Đường cong Phillips và ngưỡng lạm phát ở Việt Nam
PGS.,TS.Tô Kim Ngọc và Nguyễn Khương Duy1
Kể từ khi được đề xuất bởi Phillips (1958), đường cong Phillips đã trải qua nhiều phiên bản khác nhau, song, luôn giữ vai trò quan trọng đối với các nhà điều hành chính sách vĩ mô. Đường cong Phillips hiện đại là sự kết hợp của yếu tố kinh điển với ngưỡng lạm phát, và gần đây, là các yếu tố ổn định tài chính kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và suy thoái kinh tế toàn cầu. Trọng tâm của bài viết là tổng quan lại quá trình phát triển của đường cong Phillips và ứng dụng đường cong Phillips vào thực tiễn tại Việt Nam để xác định ngưỡng lạm phát, đồng thời đưa ra một số gợi mở chính sách cho thời gian tới.
Sự phát triển của đường cong Phillips
Đường cong Phillips kinh điển
Phillips (1958) nghiên cứu thực nghiệm dựa trên số liệu của tiền lương danh nghĩa và tỷ lệ thất nghiệp tại Vương quốc Anh trong giai đoạn 1861-1957 và phát hiện ra mối quan hệ nghịch biến. Do lạm phát có mối tương quan chặt với tiền lương, đồng thời tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa thất nghiệp và tăng trưởng (theo định luật Okun’s), đường cong Phillips còn thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa lạm phát và tăng trưởng:
π = α*(growth - growthn) (1),
với α > 0; π, growth và growthn lần lượt là lạm phát, tăng trưởng và tăng trưởng tiềm năng.
Ban đầu, nghiên cứu của Phillips về cơ bản mới chỉ dừng lại ở thống kê thực tế mà ít có ảnh hưởng tới chính sách. Phải tới nghiên cứu của Paul Samuelson và Robert Solow năm 1960, đường cong Phillips mới trở lên phổ biến với vai trò cung cấp “thực đơn” các lựa chọn chính sách vĩ mô giữa tăng trưởng và lạm phát cho các nhà điều hành. Nhìn chung, mối quan hệ này hoạt động tốt trong giai đoạn 1960s ở Mỹ, song không thể giải thích được hiện tượng diễn ra trong giai đoạn sau đó, khi mà lạm phát và thất nghiệp đều tăng cao trong thập kỷ 1970s (Mankiw, 2010).
Đường cong Philips có tính tới lạm phát kỳ vọng
Milton Friedman và Edmund Phelps (1968) cho rằng, không phải tiền lương danh nghĩa mà tiền lương thực tế mới là nhân tố quyết định tới cung lao động và theo đó là sản lượng. Do đó, yếu tố lạm phát dự tính đã được bổ sung vào mô hình (2) như dưới đây: π = Eπ - β*(u - un) (2), với β > 0, Eπ là lạm phát kỳ vọng, u và un là tỷ lệ thất nghiệp và thất nghiệp tự nhiên. Kể từ đó, lạm phát kỳ vọng trở thành trung tâm nghiên cứu trong việc xác định mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát, trong đó cách thức hình thành kỳ vọng lạm phát và cách ảnh hưởng của kỳ vọng lạm phát tới các quyết định kinh tế là hai hướng nghiên cứu chủ đạo (hình 1).
Hình 1: Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng lên mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
Nguồn: Tổng hợp của các tác giả
Thứ nhất, cách thức hình thành kỳ vọng lạm phát được xem xét trên các phương diện: kỳ vọng tĩnh, kỳ vọng thích nghi và kỳ vọng hợp lý. Cụ thể:
i) Kỳ vọng tĩnh
Kỳ vọng tĩnh được hình thành khi lạm phát thấp và ổn định trong thời gian dài, nền kinh tế duy trì kỳ vọng lạm phát của mình mà không cần quan tâm tới diễn biến của lạm phát trên thực tế. Theo đó, π - hằng số = -β * (u - un). Đường cong Phillips kinh điển ở trên thuộc dạng này (Lipsey, 1960). Hàm ý chính sách ở đây là khi lạm phát kỳ vọng ở dạng tĩnh, các nhà điều hành có thể tùy nghi lựa chọn các mức lạm phát để đạt được tỷ lệ thất nghiệp hay tốc độ tăng trưởng mong muốn. Mối quan hệ nghịch biến giữa lạm phát và thất nghiệp được duy trì và không tồn tại đường cong Phillips thẳng đứng trong dài hạn. Mặc dù vậy, kỳ vọng lạm phát tĩnh rất khó duy trì trong thực tế bởi khi chứng kiến lạm phát thực tế khác biệt nhiều và kéo dài so với kỳ vọng, kỳ vọng lạm phát sẽ thay đổi.
