh của cả nước. Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành cho Tây Bắc sự quan tâm sâu sắc với nhiều chính sách ưu đãi về phát triển KT-XH, xoá đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, so với cả nước, sự phát triển của khu vực Tây bắc vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của vùng và cần phải thu hút đầu tư phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
2. Tây Nguyên
Tây Nguyên là cao nguyên nằm ở khu vực Miền Trung Việt Nam, bao gồm 5 tỉnh2, có vị trí chiến lược, phía Tây giáp Lào, Campuchia, phía Bắc và phía Đông giáp các tỉnh Duyên hải Miền Trung, phía Nam giáp các tỉnh Đông Nam Bộ. Tây Nguyên sở hữu trên 2 triệu ha đất bazan màu mỡ, phù hợp với các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao, đặc biệt là cây cà phê (đóng góp khoảng 30% GDP tại các tỉnh Tây Nguyên).
Tây Nguyên là nơi sinh sống gắn bó của nhiều dân tộc anh em, vì vậy trong những năm qua Đảng, Nhà nước rất quan tâm đầu tư cho việc phát huy những tiềm năng, lợi thế của vùng để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc và đảm bảo giữ vững an ninh quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên. Theo đó, xác định xây dựng Tây Nguyên thành vùng kinh tế trọng điểm, có lực lượng sản xuất phát triển ở mức trung bình của cả nước, có tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vững chắc; nâng cao đời sống văn hóa, trình độ dân trí của đồng bào dân tộc; sớm đưa nông thôn Tây Nguyên thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, phát triển bền vững...
3. Tây Nam Bộ
Khu vực Tây Nam Bộ3 hay còn gọi là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được thiên nhiên ưu đãi về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu với bờ biển dài và phong phú về hải sản, cùng với nguồn nước dồi dào là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm có giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp chiếm tỷ trọng khoảng 40% của cả nước, đồng thời là vùng sản xuất thủy sản và cây ăn trái các loại lớn nhất nước ta.
Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, theo đó, nêu ra mục tiêu xây dựng và phát triển vùng ĐBSCL trở thành vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ cho nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng cao, bền vững; phát triển kinh tế biển và xây dựng ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia đồng thời xây dựng cơ chế liên kết vùng theo hướng khai thác tối đa mọi tiềm năng, thế mạnh của từng tỉnh, thành phố trong Vùng. Tăng cường hợp tác phát triển thương mại với các khu vực khác, với nước bạn Campuchia và các nước thuộc Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (Thái Lan, Lào, Myanma...).
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế tại các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vẫn chủ yếu dựa trên việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, việc phát triển sản xuất còn manh mún, thiếu liên kết cùng với chi phí đầu vào tăng trong khi các sản phẩm nông nghiệp phải cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế sẽ là những thách thức lớn các địa phương phải đối mặt trong thời gian sắp tới.
Phần II
KẾT QUẢ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI GẮN VỚI BẢO ĐẢM QUỐC PHÒNG, AN NINH TRÊN ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC, TRỌNG TÂM LÀ ĐỊA BÀN TÂY BẮC, TÂY NGUYÊN
VÀ TÂY NAM BỘ GIAI ĐOẠN 2011-2014
I. Triển khai thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh trong ngành Ngân hàng giai đoạn 2011-2014
Thực hiện chủ trương của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng quyết liệt, chủ động, linh hoạt và kịp thời, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tái cơ cấu nền kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Cụ thể:
- Điều hành quyết liệt, chủ động, linh hoạt các công cụ CSTT phù hợp với diễn biến vĩ mô, tiền tệ trong từng thời kỳ, góp phần quan trọng thực hiện thành công mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát và đưa lạm phát về mức một con số, ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo thanh khoản và giảm nhanh mặt bằng lãi suất cho vay, tạo tiền đề tăng trưởng kinh tế bền vững. Nhờ đó, kỷ luật, kỷ cương thị trường được củng cố vững chắc, thanh khoản của toàn hệ thống từng bước được ổn định và đảm bảo an toàn; thị trường tiền tệ ổn định và thông suốt; lạm phát từ mức 18,13% năm 2011 xuống 6,81% năm 2012, 6,04% năm 2013 và 1,84% năm 2014; Mặt bằng lãi suất đã giảm mạnh theo mục tiêu đề ra của NHNN, đến nay chỉ bằng khoảng 40% lãi suất vào nửa cuối năm 2011 và thấp hơn mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006.
- Kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với quy mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Chất lượng tăng trưởng tín dụng được cải thiện rõ rệt và phục vụ đắc lực cho mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế. Dù tín dụng giai đoạn 2011-2014 tăng bình quân khoảng 12,6%/năm, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng bình quân 33,3%/năm của giai đoạn 2006-2010, nhưng tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2014 vẫn đạt mức bình quân khoảng 5,7%/năm, không thấp hơn nhiều so với mức bình quân 7% của giai đoạn 2006-2010.
Cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là 5 lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, lĩnh vực xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa; công nghiệp ưu tiên phát triển; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đến cuối năm 2014, tín dụng nông nghiệp nông thôn tăng 49,21% so với cuối năm 2011; tín dụng xuất khẩu tăng 37,4%; tín dụng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 13,35%; tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp ưu tiên phát triển tăng 23,6%; tín dụng đối với lĩnh vực doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 60,63% so với cuối năm 2012.
- Điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt, đồng bộ với chính sách lãi suất và các công cụ CSTT, quản lý ngoại hối và công tác truyền thông, góp phần nâng cao niềm tin vào đồng Việt Nam. Nhờ đó, tỷ giá và thị trường ngoại hối từ năm 2011 đến nay cơ bản ổn định. Tình trạng đô la hóa giảm mạnh, ngoại tệ tập trung chủ yếu vào hệ thống ngân hàng và NHNN đã mua được số lượng ngoại tệ lớn, đưa mức dự trữ ngoại hối Nhà nước lên cao nhất từ trước tới nay, góp phần tăng tiềm lực tài chính và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Vị thế và lòng tin vào VND ngày càng được củng cố.
- Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đổi mới căn bản thị trường vàng, từng bước xóa bỏ tình trạng vàng hóa trong nền kinh tế: Kể từ khi khuôn khổ pháp lý mới về quản lý hoạt động kinh doanh vàng mà nòng cốt là Nghị định 24/2012/NĐ-CP được ban hành, thị trường vàng đã được tổ chức, sắp xếp lại một cách căn bản; trật tự, kỷ cương trên thị trường đã được xác lập, tạo tiền đề phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của người dân. Việc NHNN triển khai quy định về tổ chức sản xuất vàng miếng và xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, can thiệp bình ổn thị trường đã phát huy tác dụng, ảnh hưởng của biến động giá vàng đến tỷ giá, lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô đã được ngăn chặn. Nhu cầu vàng miếng trong nền kinh tế đến nay đã giảm mạnh, tình trạng “vàng hóa” trong nền kinh tế đã được đẩy lùi, một phần nguồn vốn nhàn rỗi bằng vàng trong nền kinh tế đã được chuyển hóa thành tiền phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
- Chỉ đạo xây dựng và triển khai mạnh mẽ nhưng thận trọng Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD, xử lý nợ xấu và đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thanh tra, giám sát ngân hàng:
+ Triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD và Đề án xử lý nợ xấu giai đoạn 2011-2015. Nhờ đó, an toàn của hệ thống TCTD được bảo đảm, nguy cơ gây đổ vỡ, mất an toàn hệ thống đã được đẩy lùi, khả năng chi trả của các TCTD được cải thiện, tài sản của Nhà nước và tiền gửi của nhân dân được đảm bảo an toàn; an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, các TCTD yếu kém đã được xử lý một bước cơ bản; người dân tin tưởng vào chủ trương, chính sách cơ cấu lại các TCTD của Đảng và Nhà nước; năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh của hệ thống các TCTD đã được cải thiện rõ rệt.
Hệ thống các TCTD đã xử lý được 53,6% nợ xấu thông qua nhiều giải pháp tự xử lý của TCTD4 và VAMC mua lại nợ. Mô hình hoạt động của VAMC bước đầu phát huy hiệu quả tích cực trong việc xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD và hỗ trợ khó khăn cho khách hàng, khẳng định tính đúng đắn của việc lựa chọn công cụ này trong việc xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD.
+ Đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu quả thanh tra, giám sát ngân hàng: Từ năm 2011 đến nay, công tác thanh tra được tiến hành tập trung, thống nhất về mục tiêu, định hướng, đối tượng, nội dung thanh tra. Qua đó đã đánh giá một cách thực chất hơn chất lượng, hiệu quả và mức độ an toàn của TCTD để từ đó có giải pháp tái cơ cấu phù hợp với điều kiện cụ thể của từng TCTD.
Công tác giám sát hoạt động hệ thống ngân hàng cũng đã được đổi mới mạnh mẽ, thường xuyên và kịp thời theo hướng mở rộng đối tượng, nội dung giám sát, tăng tần suất giám sát để đưa ra những cảnh báo sớm và phục vụ ngày càng hiệu quả hơn cho công tác thanh tra trực tiếp và công tác tái cơ cấu, xử lý nợ xấu. Hoạt động giám sát tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, sai phạm như hoạt động tín dụng, nợ xấu, chất lượng tài sản, đầu tư tài chính, cơ cấu nguồn vốn, sở hữu vốn, kết quả kinh doanh, mức độ đủ vốn và các rủi ro, giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn ở tầm vĩ mô hệ thống và vi mô từng TCTD.
Có thể khẳng định, kết quả điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng của NHNN trong thời gian qua đã góp phần quan trọng thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, qua đó góp phần tích cực đảm bảo quốc phòng, an ninh của nước ta trong giai đoạn vừa qua.
II. Về triển khai hướng dẫn, thực hiện cơ chế chính sách đặc thù nhằm phát huy tiềm năng lợi thế của từng vùng, từng địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn chiến lược, trọng tâm là Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về cơ chế chính sách đặc thù góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế các vùng trọng điểm gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, trong đó có 03 khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, NHNN đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách và hướng dẫn các TCTD triển khai đồng bộ, quyết liệt trong toàn hệ thống. Tình hình và kết quả cụ thể như sau:
1. Phát triển mạng lưới hệ thống TCTD trên địa bàn chiến lược, trọng tâm là Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ: Từ năm 2011 đến nay, chủ trương của NHNN là tập trung nguồn lực và tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện thành công việc tái cơ cấu các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém. Do đó, trong thời gian này, chủ trương chung là NHNN hạn chế cấp phép mở rộng mạng lưới hoạt động của các NHTM và chỉ xem xét việc cấp phép mở rộng mạng lưới đối với các trường hợp có điều kiện đặc biệt.
Tuy nhiên, địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ vẫn được NHNN quan tâm phát triển mạng lưới hoạt động của các TCTD. Trong giai đoạn 2011-2014, NHNN đã cấp phép cho các TCTD mở khoảng 100 chi nhánh, 45 phòng giao dịch tại các địa bàn này. Đây là chính sách đặc thù của NHNN nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các khu vực này.
2. Chính sách đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Đây là một trong 05 lĩnh vực ưu tiên được ngành Ngân hàng tập trung cho vay với mức lãi suất thấp. Để khuyến khích các TCTD cho vay lĩnh vực này, NHNN đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích như: (i) Hỗ trợ các TCTD có tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn lớn (từ 40% trở lên) thông qua tái cấp vốn và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc; (ii) Tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng mạng lưới tại các vùng sâu, vùng xa, các địa bàn nông nghiệp, nông thôn phù hợp với điều kiện thực tế để đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất - kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn...
Đồng thời, kịp thời hướng dẫn triển khai các chủ trương chính sách liên quan đến tín dụng nông nghiệp, nông thôn như: Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn; Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/07/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản; Quyết định 540/QĐ-TTg ngày 16/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm và cá tra; Nghị định 109/2010/NĐ-CP ngày 04/11/2010 và các Quyết định của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo, chương trình cho vay thu mua tạm trưc thóc gạo; Chính sách tín dụng đối với lĩnh vực cà phê Chính sách cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp theo Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 05/3/2014 của Chính phủ... Nhờ đó, kết quả cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực. Trong đó dư nợ tín dụng nông nghiệp, nông thôn tính đến 31/12/2014 đạt 758.000 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cuối năm 2013, chiếm khoảng 19,3% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Kết quả của một số chương trình đặc thù cụ thể như sau:
2.1. Cho vay nông nghiệp, nông thôn góp phần xây dựng nông thôn mới
Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, NHNN đã ban hành kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng hưởng ứng phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, theo đó: (i) NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn cân đối nguồn vốn để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của các huyện, thị xã và các xã được Ban Chỉ đạo địa phương lựa chọn xây dựng nông thôn mới; nắm bắt kịp thời tình hình cho vay phục vụ xây dựng nông thôn mới của các tổ chức tín dụng và thực hiện hỗ trợ giải quyết khó khăn trong quan hệ tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay vốn trên địa bàn; (ii) Các tổ chức tín dụng chủ động cân đối nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho vay xây dựng nông thôn mới tại các địa phương trên toàn quốc, tích cực vận động hưởng ứng thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” trong toàn hệ thống. Kết quả một số hoạt động chủ yếu đối với 03 khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ như sau:
- Đối với khu vực Tây Bắc: Đến cuối tháng 12/2014, dư nợ cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn các tỉnh khu vực Tây Bắc đạt 60.861 tỷ đồng, tăng 7,46% so với cuối năm 2013 và tăng 36,2% so với năm 2012, chiếm 40,74% tổng dư nợ tín dụng toàn vùng và chiếm 8,17% tổng dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn toàn quốc.
