NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Số: 42 /BC-NHNN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2015 |
BÁO CÁO
KẾT QUẢ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC
NGÂN HÀNG TỪ KHI VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN TỔ CHỨC
THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
Thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động (CTHĐ) của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO, NHNN đã ban hành Quyết định số 2449/QĐ-NHNN ngày 17/10/2007 về CTHĐ của NHNN thực hiện CTHĐ của Chính phủ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, giai đoạn 2007 - 2012. Trên cơ sở đó, NHNN đã thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nhiệm vụ được Chính phủ giao và ngành Ngân hàng xác định tại chương trình hành động.
Thực hiện yêu cầu của Văn phòng Quốc hội và Văn phòng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) xin báo cáo các nội dung liên quan đến chuyên đề “Kết quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ khi Việt Nam là thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO)”như sau:
Phần thứ nhất
VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1. Nâng cao tính độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ, hoàn thiện chức năng ngân hàng trung ương
Trong những năm qua, công tác xây dựng pháp luật của NHNN đã từng bước được nâng cao theo các chuẩn mực quốc tế về ngân hàng như Luật NHNN, Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD), Pháp lệnh Ngoại hối… Các văn bản hướng dẫn đã được hoàn thiện phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội, đáp ứng được các mục tiêu điều hành kinh tế vĩ mô và chính sách tiền tệ (CSTT) trong từng thời kỳ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng Việt Nam, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hỗ trợ chính sách an sinh xã hội của Đảng, Chính phủ. Cụ thể:
- Luật NHNN, Luật các TCTD và các văn bản hướng dẫn: Năm 2010, NHNN đã soạn thảo và trình Quốc hội ban hành Luật NHNN số 46/2010/QH12, Luật các TCTD số 47/2010/QH12 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011. Luật NHNN năm 2010 là một sự kiện quan trọng đánh dấu một bước phát triển mới trong việc hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của NHNN theo cơ chế thị trường, tiếp cận gần hơn với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NHNN trong quá trình hội nhập kinh tế. Trong khi đó, những nội dung sửa đổi của Luật các TCTD tập trung vào việc luật hóa các chuẩn mực, cam kết quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng mà trọng tâm là việc thực hiện các cam kết mở cửa khu vực dịch vụ ngân hàng trong các hiệp định thương mại song phương, đa phương và các cam kết quốc tế. Có thể khẳng định, việc Luật NHNN và Luật các TCTD đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, thể hiện ngày càng rõ nét hơn vai trò quan trọng của NHNN với tư cách là một ngân hàng trung ương, một cơ quan ngang Bộ trực thuộc Chính phủ, thực hiện các nhiệm vụ để góp phần vào việc đạt được kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội mà Chính phủ đề ra.
- Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN được ban hành nhằm nâng cao tính độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ, hoàn thiện chức năng của ngân hàng trung ương; đồng thời, điều chỉnh một số nội dung cho phù hợp với yêu cầu sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, đảm bảo cho NHNN hoạt động theo đúng nguyên tắc và thông lệ quốc tế.
- Các quy định pháp luật liên quan đến quản lý ngoại hối: Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH1 ngày 13/12/2005 đã xác lập nguyên tắc tự do hóa các giao dịch vãng lai theo cam kết quy định tại Điều VIII điều lệ IMF, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho đàm phán, ký kết gia nhập WTO của Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Pháp lệnh, NHNN đã trình Chính phủ ban hành các Nghị định và ban hành các Thông tư hướng dẫn Pháp lệnh Ngoại hối nêu trên bao gồm: Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối; Nghị định 219/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ về quản lý vay, trả nợ nước ngoài của Chính phủ không được Chính phủ bảo lãnh. Đồng thời, tiếp tục chỉnh sửa bổ sung trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, trong đó, năm 2013 NHNN đã trình Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 06/2013/UBTVQH13 ngày 18/03/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Nghị định 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối thay thế Nghị định 160 và ban hành 16 Thông tư hướng dẫn quản lý hoạt động ngoại hối trong năm 2013, 2014.
Nhìn chung, việc sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn bản pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng theo hướng minh bạch hoá chính sách đã cho thấy việc NHNN tuân thủ nghiêm túc theo các nguyên tắc thị trường và các cam kết quốc tế, điều đó đã tạo ra một môi trường kinh doanh ngày càng thông thoáng và thuận lợi cho các TCTD hoạt động tại Việt Nam.