ii) Kỳ vọng thích nghi
Kỳ vọng thích nghi được hình thành khi nền kinh tế cho rằng mức lạm phát gần nhất quan sát được (thông thường là lạm phát năm trước) là chỉ báo tốt cho lạm phát trong tương lai. Giả định này thường đúng trong môi trường có mức tỷ lệ lạm phát thay đổi từ từ. Hàm ý rút ra từ phương trình đường cong Phillips π- πt-1 = -β * (u - un) cho biết để duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên liên tục (u < un ), tỷ lệ lạm phát cũng phải tăng liên tục qua các năm (năm sau cao hơn năm trước π>πt-1 nên còn được gọi là “gia tốc lạm phát”). Cũng chính vì lẽ đó mà un, tức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên còn được gọi là tỷ lệ thất nghiệp không làm gia tăng lạm phát - NAIRU - “Non-Accelerating Inflation Rate Unemployment”. Theo Milton Friedman và Edmund Phelps (1968), trong dài hạn, thị trường lao động và giá cả trở nên rất linh hoạt, tỷ lệ thất nghiệp dừng ở mức tự nhiên, lạm phát thực tế bằng với lạm phát kỳ vọng và không có sự đánh đổi giữa lạm phát và sản lượng. Thực tế, khi mà lạm phát đã lên quá cao, chính sách theo đuổi gia tăng lạm phát được dừng lại, nền kinh tế sẽ chuyển dịch về vị trí nằm trên đường cong Phillips dài hạn tại tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và duy trì lạm phát ở mức cao.
iii) Kỳ vọng hợp lý
Kỳ vọng hợp lý được hình thành khi các chủ thể trong nền kinh tế có thể tiếp cận một cách tốt nhất các nguồn thông tin sẵn có trong cả quá khứ, hiện tại cũng như các tác động có thể xảy ra trong tương lai của các chính sách để thiết lập kỳ vọng lạm phát của mình. Khi các nhà điều hành nới lỏng tiền tệ hoặc tài khóa, nếu các ảnh hưởng của nó đều được công chúng tính toán đến trong quá trình hình thành kỳ vọng lạm phát, đường cong Phillips dịch chuyển lên trên đưa nền kinh tế về trạng thái lạm phát thực tế bằng lạm phát kỳ vọng, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế không thay đổi (Lucas, 1972) (hình 2).
Hình 2: Đường cong Phillips và lạm phát kỳ vọng hợp lý
Nguồn: Mô tả của các tác giả
Như vậy, trạng thái trong dài hạn của nền kinh tế luôn là hiện tại, lạm phát thực tế luôn bằng lạm phát kỳ vọng và tỷ lệ thất nghiệp luôn ở mức tự nhiên. Hàm ý của kết luận này cho biết NHTW không nên mất thời gian theo đuổi chính sách gia tăng lạm phát để duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp, thay vào đó, các nhà điều hành cần tập trung vào nâng cao mức độ tín nhiệm của mình đối với nền kinh tế. Nói cách khác, mức độc lập của NHTW cần được quan tâm hơn, bởi tới lượt nó, mức tín nhiệm của NHTW đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát và định hướng kỳ vọng lạm phát của nền kinh tế.
Ngoài ra, sự điều chỉnh của lạm phát kỳ vọng hợp lý sẽ giúp sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng trở nên bớt đau đớn hơn, đồng thời, thời gian chống lạm phát có thể rút ngắn lại. Cụ thể, Mankiw (2010) đã chỉ ra rằng trong suốt giai đoạn chống lạm phát của Volcker từ năm 1982- 1985, để cắt giảm 1% lạm phát, nền kinh tế Mỹ phải chấp nhận hi sinh 2,8% tỷ lệ tăng trưởng, mức độ hi sinh này là thấp hơn nhiều so với dự báo của các nhà kinh tế theo trường phái kỳ vọng lạm phát thích nghi trước đó. Lý do ở đây là việc kiên quyết của Thống đốc Fed (Volcker) trong quá trình chống lạm phát (thậm chí là chấp nhận tăng trưởng âm trong một số thời điểm) đã đủ để có được sự tin tưởng của nền kinh tế, nền kinh tế chủ động điều chỉnh kỳ vọng lạm phát xuống thấp và kết quả là sự hi sinh của nền kinh tế được giảm bớt đồng thời khoảng thời gian chống lạm phát được rút ngắn đáng kể (hình 3).