- Đối với khu vực Tây Nguyên: Đến cuối tháng 12/2014, dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn khu vực Tây Nguyên đạt 67.599 tỷ đồng, tăng 10,13% so với 31/12/2013 và tăng 31,6% so với cuối năm 2012, chiếm tỷ trọng 46,66% tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế của cả vùng và chiếm 9% tổng dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn toàn quốc.
- Đối với khu vực Tây Nam Bộ: Đến cuối tháng 12/2014, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn đạt khoảng 165.000 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cuối năm 2013 và tăng 28% so với cuối năm 2012, chiếm tỷ trọng khoảng 22%/tổng dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn toàn quốc và chiếm trên 48% tổng dư nợ tại các TCTD trong vùng.
2.2. Cho vay đối với ngành lúa gạo tại khu vực Tây Nam Bộ
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN có văn bản hướng dẫn cụ thể chỉ đạo các NHTM cho vay kinh doanh xuất khẩu gạo và thu mua tạm trữ thóc gạo tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long đối với các thương nhân thực hiện kinh doanh xuất khẩu gạo nằm trong danh sách của Hiệp hội Lương thực Việt Nam. Kết quả cụ thể như sau:
+ Về cho vay lĩnh vực lúa gạo: Đến cuối tháng 12/2014, doanh số cho vay đối với ngành lúa gạo toàn quốc đạt 95.948 tỷ đồng, dư nợ cho vay đạt gần 28.119 tỷ đồng. Trong đó, dư nợ cho vay lúa gạo tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Nam Bộ với dư nợ cho vay là 22.337 tỷ đồng tăng 11,85% so với cuối năm 2013 và chiếm gần 80% dư nợ cho vay lúa gạo toàn quốc. So với năm 2011, dư nợ cho vay lúa gạo khu vực Tây Nam Bộ năm 2014 đã tăng 1,37 lần.
+ Về cho vay thu mua tạm thữ thóc, gạo theo chỉ đạo của Chính phủ: Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong giai đoạn 2011-2014, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tham gia cho vay thu mua tạm trữ thóc, gạo đối với 05 vụ thu hoạch trên địa bàn các tỉnh vùng ĐBSCL với tổng sản lượng thóc gạo được cho vay thu mua tạm trữ trong các năm qua là trên 4.255/4.500 nghìn tấn (chiếm 94,56%).
2.3. Cho vay tôm, cá tra tại khu vực Tây Nam Bộ theo văn bản số 1149/TTg-KTN của Thủ tướng Chính phủ:
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã hướng dẫn các NHTM các chính sách đặc thù về cơ cấu lại nợ, cho vay mới đối với lĩnh vực nuôi cá tra và tôm. Đến cuối tháng 12/2014, dư nợ cho vay cá tra và tôm đạt 40.348 tỷ đồng, tăng 14,28% so với 31/12/2013. Các NHTM Nhà nước cũng tích cực thực hiện gia hạn nợ đối với lĩnh vực này với tổng dư nợ được gia hạn trong lĩnh vực này khoảng trên 4.000 tỷ đồng.
2.4. Cho vay ngành cà phê: Cà phê là cây trồng chủ lực trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, đồng thời là mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam, được các TCTD quan tâm đầu tư cả về trồng, chăm sóc, thu mua, chế biến và tiêu thụ cà phê. Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của NHNN, các TCTD đã cơ bản đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất, thu mua, chế biến và xuất khẩu cà phê trong khu vực.