2. Đổi mới chính sách tiền tệ, sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất, tỷ giá, quản lý ngoại hối, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng trước biến động lớn từ bên ngoài
2.1. Đổi mới hoạt động điều hành chính sách tiền tệ
Từ khi triển khai Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP, đặc biệt là từ năm 2011 đến nay, trên cơ sở bám sát chủ trương của Đảng, Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ từng năm, điều hành CSTT của NHNN được đổi mới theo hướng tăng dần tính chủ động, dẫn dắt thị trường, chuyển dần từ các công cụ trực tiếp sang gián tiếp, phù hợp với điều kiện của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới, tiến gần tới các nghiệp vụ ngân hàng trung ương hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế và xu hướng đổi mới của nền kinh tế. Kết quả cụ thể như sau:
- Điều hành linh hoạt các công cụ CSTT góp phần quan trọng trong việc thực hiện thành công mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát và đưa lạm phát về mức 1 con số, nâng cao giá trị đồng Việt Nam, đảm bảo thanh khoản hệ thống, ổn định thị trường, chia sẻ và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh… tạo tiền đề cho tăng trưởng bền vững: (1) Điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT phù hợp với diễn biến kinh tế, tiền tệ từng thời kỳ, đảm bảo tổng phương tiện thanh toán hợp lý (2) Theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường, điều tiết thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, cho vay qua đêm…, lãi suất liên ngân hàng ở mức hợp lý, hỗ trợ thực hiện Đề án Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ đổ vỡ hệ thống; (3) Sau khi điều chỉnh tăng lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát năm 2007-2008, NHNN đã chủ động giảm nhanh mặt bằng lãi suất từ đầu năm 2012 đến nay (9 lần điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành với tổng mức giảm khoảng 8,5%) góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và hộ dân, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý những vẫn đảm bảo khả năng kiểm soát lạm phát, hỗ trợ ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối; giảm dần sự can thiệp hành chính trong điều hành lãi suất; đưa mặt bằng lãi suất hiện chỉ bằng khoảng 40% lãi suất vào nửa cuối năm 2011 và tương đương mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006.
- Điều hành các giải pháp tín dụng nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế: (1) Hoàn thiện, xây dựng các quy định của pháp luật về hoạt động cấp tín dụng (cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá,…) phù hợp với Luật các TCTD, thực tế hoạt động tín dụng và thông lệ quốc tế; (2) Chỉ đạo các TCTD triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng với khách hàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật như: cơ cấu thời hạn trả nợ, giảm lãi suất các khoản vay cũ, xem xét miễn, giảm lãi vốn vay trên cơ sở khả năng tài chính của các TCTD và chỉ đạo của NHNN… đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn.
- Công cụ tỷ giá đã được NHNN sử dụng linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với các công cụ CSTT như lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở nhằm hỗ trợ sự ổn định của tỷ giá. Cụ thể: NHNN theo dõi chặt chẽ diễn biến cán cân thanh toán quốc tế, tình hình kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, diễn biến thị trường tiền tệ để có biện pháp điều hành phù hợp nhằm đảm bảo thanh khoản và ổn định của thị trường ngoại tệ. Vào những thời điểm nguồn cung ngoại tệ dồi dào nhờ luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam lớn như những năm 2007-2008, NHNN đã mua vào lượng lớn ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước (DTNHNN), đồng thời, thực hiện biện pháp trung hòa qua việc hút tiền về qua kênh nghiệp vụ thị trường mở để hạn chế áp lực lên lạm phát. Tại những thời điểm nhu cầu ngoại tệ tăng để phục vụ mục đích thanh toán, trả nợ, chuyển lợi nhuận về nước của nhà đầu tư nước ngoài, NHNN kịp thời bán ngoại tệ can thiệp thị trường để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD, ổn định tỷ giá. Đồng thời, tỷ giá bình quân liên ngân hàng cũng được điều chỉnh phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và diễn biến tỷ giá, cung cầu ngoại tệ trên thị trường nhằm ổn định thị trường ngoại tệ và tạo điều kiện tăng DTNHNN. Nhờ đó, thanh khoản thị trường được đảm bảo, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài được đáp ứng đầy đủ qua hệ thống các TCTD, đặc biệt từ cuối năm 2011 trở lại đây, tỷ giá và thị trường ngoại tệ tương đối ổn định, quy mô DTNHNN tăng đáng kể, góp phần củng cố lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường kinh tế vĩ mô ổn định của Việt Nam.
Như vậy, CSTT được điều hành thận trọng, linh hoạt và có hiệu quả, đã góp phần thực hiện các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ, duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức 5,3-6,4% từ năm 2008 đến nay; lạm phát giảm bền vững từ cuối năm 2011 và duy trì khá ổn định trong mức 6-7% từ năm 2008 đến năm 2013 và giảm mạnh xuống còn 1,84% năm 2014; thị trường tiền tệ ổn định, thanh khoản hệ thống các TCTD tăng cao, lãi suất giảm mạnh theo hướng hỗ trợ sản xuất kinh doanh; tỷ giá và thị trường ngoại hối về cơ bản ổn định, tình trạng đô la hóa giảm, niềm tin vào VND được củng cố.
2.2. Đổi mới công tác điều hành quản lý ngoại hối
Sau khi gia nhập WTO, về cơ bản Việt Nam đã tạo lập hành lang pháp lý ngày càng minh bạch theo đúng cam kết quốc tế cho quá trình hoạt động ngoại hối của các tổ chức kinh tế và cá nhân. Công tác cải cách thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực quản lý ngoại hối cũng được đẩy mạnh theo hướng đơn giản và minh bạch hóa. Công tác thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động ngoại hối đã được tăng cường nhằm đảm bảo sự tuân thủ các quy định pháp luật về ngoại hối của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Cụ thể:
a. Chính sách quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối:
Từ khi gia nhập WTO đến nay, công tác quản lý các giao dịch vãng lai tiếp tục được thực hiện theo hướng tự do hoá phù hợp với các cam kết quốc tế, đồng thời triển khai các biện pháp hạn chế sử dụng ngoại tệ trong nước nhằm thực hiện mục tiêu xóa bỏ tình trạng đô la hóa trên lãnh thổ Việt Nam. Nhờ đó, hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối đã đạt được những kết quả tích cực. Cụ thể:
- Hiện tượng sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ trái với các quy định hiện hành đã được kiểm soát, các trường hợp vi phạm rất hạn chế và đã được chấn chỉnh, xử lý kịp thời.