Hình 3: Đường cong Phillips theo quá trình chống lạm phát của Volcker
Nguồn: Mankiw, 2010
Thứ hai, cách thức lạm phát kỳ vọng ảnh hưởng tới nền kinh tế được phân tích trên những phương diện sau:
i) Chuyển tải một phần hoặc toàn bộ kỳ vọng lạm phát vào các quyết định kinh tế
Hình dung rằng nền kinh tế được cấu thành bởi hai bộ phận: bộ phận F đã ở mức toàn dụng lao động và bộ phận I chưa ở mức toàn dụng. Khi kỳ vọng lạm phát tăng, toàn bộ mức tăng của kỳ vọng lạm phát sẽ được bộ phận F chuyển tải vào tiền lương (giá cả); trong khi đó, ở bộ phận I, chỉ một phần kỳ vọng lạm phát tăng thêm được tính vào tiền lương. Khi mà nền kinh tế ngày càng tiến tới mức toàn dụng nhân lực, mức chuyển tải vào lạm phát của kỳ vọng lạm phát tăng dần tới mức hoàn toàn. Điều này hàm ý rằng, khi nền kinh tế càng tiến tới mức tiềm năng, lạm phát sẽ càng tăng nhanh hơn (Tobin, 1972).
ii) Kỳ vọng lạm phát hợp lý và gần hợp lý
Giả định rằng nền kinh tế tồn tại hai bộ phận kỳ vọng hợp lý (Rational Expectation) và kỳ vọng gần hợp lý (Near-Rational Expectation). Khi lạm phát thấp và ổn định, các chủ thể trong nền kinh tế thường không quan tâm nhiều tới lạm phát, kỳ vọng lạm phát của họ thường không phải kỳ vọng hợp lý (Near-Rational), họ thường xuyên ước lượng thấp tỷ lệ lạm phát. Do đó, khi lạm phát thực tế lớn hơn lạm phát kỳ vọng, nguồn cung sức lao động được giải phóng nhiều hơn, giúp tăng trưởng kinh tế. Hiện tượng này được các nhà kinh tế học gọi là “ảo giác tiền tệ” - “money illusion”.
Nếu lạm phát tiếp tục tăng, sản lượng vẫn tăng nhưng tăng chậm dần vì số lượng người bị “đánh lừa” bởi ảo giác tiền tệ ít đi. Quá trình được lặp lại cho tới khi tăng trưởng đạt cực đại, nếu lạm phát tiếp tục tăng, tỷ lệ người bị ảo giác ngày càng giảm và bản thân những người vẫn còn ảo giác cũng tự điều chỉnh mức độ bị “đánh lừa” của mình, nền kinh tế trở nên “hợp lý” hơn. Khi đó, lạm phát tiếp tục tăng sẽ khiến tăng trưởng bắt đầu giảm và giảm dần cho tới khi toàn bộ nền kinh tế trở nên “hợp lý hoàn toàn”. Đường cong Phillips sẽ thẳng đứng tại mức thất nghiệp tự nhiên - NAIRU (Akerlof và các cộng sự, 2000).
Như vậy, tồn tại ngưỡng lạm phát mà tại đó, tác động của lạm phát lên tăng trưởng chuyển từ tích cực sang tiêu cực. Nền kinh tế có thể được duy trì ở mức thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (MUR < un), tương ứng với tỷ lệ lạm phát tại mức thất nghiệp đó là MURI - Minimum Unemployment Rate Inflation. Quá trình chuyển đổi từ việc lựa chọn tỷ lệ thất nghiệp không làm gia tăng lạm phát - NAIRU trong điều kiện kỳ vọng lạm phát thích nghi sang lựa chọn tỷ lệ lạm phát tại điểm thất nghiệp thấp nhất - MURI trong điều kiện kỳ vọng lạm phát hợp lý được minh họa trong hình 4.
Hình 4: Quá trình chuyển đổi từ NAIRU sang MURI
Nguồn: Sitikantha Pattanaik và G V Nadhanael, 2011
Đường cong Philips có tính tới ảnh hưởng của các cú shock cung
Việc bổ sung thêm yếu tố shock cung vào phương trình đường cong Phillips xuất phát từ việc OPEC đẩy giá dầu lên cao vào năm 1973 và làm cho lạm phát các nước trên thế giới tăng mạnh. Điều này hàm ý rằng lạm phát có thể thay đổi không phụ thuộc vào kỳ vọng lạm phát và độ lệch sản lượng khi nền kinh tế chịu tác động từ những thay đổi trong giá cả hàng hóa hay giá dầu trên thế giới. Ngoài ra, những cải thiện từ năng suất lao động, khoa học kỹ thuật còn được coi là cú shock cung tích cực.