Đến 31/12/2014, dư nợ cho vay cà phê toàn quốc đạt gần 37.000 tỷ đồng tăng 20,1% so với cuối năm 2013 và tăng 1,52 lần so với năm 2011. Trong đó, dư nợ cà phê tại 5 tỉnh khu vực Tây Nguyên đến cuối năm 2014 đạt 30.015 tỷ đồng, tăng 17,25% so với năm 2013, tăng 1,8 lần so với năm 2011 và chiếm 81,1% dư nợ cho vay cà phê toàn quốc.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là ngân hàng đi đầu trong triển khai cho vay tái canh cà phê tại khu vực Tây Nguyên. Dư nợ cho vay tái canh cây cà phê đến cuối năm 2014 tại các tỉnh Tây Nguyên đạt hơn 493 tỷ đồng tăng gần gấp 2 lần so với cuối năm 2013 đối với 4.129 khách hàng, diện tích 3.345 ha.
2.5. Cho vay đánh bắt xa bờ
Quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Ngành ngân hàng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo, triển khai chính sách tín dụng đặc thù để hỗ trợ ngư dân và phát triển ngành thủy sản theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP. Tuy nhiên, do còn có nhiều khó khăn, vướng mắc nên đến nay mới có 18/28 tỉnh, thành phố phê duyệt được danh sách 578 chủ tàu đủ điều kiện vay vốn làm cơ sở cho các NHTM tiếp cận và cho vay. Tính đến 18/3/20115, các NHTM đã tiếp nhận được tổng số 52 bộ hồ sơ của chủ tàu, trong đó các NHTM đã ký hợp đồng tín dụng đóng mới 11 tàu với tổng số tiền là 148,83 tỷ đồng, thời hạn vay 11 năm, tài sản bảo đảm chính là con tàu đóng mới được hình thành từ vốn vay; các hồ sơ còn lại đang trong quá trình xem xét, thẩm định và hoàn thiện do các chủ tàu chưa có thiết kế mẫu tàu và hợp đồng với cơ sở đóng tàu.
Ngoài ra, các NHTM cũng tích cực cho vay vốn lưu động phục vụ nhu cầu vốn khai thác hải sản xa bờ mặc dù UBND các tỉnh, thành phố chưa phê duyệt danh sách ngư dân được vay vốn lưu động theo quy định tại Nghị định 67. Đến ngày 18/3/2015, dư nợ cho vay vốn lưu động cho các chủ tàu tại các ngân hàng thương mại đã đạt 13 tỷ đồng đối với 45 hộ gia đình cá nhân và doanh nghiệp tại các tỉnh Tiền Giang, Quảng Ngãi, Phú Yên và Bình Định.
2.6. Chương trình cho vay thí điểm phục vụ sản xuất nông nghiệp theo Nghị quyết 14/NQ-CP của Chính phủ
Đến nay, NHNN đã phối hợp với Bộ, ngành liên quan lựa chọn 28 doanh nghiệp trên toàn quốc thực hiện 31 dự án tại 22 tỉnh, thành phố tham gia chương trình cho vay thí điểm. Trên cơ sở đó, các NHTM đã ký kết hợp đồng tín dụng với các doanh nghiệp tham gia chương trình với tổng số tiền đạt trên 5.620 tỷ đồng, dư nợ cho vay đạt hơn 1.300 tỷ đồng. Đây là 28 doanh nghiệp tiêu biểu đại diện cho 8 ngành nghề sản xuất nông nghiệp5 tại 5 khu vực trên toàn quốc. Trong đó:
- Khu vực Tây Bắc: Có 3 doanh nghiệp được tham gia thực hiện 3 dự án tại 3 tỉnh Lào Cai, Điện Biên, Tuyên Quang, trong đó 2 doanh nghiệp liên kết sản xuất chè, 1 doanh nghiệp liên kết trồng mía sản xuất đường. Tính đến 31/12/2014, số tiền các NHTM đã cam kết cho vay là hơn 318,5 tỷ đồng, trong đó đã giải ngân được 2,68 tỷ đồng, dư nợ là 2,68 tỷ đồng.