- Diễn biến thị trường ngoại tệ khá ổn định, ngoại tệ được tập trung vào hệ thống các tổ chức tín dụng, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng tiền gửi liên tục giảm xuống còn ở mức 11% năm 2014.
- Chính sách thu hút kiều hối tiếp tục thực hiện theo hướng thông thoáng và phù hợp với xu thế hội nhập, góp phần cải thiện cán cân vãng lai, qua đó cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đồng thời góp phần tăng DTNHNN.
- Công tác quản lý ngoại hối tại các khu vực biên giới cũng đạt được những kết quả đáng kể. Hoạt động thanh toán qua ngân hàng tại các khu vực biên giới ngày càng phát triển góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại biên mậu, đầu tư phát triển.
b. Chính sách quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư nước ngoài:
NHNN đã từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư, góp phần tích cực cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đồng thời từng bước tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư.
Cơ chế quản lý ngoại hối đối với giao dịch vốn từng bước được hoàn thiện nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đồng thời góp phần bình ổn thị trường ngoại hối trên cơ sở giám sát luồng vốn vào/ra, theo dõi sát cơ cấu luồng vốn, tác động của nó đến nền kinh tế và hệ thống tài chính để nghiên cứu, xây dựng chính sách quản lý phù hợp, góp phần hạn chế những tác động bất lợi của dòng vốn đầu tư, đặc biệt là dòng vốn đầu tư vào Việt Nam góp phần ổn định khu vực tài chính, ngăn ngừa nguy cơ xảy ra khủng khoảng đồng thời đảm bảo phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế của nền kinh tế.
c. Chính sách quản lý hoạt động vay trả nợ nước ngoài
Để giám sát chặt chẽ tình hình thực hiện hạn mức vay nước ngoài nhằm đảm bảo chỉ tiêu an toàn nợ nước ngoài quốc gia nằm trong giới hạn được Quốc hội phê duyệt, NHNN đã triển khai việc giám sát tình hình thực hiện vay trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh và kịp thời phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ các diễn biến trong hoạt động vay trả nợ nước ngoài nói chung và tự vay, tự trả nói riêng.
Đồng thời, theo dõi và đánh giá tình hình vay trả nợ nước ngoài ngắn hạn, kịp thời đề xuất biện pháp nhằm đảm bảo ổn định thị trường ngoại hối và an toàn nợ quốc gia. Từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về vay trả nợ nước ngoài phân theo loại hình doanh nghiệp, theo hình thức vay, theo loại hình bên cho vay, bên đi vay… để tăng cường công tác dự báo, từ đó xây dựng chính sách quản lý phù hợp với tình hình thực tiễn và xu hướng dòng vốn vay và cho vay nước ngoài.
Bên cạnh đó, NHNN thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý vay trả nợ nước ngoài, hệ thống số liệu thông qua các TCTD, các doanh nghiệp và NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố nhằm tăng cường quản lý hiệu quả dòng vốn này và tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường vốn quốc tế, đồng thời nâng cao khả năng quản lý nhà nước đối với hoạt động vay và cho vay nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh, từ đó góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
d. Chính sách quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước:
Trong giai đoạn từ 2011 đến nay, nhờ chủ động trong quản lý, điều hành chính sách tiền tệ, ngoại hối của NHNN nên cán cân thanh toán quốc tế đã được cải thiện mạnh mẽ, NHNN đã mua được lượng ngoại tệ khá dồi dào để bổ sung dự trữ ngoại hối. Công tác quản lý dự trữ ngoại hối trong thời gian qua đã đáp ứng được các mục tiêu an toàn, đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế và tăng trưởng dự trữ, can thiệp kịp thời để ổn định tỷ giá đồng Việt Nam và giá vàng, đảm bảo khả năng thanh toán đối ngoại của nền kinh tế.