Ta có:
Ta có: π = Eπ – β*(u – un) + z (3), với z là cú shock cung
Đường cong Phillips có tính tới ảnh hưởng của các nhân tố tài chính
Khủng hoảng tài chính Mỹ và suy thoái kinh tế toàn cầu đã cho các nhà kinh tế cũng như các cơ quan hoạch định chính sách (đặc biệt là các ngân hàng trung ương) cơ hội để nhìn nhận lại vai trò của ổn định tài chính, nhất là trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng.
Trong giai đoạn trước khủng hoảng tài chính, ước lượng thời điểm1 (real-time) của Ủy ban châu Âu cho thấy sản lượng thực tế ở một số nước châu Âu rất gần hoặc thậm chí thấp hơn mức tiềm năng. Sau khi khủng hoảng tài chính diễn ra, tổ chức này đã xem xét lại các tính toán của mình theo ước lượng thời gian (ex-post), kết quả cho thấy độ lệch sản lượng lớn hơn rất nhiều, hàm ý rằng nền kinh tế đã tăng trưởng rất nóng nhưng mô hình truyền thống đã tỏ ra thất bại trong việc phát hiện vấn đề này (hình 5). Chính các ước lượng không chính xác đã dẫn đến những hạn chế trong khả năng ứng phó kịp thời của các NHTW với khủng hoảng tài chính.
Hình 5: Độ lệch sản lượng tại một số nước châu Âu
Nguồn: Frauke Schleer và Marcus Kappler, 2014
Xuất phát từ thực tế đó, các nghiên cứu tập trung vào tác động của các yếu tố ổn định tài chính đối với hoạt động sản xuất, độ lệch sản lượng và sản lượng tiềm năng như Borio và các cộng sự (2013; 2014), Benati (2013), Karfakis (2013), Schleer và Semmler (2014)… Một số kết luận quan trọng được rút ra như sau:
Thứ nhất, nguyên nhân mà các ước lượng truyền thống không chính xác là do tăng trưởng tín dụng cao và kéo dài đã làm cho sản lượng tiềm năng tăng một cách “nhân tạo”, dẫn tới ước lượng độ lệch sản lượng thấp hơn thực tế, các dấu hiệu của nền kinh tế tăng trưởng nóng trở nên không rõ ràng. Theo Borio và các cộng sự (2013), khi tính tới ổn định tài chính, các ước lượng thời điểm hội tụ và tương quan chặt với ước lượng thời gian, tạo cơ sở cho các NHTW có thể phản ứng kịp thời và nhất quán (hình 6).
Hình 6: Độ lệch sản lượng của Mỹ, ước lượng thời gian và ước lượng thời điểm
Nguồn: OECD, IMF và tính toán của Borio và các cộng sự, 2013
Thứ hai, các yếu tố tài chính giải thích đa số biến động chu kỳ của sản lượng (hình 7). Đặc biệt, xung quanh thời điểm xảy ra khủng hoảng chứng kiến sự biến động rất mạnh của bộ phận không giải thích được nguyên nhân. Điều này có thể xuất phát từ cơ chế phản hồi tiêu cực khi bất ổn tài chính tích tụ tới mức đủ lớn, tương tác và cộng hưởng với nhau, làm khuếch đại ảnh hưởng lên nền kinh tế thực. Trên cơ sở đó, Borio và các cộng sự (2013) cho rằng, có thể tồn tại tác động theo ngưỡng khi xem xét ảnh hưởng của yếu tố tài chính lên sản lượng.
Hình 7: Yếu tố tài chính giải thích phần lớn biến động chu kỳ của sản lượng
Nguồn: Borio và các cộng sự, 2013
Thứ ba, dự báo độ lệch sản lượng trở nên đáng tin cậy hơn so với phương pháp truyền thống. Với cùng mức tín cậy 95%, dải biến động của độ lệch sản lượng khi tính tới ổn định tài chính là hẹp hơn so với phương pháp truyền thống, hàm ý rằng mức độ dự báo chính xác hơn (hình 8).
Hình 8: Tương quan mức độ tin cậy của các ước lượng độ lệch sản lượng
Nguồn: Borio và các cộng sự, 2013
Rõ ràng, khi tính tới các yếu tố ổn định tài chính, đường cong Phillips sẽ giải thích tốt hơn mối quan hệ giữa lạm phát và độ lệch sản lượng (Frauke Schleer và Marcus Kappler, 2014).