- Khu vực Tây Nguyên: Có 1 doanh nghiệp tại tỉnh Lâm Đồng được tham gia thực hiện 1 dự án ứng dụng công nghệ cao trong trồng hoa trong nhà kính và chế biến nước cốt chanh dây. Số tiền NHTM cam kết là 80 tỷ đồng, đã giải ngân được 20 tỷ đồng, dư nợ là 20 tỷ đồng.
- Khu vực Tây Nam Bộ: Có 10 doanh nghiệp được tham gia thực hiện 10 dự án tại 6 tỉnh, thành phố: An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, trong đó có 7 doanh nghiệp liên kết cánh đồng lớn, 2 doanh nghiệp liên kết chuỗi thủy sản và 1 doanh nghiệp liên kết sản xuất rau màu. Tính đến 31/12/2014, số tiền các NHTM đã cam kết cho vay là hơn 2.600 tỷ đồng, trong đó đã giải ngân được 1.272 tỷ đồng, dư nợ là 1.206 tỷ đồng.
3. Chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác
Thực hiện chính sách đối với người nghèo và các đối tượng chính sách, NHNN đã phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan ban hành nhiều văn bản hướng dẫn các chủ trương, chính sách, như: Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23/2/2013 về tín dụng đối với hộ cận nghèo; Quyết định số 2621/QĐ-TTg ngày 31/12/2013 sửa đổi, bổ sung một số mức hỗ trợ phát triển sản xuất quy định tại Nghị quyết 30a nhằm hỗ trợ các huyện nghèo; Nghị quyết 14/NQ-CP ngày 5/3/2014 của Chính phủ về đề xuất phương án giảm lãi suất một số chương trình tín dụng chính sách; Quyết định về nâng mức cho vay tối đa đối với hộ nghèo từ 30 triệu đồng/hộ lên 50 triệu đồng/hộ; Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung… Kết quả triển khai cụ thể như sau:
Hiện nay, Ngân hàng Chính sách xã hội đang triển khai 19 chương trình tín dụng chính sách, trong đó có những chính sách được xây dựng dành riêng cho khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Đến 31/12/2014, tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội đạt 129.456 tỷ đồng, tăng 6,4% so với 31/12/2013. Dư nợ tập trung ở một số chương trình: cho vay hộ nghèo đạt 39.252 tỷ đồng; cho vay học sinh, sinh viên đạt 29.794 tỷ đồng; cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn dư nợ 13.961 tỷ đồng; cho vay nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn đạt 15.386 tỷ đồng; chương trình cho vay hộ cận nghèo theo Quyết định 15/2013/QĐ-TTg dư nợ đã đạt 17.140 tỷ đồng.
Kết quả thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo tại Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ
- Tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách tại 3 vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ đến 31/12/2014 đạt 63.025 tỷ đồng, tăng 14.966 tỷ đồng, tỷ lệ tăng tương ứng 31.14% so với 31/12/2011, với 4.398.473 khách hàng còn dư nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn 0,5%/tổng dư nợ, giảm 0,89% so với năm 2011. Dư nợ tại 3 vùng chiếm 48,7% tổng dư nợ. Trong đó:
+ Vùng Tây Bắc: dư nợ đến 31/12/2014 đạt 26.667 tỷ đồng, tăng 5.945 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 28,69% so với 31/12/2011, với 1.502.604 khách hàng vay vốn. Tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 0,34%/tổng dư nợ, giảm 0,21% so với năm 2011.
+ Vùng Tây Nguyên: dư nợ đến 31/12/2014 đạt 13.973 tỷ đồng, tăng 3.557 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 34,14% so với 31/12/2011, với 848.715 khách hàng còn dư nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 0,45%/tổng dư nợ, giảm 1,2% so với năm 2011.
+ Vùng Tây Nam Bộ: dư nợ đến 31/12/2014 đạt 22.384 tỷ đồng, tăng 5.464 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 32,3% so với 31/12/2011, với 2.047.154 khách hàng còn dư nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 0,71%/tổng dư nợ, giảm 1,27% so với năm 2011.