3. Tác động của những biến động trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế đối với thị trường tiền tệ trong nước
Hội nhập quốc tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng, vừa là cơ hội, cũng vừa là thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam. Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, độ mở của nền kinh tế, tính bằng tỷ lệ kim ngạch xuất nhập khẩu so GDP, đã gia tăng đáng kể. Nếu giai đoạn 2001-2006, tỷ lệ này chỉ ở mức 119,57% thì giai đoạn 2007 đến nay, tỷ lệ này đã lên mức 153,27%. Đáng chú ý, tỷ lệ này năm 2014 ở mức 163,69%, tương đương với độ mở của năm 2008. Cơ hội mở ra khi Việt Nam có thể tiếp cận các thị trường mới, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, bên cạnh thị trường truyền thống Trung Quốc. Điều này khiến kinh tế Việt Nam bớt lệ thuộc hơn vào thị trường Trung Quốc. Việc đa phương hóa các quan hệ thương mại là một xu hướng tốt, mở rộng được thị trường sang nhiều quốc gia có tác động tích cực trong việc thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển. Nhờ đó, Việt Nam đã có được vị thế tốt hơn trên trường quốc tế. Quá trình hội nhập kinh tế, tài chính cũng diễn ra tích cực hơn, việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế, nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến từ đó cũng năng động hơn rất nhiều, năng lực của người lao động nhờ đó cũng được nâng lên.
Tuy vậy, bên cạnh những cơ hội, việc gia nhập WTO cũng đem lại nhiều thách thức cho nền kinh tế Việt Nam. Độ mở của nền kinh tế rộng hơn cũng đồng nghĩa với việc các cú sốc từ các nền kinh tế - tài chính bên ngoài và quốc tế sẽ có tác động lớn hơn đối với nền kinh tế trong nước, đòi hỏi sự phản ứng của các nhà hoạch định chính sách cũng như các tác nhân trong nền kinh tế phải nhanh nhạy hơn. Nếu như ở thời kỳ khủng hoảng tài chính Đông Nam Á 1997, nền kinh tế Việt Nam chưa bị ảnh hưởng nhiều thì cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu 2007 đã tạo ra không ít sóng gió cho nền kinh tế Việt Nam. Kinh tế Việt Nam sau một năm tăng trưởng nóng 2007 đã gặp khó khăn và tăng trưởng chậm lại ngay từ đầu năm 2008. Lạm phát cũng diễn biến khó kiểm soát, 2 năm cao, 1 năm thấp cho đến tận cuối năm 2011. Các cân đối vĩ mô thường xuyên bị chịu sức ép bất ổn.
Trước sự tăng trưởng nóng của các dòng vốn vào, khu vực tài chính - tiền tệ trong nước phải gồng mình lên để hấp thụ. Năm 2007 là năm hệ thống ngân hàng có nhiều thay đổi, số lượng các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), chi nhánh ngân hàng nước ngoài tăng nhanh, tín dụng tăng trưởng nóng. Nếu trong cả giai đoạn 2001-2006, tín dụng tăng trưởng trung bình 28,46%/năm thì chỉ riêng năm 2007, tín dụng đã tăng 53,89% so với năm 2006, tính trung bình giai đoạn 2007-2010, tăng trưởng tín dụng đạt 37,83%, cao hơn hẳn giai đoạn trước. Quy mô dư nợ tín dụng không ngừng tăng lên, từ mức trung bình gần 400 nghìn tỷ đồng/năm trong giai đoạn 2001-2006 đã lên mức trung bình 3.332 nghìn tỷ đồng/năm giai đoạn 2007 đến nay, cao gấp 8,3 lần giai đoạn trước.
Quy mô tín dụng ngành Ngân hàng tăng do tác động hội nhập về cơ bản vận động đúng xu hướng phát triển của nền kinh tế. Tuy vậy, việc tăng trưởng quá nóng trong năm 2007 và giai đoạn 2007-2010 cũng là một trong những tác nhân gây ra những khó khăn cho hệ thống ngân hàng ở giai đoạn sau này, cũng như khiến cho các cân đối vĩ mô khó được duy trì ổn định, lạm phát khó kiểm soát hơn. Cụ thể hơn, việc tăng trưởng tín dụng nóng đi liền với sự đẩy mạnh cho vay trong các lĩnh vực năng động, tiềm ẩn nhiều rủi ro như thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán đã khiến cho quy mô nợ xấu tăng lên và hiện nay ngành Ngân hàng vẫn phải đang tích cực giải quyết các hệ lụy này.
Ở thời điểm gia nhập WTO, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng chứng kiến sự ra đời của nhiều công ty chứng khoán. Sự tăng trưởng nóng trong giai đoạn này cũng tạo ra những rủi ro cho thị trường trong những năm tiếp theo, khi tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu đã bộc lộ những hệ lụy rõ rệt tới nền kinh tế Việt Nam. Quy mô, số lượng các công ty chứng khoán bị co lại ở thời kỳ hậu khủng hoảng cho thấy việc tăng trưởng quá nóng thường rất kém bền vững.
Tuy vậy, việc gia nhập WTO và các hiệp định thương mại đa phương, song phương đã giúp cho nền quản lý Nhà nước của Việt Nam năng động hơn, tính chủ động ứng phó được nâng cao, đặc biệt là từ năm 2011 đến nay. Nhờ đó tăng trưởng tuy không quá nhanh như giai đoạn trước nhưng đã đạt sự bền vững hơn khi năm sau cao hơn năm trước. Lạm phát được kiềm chế ở mức thấp liên tục trong mấy năm gần đây. Dự trữ ngoại hối được tăng cường, các cân đối vĩ mô được duy trì ổn định.