Đường cong Phillips hiện đại
Thực tế, nền kinh tế ít khi duy trì được trạng thái kỳ vọng tĩnh. Mặt khác, thông tin cũng chưa đủ hoàn hảo để công chúng thiết lập được kỳ vọng hợp lý. Bên cạnh đó, do nền kinh tế không thể xử lý kịp thời các thông tin để đưa vào kỳ vọng lạm phát nên lạm phát sẽ có tính ỳ (quán tính), trong khi những dự đoán nhất định về thay đổi môi trường vĩ mô sẽ vẫn có những ảnh hưởng nhất định (chuyển tải toàn bộ hoặc một phần). Ngoài độ lệch sản lượng đại diện cho cầu kéo và các cú shock cung đại diện cho chi phí đẩy, yếu tố tài chính còn được bổ sung thêm vào phương trình đường cong Phillips hiện đại (Frauke Schleer và Marcus Kappler, 2014) như sau:
Với là lạm phát kỳ vọng tại thời điểm t cho thời điểm t+h; thể hiện tính ì của lạm phát (mức quán tính); là độ lệch sản lượng khỏi sản lượng tiềm năng; là tập hợp các cú shock cung (như giá dầu, giá lương thực thế giới…) và là yếu tố tài chính.
Hình 9: Diễn biến của đường cong Phillips theo chu kỳ kinh tế
Nguồn: Mô phỏngcủa các tác giả
Hình 9 mô tả diễn biến đường cong Phillips theo chu kỳ kinh tế có tính tới ảnh hưởng của yếu tố lạm phát kỳ vọng, các phản ứng chính sách và điều kiện tài chính theo bốn giai đoạn. Cụ thể:
Giai đoạn 1: Giả định nền kinh tế xuất phát từ điểm A tại giai đoạn bắt đầu đi lên của chu kỳ kinh tế. Thời kỳ này thường gắn với những cú shock cung tích cực (năng lực sản xuất được mở rộng), đường tổng cung khá thoải. Tăng trưởng kinh tế cao đi kèm với lạm phát thấp và ổn định. Tuy nhiên, đây cũng là thời kỳ tích tụ bất ổn tài chính thông qua các cơ chế chấp nhận rủi ro và tăng trưởng tín dụng gia tăng.
Giai đoạn 2: Nền kinh tế tăng trưởng ngày càng nóng và vượt xa mức sản lượng tiềm năng. Với tác động của cơ chế gia tốc tài chính, khi lạm phát tăng dần tới một mức nhất định, nền kinh tế bắt đầu quan tâm hơn tới diễn biến tăng liên tục của lạm phát, tăng trưởng tín dụng và giá tài sản lên tới đỉnh điểm.
Giai đoạn 3: Với kỳ vọng lạm phát tăng mạnh, đường cong Phillips dịch chuyển lên trên với mức lạm phát cao hơn nữa, kéo theo là các chính sách điều hành được chuyển sang hướng thắt chặt. Lãi suất tăng mạnh khiến các doanh nghiệp rơi vào khó khăn do đã lạm dụng đòn bẩy tài chính cao trước đó. Các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, nợ xấu tăng cao làm vốn tự có giảm, hạn chế khả năng cung ứng vốn ra nền kinh tế, dẫn tới hiện tượng suy kiệt tín dụng. Nền kinh tế bước vào giai đoạn giải nợ. Lạm phát và yếu tố tâm lý còn làm cho tỷ giá liên tục biến động. Các bất ổn vĩ mô ngày càng trầm trọng - không những lạm phát cao, tăng trưởng thấp mà sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng còn trở nên đau đớn hơn. Nếu như trên đường cong Phillips AB, để đạt mức lạm phát 8 %, tăng trưởng sẽ là 7%, thì ở đường CD, tăng trưởng chỉ đạt mức 4% (mức hi sinh là cao hơn). Tác động của bất ổn tài chính lên chu kỳ kinh tế càng được khuếch đại khi cộng hưởng cùng suy thoái kinh tế toàn cầu hoặc những cú shock cung tiêu cực.
Giai đoạn 4: Nền kinh tế rơi vào suy thoái với lạm phát thấp và tăng trưởng dưới mức sản lượng tiềm năng. Ở đây, nếu lạm phát được kiềm chế và duy trì ở mức hợp lý trong thời gian đủ dài, nền kinh tế sẽ dần điều chỉnh kỳ vọng lạm phát của mình để quay trở về đường cong Phillips AB. Tuy nhiên, nếu nới lỏng chính sách quá sớm để hỗ trợ tăng trưởng, lạm phát sẽ nhanh chóng quay trở lại và neo giữ trên đường cong Phillips CD lâu hơn.
Như vậy, về mặt lý thuyết và mô phỏng thực tiễn chu kỳ kinh tế, có thể thấy, tồn tại một ngưỡng lạm phát mà tại đó, tác động của lạm phát lên tăng trưởng sẽ đảo chiều từ tích cực sang tiêu cực.