- Giai đoạn 2011-2014, tại 3 vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ vốn tín dụng chính sách đã góp phần giúp các hộ gia đình thoát nghèo; tạo điều kiện cho học sinh sinh viên nghèo được vay vốn đến trường; tạo điều kiện cho người lao động có việc làm; xây dựng, cải tạo các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;… Cụ thể:
+ Khu vực Tây Bắc đã góp phần giúp hơn 163 ngàn hộ thoát nghèo; tạo điều kiện cho hơn 100 ngàn học sinh sinh viên nghèo được vay vốn đến trường; tạo được hơn 78 ngàn lao động có việc làm; xây dựng, cải tạo hơn 585 ngàn công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; giúp cho hơn 4 ngàn lao động đi xuất khẩu lao động…
+ Khu vực Tây Nguyên đã góp phần giúp hơn 130 ngàn hộ thoát nghèo; tạo điều kiện cho hơn 105 ngàn học sinh sinh viên nghèo được vay vốn đến trường; tạo được hơn 48 ngàn lao động có việc làm; xây dựng, cải tạo hơn 460 ngàn công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; giúp cho hơn 01 ngàn lao động đi xuất khẩu lao động…
+ Khu vực Tây Nam Bộ đã góp phần giúp hơn 182 ngàn hộ thoát nghèo; tạo điều kiện cho hơn 132 ngàn học sinh, sinh viên nghèo được vay vốn đến trường; tạo được hơn 110 ngàn lao động có việc làm; xây dựng, cải tạo hơn 710 ngàn công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; giúp cho hơn 400 lao động đi xuất khẩu lao động…
4. Phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ triển khai các Hội nghị xúc tiến đầu tư
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, NHNN đã phối hợp chặt chẽ với Ban chỉ đạo 03 khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ tổ chức các Hội nghị xúc tiến đầu tư hàng năm nhằm đẩy mạnh đầu tư tín dụng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát huy thế mạnh của vùng, kết hợp với bảo đảm an sinh xã hội, tạo ra sự lan tỏa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh trong vùng. Đồng thời yêu cầu các TCTD tham gia mạnh mẽ vào quá trình xúc tiến đầu tư và an sinh xã hội tại 03 khu vực. Kết quả triển khai cụ thể như sau:
- Khu vực Tây Bắc: Tại Hội nghị xúc tiến đầu tư khu vực Tây Bắc năm 2013, ngành ngân hàng thực hiện ký kết 14 hợp đồng nguyên tắc tài trợ vốn cho các dự án thế mạnh của vùng. Đến cuối tháng 12/2014, các ngân hàng bước đầu đã giải ngân cho vay được một số dự án với doanh số là 4.998 tỷ đồng trên tổng số tiền cam kết cho vay các dự án 20.116 tỷ; dư nợ là 3.897 tỷ đồng, trong đó: Dự án đầu tư xây dựng công trình thủy điện Lai Châu lớn nhất được các ngân hàng (Vietcombank, BIDV, Vietinbank, Agribank) tham gia đồng tài trợ vốn lên đến 14.500 tỷ đồng, số tiền đã giải ngân cho dự án này là 2.672 tỷ đồng.
- Khu vực Tây Nguyên: Tại Hội nghị xúc tiến đầu tư khu vực Tây Nguyên năm 2013, có 05 ngân hàng đã thực hiện ký kết 28 hợp đồng nguyên tắc tài trợ vốn cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực cà phê, cao su, thủy điện và ký kết 02 biên bản ghi nhớ thỏa thuận đầu tư vốn với Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng với số tiền lên tới 23.889 tỷ đồng. Đến cuối năm 2014, các ngân hàng đã giải ngân cho vay 17 dự án với số tiền là 3.620 tỷ đồng, dư nợ đạt trên 1.961 tỷ đồng.
- Khu vực Tây Nam Bộ: Tại Hội nghị xúc tiến đầu tư khu vực Tây Nam Bộ năm 2013, ngành Ngân hàng thực hiện ký kết 83 hợp đồng nguyên tắc tài trợ vốn cho các lĩnh vực thế mạnh của vùng với hạn mức khoảng 20.000 tỷ đồng. Đến nay các ngân hàng trên địa bàn đã giải ngân được hơn 22.000 tỷ đồng, dư nợ đạt hơn 10.800 tỷ đồng tại 6 TCTD6.
III. Những hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc hướng dẫn, triển khai các chính sách của Đảng, Nhà nước về kết hợp phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh trên địa bàn chiến lược, trọng tâm là các địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ trong ngành Ngân hàng cũng gặp một số khó khăn, như:
Thứ nhất, khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, trình độ sản xuất còn yếu kém, vì vậy hiệu quả đầu tư vào khu vực này còn thấp.