Trong đó, NHNN đã điều hành các công cụ chính sách tiền tệ theo hướng đồng bộ, chủ động, dẫn dắt thị trường, phát huy hiệu quả, ứng phó tốt với các cú sốc từ bên ngoài. Tốc độ tăng dư nợ tín dụng trung bình năm trong giai đoạn 2011-2014 là 12,41%, thấp hơn hẳn mức tăng 37,83% của giai đoạn tăng trưởng nóng 2007-2010 nhưng lại tạo ra được tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước một cách bền vững cho thấy sự điều hành CSTT của NHNN trong những năm gần đây luôn bám sát diễn biến của thị trường và phù hợp với sự hấp thụ của nền kinh tế. Diễn biến này là cơ sở quan trọng để NHNN kiểm soát được thành công lạm phát ở mức thấp hợp lý, liên tục trong 4 năm gần đây, từ đó góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện tốt cho sự phát triển kinh tế bền vững.
Phần thứ hai
VIỆC THÀNH LẬP CÁC NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI
VÀ MỨC ĐỘ CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC TCTD TRONG NƯỚC
1. Sự hình thành và phát triển của tổ chức tín dụng nước ngoài được hiện diện thương mại tại Việt Nam
Sau khi Pháp lệnh về NHNN và Pháp lệnh ngân hàng hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính ra đời năm 1990, các ngân hàng nước ngoài (NHNNg) bắt đầu mở rộng hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức chi nhánh NHNNg, ngân hàng liên doanh (NHLD). Hiện đã có 47 chi nhánh NHNNg tại Việt Nam, trong đó, chi nhánh NHNNg từ các quốc gia thuộc khu vực châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc chiếm chủ yếu, còn lại các chi nhánh NHNNg từ các quốc gia thuộc khu vực châu Âu (Pháp, Anh…) và Mỹ.
Các chi nhánh NHNNg trước đây hoạt động trên cơ sở vốn của ngân hàng mẹ, nay theo quy định của Luật Các TCTD năm 2010 hoạt động trên cơ sở vốn được cấp của chi nhánh tại Việt Nam, tuy nhiên mức vốn này không cao (trung bình dưới 50 triệu đô la Mỹ). Theo quy định của Luật các TCTD và cam kết gia nhập WTO, các chi nhánh NHNNg đã được đối xử quốc gia đầy đủ như các NHTM Việt Nam (ngoại trừ hoạt động góp vốn, mua cổ phần và các hoạt động mà NHNNg không được phép thực hiện tại nơi NHNNg đặt trụ sở chính). Các chi nhánh NHNNg chủ yếu hoạt động bán buôn (phục vụ các dự án lớn, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tài trợ thương mại…), nhiều chi nhánh NHNNg đã tăng vốn được cấp, trong đó các chi nhánh ngân hàng Nhật đã tăng vốn lên mức trung bình trên 100 triệu đô la Mỹ (trong khi vốn pháp định chỉ là 15 triệu đô la Mỹ) để có thể mở rộng hoạt động hiệu quả hơn.
Là kết quả của sự hợp tác về mặt kinh tế, ngoại giao giữa Chính phủ Việt Nam và các quốc gia khác, NHLD cũng có mặt rất sớm trên thị trường tài chính Việt Nam. Mô hình NHLD nhìn chung phù hợp với giai đoạn đầu mở cửa của nền kinh tế, tuy nhiên đến nay đã bộc lộ nhiều bất cập như: khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ hạn chế; hoạt động NHLD kém hiệu quả, kém năng động do NHLD được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh (mỗi bên nắm 50% vốn), mọi quyết sách của NHLD phải được sự thống nhất của các bên đối tác. Điều này ảnh hưởng tới khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh và hạn chế tính năng động của NHLD trong bối cảnh nền kinh tế nói chung và thị trường ngân hàng Việt Nam nói riêng không ngừng phát triển. Do vậy, hiện nay, NHNN đang xem xét tái cơ cấu các NHLD, chỉ cho phép tồn tại các NHLD thực sự hoạt động hiệu quả, có khả năng hỗ trợ tốt cho hoạt động của các NHTM Nhà nước hoặc củng cố mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các quốc gia liên quan.
Ra đời muộn hơn nhờ việc áp dụng lộ trình tự do hóa thương mại dịch vụ theo các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam có những bước phát triển khá mạnh mẽ trong thời gian qua. Tính đến nay, có 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép thành lập tại Việt Nam1. Các ngân hàng này đều có đủ mức vốn pháp định, được đối xử quốc gia đầy đủ, do đó được thực hiện đầy đủ các hoạt động của một NHTM và được phép mở rộng mạng lưới tại Việt Nam như các NHTM Việt Nam.
2. Tình hình hoạt động và sự cạnh tranh của ngân hàng 100% vốn nước ngoài, NHLD, chi nhánh NHNNg tại Việt Nam
2.1. Về mạng lưới và địa bàn hoạt động:
Tính đến thời điểm báo cáo có 47 chi nhánh NHNNg; 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 53 văn phòng đại diện; 04 NHLD. Trong khi số lượng các ngân hàng trong nước là 40 ngân hàng. Khối ngân hàng 100% vốn nước ngoài, NHLD có 61 chi nhánh/sở giao dịch, tập trung chủ yếu ở 02 địa bàn thành phố lớn là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, trong khi khối NHTM trong nước có tới 2.472 chi nhánh/sở giao dịch trên địa bàn cả nước.