Diễn biến đường cong Phillips ở Việt Nam giai đoạn 2000-2015
Biểu diễn mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay trên đường cong Phillips cho thấy những đặc trưng chủ yếu sau: (Hình 10)
Hình 10: Diễn biến đường cong Phillips ở Việt Nam giai đoạn 2000-2015
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trong giai đoạn từ 2000-2007, lạm phát và tăng trưởng cùng tăng trên đường cong Phillips ngắn hạn khá ổn định. Tăng trưởng từ mức 6,7% năm 2000 tăng lên 8,46% năm 2007, cùng với đó lạm phát từ mức -1,62% (2000) đã tăng lên hai chữ số 12,63% (2007). Năm 2008, do tác động từ cú shock cung (giá dầu và giá lương thực thế giới tăng mạnh) và tác động từ chính sách tiền tệ tài khóa nới lỏng trước đó, làm kỳ vọng lạm phát tăng mạnh, khiến đường cong Phillips dịch chuyển mạnh lên phía trên, với mức đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng cao hơn. Trong khi tăng trưởng giảm mạnh xuống mức 6,18% thì lạm phát tăng mạnh lên 19,89%. Tới năm 2009, chịu tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, nền kinh tế di chuyển dọc xuống phía dưới đường cong Phillips 2008 - 2009 với lạm phát và tăng trưởng đều giảm sâu, lần lượt đạt 6,52% và 5,32%.
Nửa đầu năm 2010, các chính sách được theo đuổi theo hướng thắt chặt nhưng sau đó, ngay trong nửa cuối năm, lại mở rộng quá mức khiến cho nền kinh tế đang trong quỹ đạo trở về đường cong Phillips 2000 - 2007, đã đảo chiều hướng về phía đường cong Phillips 2008 - 2009 trong năm 2011 với lạm phát tăng cao (18,58%) và tăng trưởng sụt giảm (5,89%). Không những thế, đường cong Phillips 2011-2012 còn nằm trên cả đường cong Phillips 2008 - 2009 cho thấy mức độ đánh đổi của tăng trưởng cho cắt giảm lạm phát cao hơn. Chính sự không nhất quán trong điều hành, thường xuyên ưu tiên tăng trưởng cao dẫn tới sự nới lỏng tiền tệ quá sớm làm cho lạm phát kỳ vọng của nền kinh tế tăng cao và rất khó điều chỉnh xuống, trừ khi có sự suy giảm kinh tế đủ lớn trong tổng cầu khiến cả lạm phát và tăng trưởng giảm mạnh. Nghiên cứu của Rina Bhattacharya (IMF, 2013) còn chỉ ra, 1% lạm phát trong quá khứ ở Việt Nam sẽ dẫn tới 0,87% lạm phát hiện tại, cao hơn 0,51% so với mức trung bình chung của các nước trong mẫu nghiên cứu, phản ánh sự điều chỉnh chậm chạp kỳ vọng lạm phát của nền kinh tế. Hơn nữa, tác động của các cú shock lên lạm phát sẽ kéo dài hơn gấp 5 lần so với các nước khác trong khu vực.
Giai đoạn từ 2012 - 2015, khi mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô được đặt lên hàng đầu, nền kinh tế dần dịch chuyển về phía đường cong Phillips như giai đoạn 2000 - 2007 với tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng dự kiến trong năm 2015 lần lượt là dưới 3% và 6,5% (theo Báo cáo vĩ mô 6 tháng đầu năm 2015 của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia). Đóng góp vào sự cải thiện này một phần còn đến từ cú shock cung tích cực do giá dầu quốc tế giảm sâu kỷ lục.
Hình 11: Ảnh hưởng của lạm phát lên tăng trưởng kinh tế
Nguồn: Tổng cục thống kê và tính toán của các tác giả
Hình 11 cho thấy rõ hơn tác động theo hiệu ứng ngưỡng của lạm phát lên tăng trưởng. Cụ thể, khi dừng ở mức một chữ số (dưới 10%), lạm phát hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng (khi lạm phát dưới 8%) hoặc ít nhất không tác động tiêu cực lên tăng trưởng một cách rõ ràng (8% - 10%). Trong khi đó, nếu lạm phát vượt qua ngưỡng 10%2, sự sụt giảm của tăng trưởng so với năm trước sẽ được chứng kiến trong năm tiếp theo.