Thứ hai, huy động vốn tại chỗ không đáp ứng được nhu cầu đầu tư vốn tín dụng trên địa bàn, một phần nguồn vốn cho vay phải điều chuyển từ các khu vực khác; huy động vốn dài hạn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng dư nợ, trong khi nhu cầu vay vốn trung, dài hạn lớn do đặc điểm sản xuất tại địa phương và trên địa bàn tập trung nhiều dự án trọng điểm của quốc gia.
Thứ ba, do những khó khăn về địa lý, kinh tế - xã hội nên mạng lưới của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên chủ yếu là các ngân hàng thương mại Nhà nước, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân còn các NHTM cổ phần đã xuất hiện nhưng vẫn còn thưa thớt. Số lượng chi nhánh, phòng giao dịch ngân hàng tại các vùng sâu, vùng xa còn hạn chế.
Thứ tư, nhu cầu vốn tín dụng ưu đãi ngày càng lớn trong khi nguồn vốn ưu đãi có hạn, vốn tín dụng ngân hàng vẫn chưa đáp ứng hết được nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống nhân dân, nhất là các khu vực kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa.
Thứ năm, đối với các chương trình tín dụng chính sách cho vay bằng nguồn ngân sách Nhà nước cấp, như chương trình cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; chương trình cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn…, nguồn vốn ngân sách chuyển cho NHCSXH để thực hiện các chương trình này còn hạn chế, chưa kịp thời.
Thứ sáu, một bộ phận hộ nghèo, hộ cận nghèo còn trông chờ, ỷ lại vào chính sách, sử dụng vốn vay kém hiệu quả; công tác bình xét, lập danh sách cho vay ở một số nơi còn chậm.
IV. Giải pháp, định hướng trong thời gian tới
Với quyết tâm thực hiện thành công mục tiêu đặt ra cho cả giai đoạn 2011-2015, bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 và Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015, NHNN khẳng định sẽ kiên định với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, qua đó góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược. Các trọng tâm lớn trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2015 là:
Thứ nhất, điều hành đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, nhất là công cụ lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ để ổn định lãi suất, tỷ giá và ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối; kiểm soát tiền tệ phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với các chính sách vĩ mô khác theo đúng tinh thần tại Quy chế phối hợp về quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô giữa NHNN với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Tài chính.
Thứ hai, toàn hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục thực hiện các giải pháp về tín dụng, lãi suất để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; điều hành tín dụng theo phương châm mở rộng tín dụng đi đôi với hiệu quả; gắn với chính sách tín dụng ngành, lĩnh vực kinh tế để đáp ứng vốn cho sản xuất, kinh doanh, nhất là tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, đồng thời góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức 6,2% trong năm 2015. Trong đó:
Tiếp tục chỉ đạo các TCTD cân đối đủ vốn phục vụ chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên phạm vi toàn quốc; Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn liền với thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và các chương trình tín dụng đặc thù trên địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.
Mở rộng và thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách và an sinh xã hội, từng bước nâng cao đời sống của người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số để thực hiện được các mục tiêu đề ra của chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững;
Thứ ba, tập trung xử lý nhanh nợ xấu, phấn đấu đến cuối năm 2015 đưa tỷ lệ nợ xấu về mức dưới 3%; tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc đang cản trở quá trình xử lý nợ xấu, nhất là các khó khăn vướng mắc liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm và hoạt động mua bán nợ của VAMC trên thị trường; Chỉ đạo các TCTD triển khai quyết liệt các biện pháp tự xử lý nợ xấu và tích cực bán nợ xấu cho VAMC.
Thứ tư, tiếp tục thực hiện các biện pháp tái cơ cấu theo đúng lộ trình đề ra, qua đó cải thiện và nâng cao vai trò trung gian tài chính của các tổ chức tín dụng nhằm chu chuyển vốn hiệu quả trong nền kinh tế.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xin gửi Đoàn Giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để tổng hợp./.
| Nơi nhận: - Văn phòng Quốc hội (50 bản); - Văn phòng Chính phủ (Vụ III); - Ban Lãnh đạo NHNN; - Lưu VP, VP1 (3 bản). |
THỐNG ĐỐC |