2.2. Về năng lực tài chính:
Các NHNNg tại Việt Nam về cơ bản đều đảm bảo mức vốn điều lệ/vốn được cấp, ngoại trừ 02 NHLD chưa đủ mức vốn điều lệ theo quy định hiện hành và đang thực hiện cơ cấu lại theo chỉ đạo của NHNN (NHLD Việt Thái và NHLD VID public). Mặt khác, trong giai đoạn vừa qua, có một vài chi nhánh NHNNg hoạt động còn phát sinh lỗ (chủ yếu do mới đi vào hoạt động) đã dẫn đến vốn được cấp thực còn thấp hơn vốn pháp định (Ngân hàng First Commercial Bank – Chi nhánh Hà Nội và Ngân hàng Shanghai & Savings – Chi nhánh Đồng Nai). Tuy nhiên, các ngân hàng này đều đã được Ngân hàng mẹ cấp thêm vốn để đảm bảo quy định của pháp luật Việt Nam.
2.3. Về sản phẩm, dịch vụ:
Kế thừa công nghệ hiện đại, các quy trình sản phẩm tiên tiến của ngân hàng mẹ cùng với ưu thế lớn về nguồn ngoại tệ giá rẻ từ ngân hàng mẹ hoặc do các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư sang Việt Nam thường chọn các hiện diện của ngân hàng mẹ để mở tài khoản và thực hiện các giao dịch ngân hàng ở Việt Nam, các NHNNg đã tập trung phát triển mạnh các sản phẩm, dịch vụ gắn với yếu tố công nghệ và tận dụng mạng lưới toàn cầu của ngân hàng mẹ, đặc biệt là kênh giao dịch điện tử. Trong đó, nổi bật là các sản phẩm phái sinh về ngoại hối, lãi suất, tỷ giá, tiền tệ và tài sản tài chính khác, các dịch vụ thanh toán, tài trợ thương mại, quản lý tài sản, bảo lãnh…
So với các NHTM trong nước, chất lượng dịch vụ của Khối NHNNg vượt trội hơn hẳn về quy trình, thời gian xử lý nhanh chóng, dịch vụ toàn cầu, công nghệ hiện đại, dịch vụ tư vấn, các dịch vụ hỗ trợ tiện ích cho doanh nghiệp, dịch vụ trực tuyến online… Đây là một trong những ưu thế thu hút phần lớn khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đối tượng khách hàng có thu nhập cao.
2.4. Về kết quả hoạt động kinh doanh:
Trong thời gian hoạt động vừa qua (từ 2010-2014), Khối NHLD, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh NHNNg hoạt động kinh doanh có lãi, chênh lệch thu nhập - chi phí hàng năm của Khối luôn duy trì trên 5.000 tỷ đồng. Tính đến thời điểm 31/12/2014, chênh lệch thu nhập – chi phí của Khối đạt 5380,6 tỷ đồng, tăng 2,1% so với năm 2010. Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) của khối ngân hàng liên doanh, nước ngoài là 0,8, cao hơn so với toàn hệ thống (0,63). Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của khối này là 4,8, thấp hơn ROE của toàn hệ thống (6,87).
2.5. Về tình hình tuân thủ các quy định pháp luật Việt Nam:
Nhìn chung, kể từ thời điểm tham gia vào thị trường Việt Nam đến nay, hiện diện của các NHNNg cơ bản tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam trong hoạt động ngân hàng. Qua công tác thanh tra, giám sát, có phát hiện một số vi phạm nhưng không trọng yếu, không tác động tiêu cực đến sự an toàn của hệ thống ngân hàng và các vi phạm này đều được các NHNNg nghiêm túc khắc phục, chỉnh sửa.
2.6. Về thị phần hoạt động
Mặc dù hiện diện thương mại của khối NHNNg tại Việt Nam khá nhiều và đa dạng, song thị phần của các ngân hàng này tại Việt Nam so với các TCTD trong nước hiện vẫn ở mức thấp. Tính đến 31/12/2014, thị phần của các chi nhánh NHNNg chiếm 6,92% tổng thị phần, trong khi ngân hàng 100% vốn và NHLD chỉ chiếm tương ứng khoảng 3% và 0,75% tổng thị phần (xét tổng tài sản).
Về tốc độ tăng thị phần, mặc dù vốn điều lệ/vốn được cấp có xu hướng tăng khá nhanh từ mức 13% lên đến 19,1% (chưa kể gần 5% vốn góp, mua cổ phần của khối NHNNg tại các NHTMCP Việt Nam), tuy nhiên, thị phần tổng tài sản và huy động vốn của khối NHNNg chỉ tăng nhẹ (thị phần tổng tài sản tăng từ 10,4% năm 2009 lên 10,67% năm 2014, thị phần huy động vốn tăng từ 7,9% năm 2009 lên 8,19% năm 2014); riêng thị phần cho vay giảm từ 9,2% năm 2009 xuống 8,28% năm 2014, đặc biệt thị phần cho vay của nhóm các chi nhánh NHNNg giảm mạnh từ 6,3% năm 2009 xuống còn 4,16% năm 2014. Bên cạnh nguyên nhân do tình hình kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, một trong những nguyên nhân chính là do kể từ khi Luật các TCTD năm 2010 có hiệu lực, các chi nhánh NHNNg phải thực hiện giới hạn cho vay một khách hàng trên cơ sở vốn được cấp của bản thân chi nhánh NHNNg, không được cho vay trên cơ sở vốn của Ngân hàng mẹ như trước đây.