Như vậy, từ những phân tích ở trên, quan sát đường cong Phillips và hình 11, có thể thấy, ở Việt Nam tồn tại ngưỡng lạm phát xung quanh 10%, khi lạm phát vượt qua ngưỡng này sẽ làm cho tăng trưởng sụt giảm. Không những thế, do thị trường tài chính chưa hoàn thiện, thông tin bất cân xứng, lạm phát kỳ vọng thường xuyên biến động mạnh. Khi các cân đối lệch ra khỏi trạng thái cân bằng, nền kinh tế phải tốn rất nhiều thời gian để quay trở về quỹ đạo ổn định. Bằng chứng là trong năm 2009, khi nền kinh tế đã bỏ lỡ cơ hội tái cơ cấu, để đi theo việc sử dụng chính sách nới lỏng để kích thích tổng cầu đã dẫn tới hậu quả là nền kinh tế bị cuốn theo một quỹ đạo xoay tròn với lạm phát cao, tăng trưởng thấp. Phải tới năm 2014 - 2015, khi các cân đối vĩ mô dần được xác lập lại với hệ thống tài chính ổn định hơn, nền kinh tế mới dần quay về quỹ đạo ổn định hơn.
Một số gợi ý chính sách
Thứ nhất, Việt Nam nên theo đuổi mục tiêu lạm phát ở mức 10% để đảm bảo sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và ổn định giá cả. Bên cạnh đó, để có thể ứng phó linh hoạt với tình hình thực tế mà không làm tổn thương tới sự tín nhiệm của công chúng đối với cơ quan điều hành, mục tiêu lạm phát nên được thiết lập dưới dạng khoảng mục tiêu (ví dụ, 9 - 11%) hoặc điểm cộng biên độ (10 ± 1%)3. Điều này sẽ không chỉ giúp nền kinh tế thiết lập kỳ vọng lạm phát tốt hơn (so với mục tiêu lạm phát dưới 10%), mà còn tạo cơ sở tham chiếu cho các cơ quan điều hành có thể can thiệp kịp thời (như nới lỏng chính sách) khi mức lạm phát xuống dưới mức sàn. Ngoài ra, Việt Nam nên tận dụng tốt hơn cơ hội để truyền thông một cách minh bạch và mạnh mẽ tới công chúng về cách thức tính toán và lựa chọn lạm phát mục tiêu hàng năm nhằm củng cố và gia tăng niềm tin của công chúng vào các quyết định điều hành của Chính phủ cũng như NHTW. Điều này, tới lượt nó, sẽ tạo điều kiện nâng cao hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng.
Thứ hai, để kiểm soát lạm phát hiệu quả, Chính phủ cần duy trì lạm phát ở mức ổn định trong thời gian đủ dài, tránh các động thái nới lỏng chính sách sớm. Nhiều nghiên cứu cho thấy lạm phát ở Việt Nam có quán tính cao và kéo dài dai dẳng; công chúng thường tỏ ra nhạy cảm với lạm phát trong quá khứ để hình thành lạm phát kỳ vọng cho hiện tại. Do đó, để kiềm chế lạm phát hiệu quả, Chính phủ phải duy trì được tỷ lệ lạm phát ổn định trong thời gian đủ dài, để nền kinh tế kịp điều chỉnh giảm kỳ vọng lạm phát. Việc nới lỏng tiền tệ tài khóa sớm (như đã từng xảy ra vào 6 tháng cuối năm 2010) không những không cải thiện được tăng trưởng kinh tế một cách bền vững mà còn làm cho kỳ vọng lạm phát cao của nền kinh tế kéo dài dai dẳng hơn, dẫn tới hệ quả là nền kinh tế trong các năm sau đó liên tục rơi vào vòng xoáy bất ổn vĩ mô. Bên cạnh đó, việc phối hợp giữa các chính sách kinh tế vĩ mô (đặc biệt là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa) cần đảm bảo được sự nhất quán và tương thích, tránh các động thái điều hành trái ngược nhau, tránh đánh lạc hướng nền kinh tế.
Thứ ba, các nhân tố ổn định tài chính cần được tính tới trong quá trình điều hành chính sách vĩ mô. Ổn định tài chính không những hỗ trợ cho tăng trưởng mà còn làm giảm bớt sự biến động của lạm phát. Tuy nhiên, việc quan tâm tới ổn định tài chính, đôi lúc cần hi sinh các mục tiêu khác trong ngắn hạn, Chính phủ và NHTW phải phân bổ không gian chính sách để quan tâm tới nhiều mục tiêu hơn. Do đó, để cơ chế mục tiêu có thể vận hành hiệu quả, cần thiết xây dựng được hàm phản ứng chính sách dựa trên mức độ chấp nhận được của nền kinh tế đối với việc không đạt được mỗi mục tiêu và tỷ trọng của nó. Trên cơ sở đó, hình thành xây dựng ma trận mục tiêu trung gian với các ngưỡng tác động làm cơ sở cho quá trình phối hợp đảm bảo hài hòa mục tiêu cuối cùng về tăng trưởng, lạm phát và ổn định tài chính. Để làm được điều này, cần có hệ thống thống dự báo và thống kê hoàn chỉnh dưới sự vận hành và chỉ đạo của Ủy ban Tiền tệ - Tài khóa thống nhất.