2.7. Đánh giá về mức độ cạnh tranh
Với lợi thế về tài chính, kinh nghiệm cũng như trình độ ngân hàng phát triển, các NHNNg luôn tiên phong trong việc phát triển và áp dụng các công nghệ hiện đại, các sản phẩm mới tại thị trường Việt Nam như hoạt động ngân hàng điện tử, các sản phẩm phái sinh… góp phần vào quá trình hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Hoạt động của các NHNNg trong thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, làm gia tăng yếu tố cạnh tranh, tạo sức ép buộc các ngân hàng trong nước phải đổi mới, nâng cao công nghệ, tăng cường năng lực quản trị và chất lượng nhân sự, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển hệ thống NHTM nói chung và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch hơn.
Với thị phần khiêm tốn và mạng lưới hoạt động hạn chế, khả năng tiếp cận khách hàng là các doanh nghiệp Việt Nam (đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ) và người dân Việt Nam còn chưa cao, trong khi các chi nhánh NHNNg đến nay mới chủ yếu tập trung hoạt động bán buôn và chỉ được hoạt động trên cơ sở vốn được cấp tại Việt Nam. Vì vậy, trong thời gian tới chưa xuất hiện nguy cơ chiếm lĩnh thị trường và cạnh tranh quá mức đối với các TCTD Việt Nam từ các NHNNg nếu NHNN tiếp tục có chính sách quản lý, điều tiết hợp lý và các TCTD trong nước thực hiện tái cơ cấu một cách hiệu quả và biết tận dụng lợi thế về mạng lưới và khách hàng...
Tuy nhiên, có thể nhận thấy, với hàng loạt các hiệp định tự do thương mại và kinh tế dự kiến có hiệu lực hoặc được ký kết trong năm 2015 như Việt Nam – Hàn Quốc, Việt Nam – Liên minh hải quan, Việt Nam - EU, TPP..., các ngân hàng nước ngoài, nhất là các ngân hàng khu vực sẽ tập trung nhiều hơn vào Việt Nam. Quy mô, chiến lược kinh doanh của các ngân hàng nước ngoài sẽ là một thách thức lớn đối với các ngân hàng trong nước ngay trên thị trường nội địa.
3. Định hướng cấp phép trong thời gian tới
Xu thế phục hồi phát triển của nền kinh tế thế giới và trong nước cũng như tình hình tiếp nhận hồ sơ đề nghị của các NHNNg gần đây cho thấy nhu cầu thành lập hiện diện thương mại của các NHNNg tại Việt Nam, đặc biệt là nhu cầu thành lập mới chi nhánh NHNNg có chiều hướng gia tăng, phần lớn từ các ngân hàng tại các quốc gia, vùng lãnh thổ có quan hệ đầu tư, thương mại phát triển với Việt Nam (như Hàn Quốc, Đài Loan...). Để tăng cường thu hút, đẩy mạnh đầu tư nước ngoài vào Việt Nam góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ cho công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế nói chung và tái cơ cấu hệ thống TCTD nói riêng trong bối cảnh vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và từ các nguồn khác hết sức hạn chế, trên cơ sở đánh giá những lợi ích, tác động của các NHNNg tại Việt Nam (đặc biệt đánh giá mức độ cạnh tranh của các hiện diện thương mại của NHNNg đối với các TCTD trong nước), NHNN thấy việc cấp phép thành lập mới các hiện diện thương mại của NHNNg trong thời gian tới cần được xem xét trên các nguyên tắc và các tiêu chí hợp lý. Do vậy, NHNN đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về định hướng và kế hoạch cấp phép thành lập mới chi nhánh NHNNg tại Việt Nam giai đoạn 2014-2015 và đang tiếp tục nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Theo đó, NHNN đề xuất việc cấp phép được xem xét trên cơ sở thận trọng, đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và gắn với chủ trương tái cơ cấu các TCTD của Đảng và Nhà nước; đồng thời đảm bảo thực hiện các cam kết song phương và đa phương của Việt Nam.
Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho quá trình tái cơ cấu các TCTD, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia vào quá trình tái cơ cấu với chủ trương “việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại giữa các TCTD nước ngoài với tổ chức tín dụng Việt Nam thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện và theo quy định của pháp luật hiện hành; khuyến khích các tổ chức tín dụng nước ngoài hợp tác kinh doanh chặt chẽ với tổ chức tín dụng Việt Nam, đặc biệt trong việc xử lý những vấn đề khó khăn của các tổ chức tín dụng Việt Nam”, NHNN đã trình Chính phủ ký ban hành Nghị định số 01/2014/NĐ-CP ngày 03/01/2014 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của TCTD Việt Nam; Thông tư số 38/2014/TT-NHNN ngày 8/12/2014 quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của TCTD Việt Nam để hướng dẫn Nghị định số 01/2014/NĐ-CP. Với các quy định nêu trên, nhà đầu tư nước ngoài sẽ có thêm cơ hội tham gia đầu tư, khuyến khích các TCTD nước ngoài hợp tác kinh doanh với TCTD Việt Nam, đặc biệt trong việc cơ cấu lại hệ thống TCTD Việt Nam.
Phần thứ ba
KẾT QUẢ CUNG CẤP VÀ TÍNH TIỆN LỢI CỦA CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG, YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Việc mở cửa thị trường ngân hàng, tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của các TCTD, tổ chức tài chính nước ngoài đến từ các khu vực tài chính phát triển như Mỹ, châu Âu, Singapore, Nhật Bản... Các tổ chức này tiên phong trong việc triển khai các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mới với công nghệ cao, mang lại nhiều tiện ích cho xã hội và nền kinh tế. Tuy nhiên, xu thế hội nhập quốc tế cũng mang lại những thách thức lớn cho nền kinh tế cũng như ngành tài chính - ngân hàng Việt Nam. Sự phát triển ngày càng sâu rộng của các ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế có tiềm lực tài chính, kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm lâu năm đã tạo ra cuộc cạnh tranh khốc liệt với các NHTM Việt Nam. Để có thể cạnh tranh được với các TCTD, tổ chức tài chính nước ngoài, các NHTM Việt Nam phải cải thiện về vốn, công nghệ, quản lý điều hành,... để nâng cao năng lực cạnh tranh, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng và đặc biệt là nâng cao chất lượng dịch vụ để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, của nền kinh tế.
Do vậy, sau khi gia nhập WTO, các loại hình sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam ngày càng đa dạng hơn. Đặc biệt, các dịch vụ, phương thức thanh toán đã được phát triển mạnh và đa dạng. Bên cạnh việc hoàn thiện và phát triển các phương thức truyền thống như ủy nhiệm chi (lệnh chi), ủy nhiệm thu (nhờ thu), nhiều dịch vụ, phương thức mới, hiện đại, tiện lợi và tiện ích dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin như: Thẻ ngân hàng, Mobile Banking, Internet Banking, SMS Banking, Ví điện tử,… đã xuất hiện và đang đi dần vào cuộc sống, phù hợp với xu thế thanh toán của các nước trong khu vực và trên thế giới. Ngoài ra, nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán, chuyển tiền ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, trên cơ sở kinh nghiệm triển khai thành công của các nước, NHNN xây dựng và triển khai Đề án thí điểm phát triển một số hình thức thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) ở khu vực nông thôn giai đoạn 2014-2015. Đề án hướng tới việc sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại nhưng dễ sử dụng, phù hợp với địa bàn nông thôn trên cơ sở liên kết/kết hợp giữa NHTM với mạng lưới sẵn có của các tổ chức khác (như cửa hàng xăng dầu, đại lý phân phối viễn thông, hệ thống bưu cục…) trên địa bàn nông thôn để mở rộng, thúc đẩy TTKDTM trên địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo.
Tính đến cuối năm 2014, số lượng thẻ phát hành đạt trên 76 triệu thẻ, với 52 tổ chức phát hành và khoảng 490 thương hiệu thẻ, trong đó hầu hết là thẻ ghi nợ chiếm 91,73%, thẻ tín dụng chiếm 3,99%, thẻ trả trước chiếm 4,28 %; trên 15.800 ATM và hơn 159.000 POS được lắp đặt.
Để khuyến khích các TCTD phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại có chất lượng, hiệu quả, trong thời gian qua, NHNN đã tích cực triển khai xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý cho việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tiện ích của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó đặc biệt chú trọng ban hành các quy định về an toàn đối với các TCTD theo nguyên tắc: (i) Hoàn thiện từng bước theo các Chuẩn mực an toàn quốc tế tốt nhất để đảm bảo tiến trình hội nhập ngày càng sâu và rộng với nền kinh tế quốc tế; (ii) Phù hợp trình độ phát triển về sản phẩm dịch vụ, hoạt động kinh doanh và năng lực quản lý rủi ro, đặc trưng của từng loại hình các TCTD để đáp ứng tốt hơn các yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn hoạt động của hệ thống TCTD Việt Nam; (iii) Có lộ trình phù hợp với điều kiện nguồn lực (tài chính và nhân lực) của hệ thống TCTD Việt Nam để đảm bảo tính khả thi cho các quy định mới, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho các TCTD, chi nhánh NHNNg hoạt động an toàn, lành mạnh, hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích của khách hàng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xin gửi Đoàn Giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Chính phủ để tổng hợp./.
| Nơi nhận: - Văn phòng Quốc hội (50 bản); - Văn phòng Chính phủ (Vụ QHQT); - Ban Lãnh đạo NHNN; - Lưu VP, VP1 (3 bản). |
THỐNG ĐỐC Đã ký: Nguyễn Văn Bình |