Cuối cùng, cần chuyển dịch mạnh mẽ và thực chất hướng ưu tiên chính sách sang tái cấu trúc tổng cung của nền kinh tế, theo hướng gia tăng sản lượng tiềm năng. Rõ ràng, khi mà không gian cho các chính sách mở rộng tổng cầu hầu như đã giới hạn, mở rộng đường sản lượng tiềm năng, nâng cao năng suất lao động, cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực là đòi hỏi bắt buộc của giai đoạn tới. Nền tảng là yêu cầu cải cách thể chế nhằm chuyển động thực sự ba chương trình tái cấu trúc chủ yếu (doanh nghiệp nhà nước, đầu tư công và hệ thống ngân hàng). Đây được coi là chìa khóa để cải thiện và thiết lập lại các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo căn cứ xác lập lại không gian cũng như hiệu lực của các chính sách tác động vào tổng cầu của nền kinh tế. Chỉ có như vậy, các không gian chính sách mới được cải thiện, đồng thời mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng đặt trong mối quan hệ với ổn định tài chính mới được giải quyết một cách căn bản và triệt để.
1 Học viện Ngân hàng
1 Ước lượng thời gian là ước lượng dựa trên toàn bộ dữ liệu (giả sử từ năm 2001 - 2014), ước lượng thời điểm (tại 200X là ước lượng chỉ dựa trên số liệu quan sát được từ năm 2011 - 200X.
2 Theo số liệu thống kê từ 2000-2015, điều này vẫn đúng với mức lạm phát 12%.
3 Biênđộ ±1% là mức phổ biến theo thông lệ quốc tế ở các nước thực hiện cơ chế lạm
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Philips, A W (1958), “The Relationship between Unemployment and the Rate of changeofMoney WageRatesintheUK, 1861- 1957”, Economica.
2. Lipsey, R G (1960), “The Relationship between Unemployment and the Rate of Change of Money Wage Rates in the United Kingdom”, 1862-1967: A Further Analysis”, Economica.
3. Samuelson, P A and R M Solow (1960), “Analytical Aspects of Anti-inflation Policy”, American Economic Review.
4. Friedman, Milton (1968), “The Role of Monetary Policy”, American Economic Review, Vol.
5. Phelps, E S (1968), “Money Wage Dynamics and Labour Market Equilibrium”, Journal of Political Economy.
6. Lucas Jr., R E (1972), “Expectations and the Neutrality of Money”, Journal of Economic Theory.
7. N. Gregory Mankiw (2010), “Macroeconomics”, Havard University, Worth Publishers.
8. Tobin, J. (1972), “Inflation and Unemployment”, American Economic Review, reprinted in Essays in Economics: Volume 2, New York: North-Holland, 1975.
9. Akerlof, G.A., Dickens, W.T., and Perry, G.L. (2000), “Near-Rational Wage and Price Setting and the Long Run Phillips Curve,” Brookings Papers on Economic Activity.
10. Sitikantha Pattanaik và G V Nadhanael, 2011, “WhyPersistentHighInflationImpedes Growth? An Empirical Assessment of Threshold Level of Inflation for India”, RBI Working Paper Series.
11. Borio, C., Disyatat, P. and Juselius, M. (2013), “A new approach to measuring potential output: Avoiding pitfalls when incorporatingeconomicinformation”, Bankfor International Settlements (BIS).
12. Borio, C., Disyatat, P. and Juselius, M. (2014), “A Parsimonious Approach to Incorporating Economic Information in Measures of Potential Output”, Technical report, BIS Working Papers No 442.
13. Frauke Schleer and Marcus Kappler, (2014), “The Phillips Curve: (In)stability, the role of Credit, and Implications for Potential Output Measurement”, Centre for European Economic Research, Discussion Paper No. 14-067.
14. Rina Bhattacharya (2013), “Inflation DynamicsandMonetaryPolicy Transmission in Vietnam and Emerging Asia”, IMF Working Paper WP/13/155.
15. Báo cáo vĩ mô 6 tháng đầu năm 2015, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
16. PGS., TS. Tô Kim Ngọc và Nguyễn Khương Duy, 2013, “Chính sách lạm phát mục tiêu- Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, Hội thảo khoa học “Chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu: Sự lựa chọn thích hợp cho Việt Nam?”…