Luật Doanh nghiệp mới và những hạn chế tiếp cận thông tin doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng
TS. Nguyễn Hữu Đương1
Doanh nghiệp là chủ thể chính của các giao dịch tài chính, tiền tệ trên thị trường, đó cũng là khách hàng chủ yếu và quan trọng nhất trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Khi có sự thay đổi môi trường pháp lý từ những quy định trong văn bản quy phạm pháp luật áp dụng đối với doanh nghiệp, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định giao dịch trên thị trường.
Thông tin doanh nghiệp là cơ sở dữ liệu chính để các tổ chức tài chính - ngân hàng xác định chủ thể, phân tích, đánh giá toàn diện khách hàng trước mỗi giao dịch kinh tế. Thông tin doanh nghiệp đăng ký với cơ quan chức năng khi thành lập và những thay đổi trong quá trình hoạt động là những thông tin phi tài chính cơ bản trong hồ sơ về doanh nghiệp. Với những quy định trong Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 (Luật Doanh nghiệp mới), đã tạo điều kiện khuyến khích sự thành lập mới và mở rộng hoạt động của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với các tổ chức tín dụng có đặc thù riêng yêu cầu về thông tin doanh nghiệp cần đầy đủ, chính xác, kịp thời, có căn cứ pháp luật và khi Luật Doanh nghiệp mới có hiệu lực, việc thu thập, xử lý thông tin về doanh nghiệp đã gặp một số khó khăn, hạn chế khi tiếp cận thông tin.
Hạn chế thông tin để các tổ chức tài chính - ngân hàng xác định ngành, nghề hoạt động chính của doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp mới quy định vẫn phải ghi ngành nghề kinh doanh trong hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp và mỗi khi thay đổi bổ sung phải gửi thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanh, nhưng trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp lại không ghi ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Thay vì đồng nhất thông tin về doanh nghiệp trong các loại giấy tờ đăng ký với cơ quan luật pháp có thẩm quyền, Luật Doanh nghiệp mới cho phép “cắt giảm” thông tin, các doanh nghiệp có thể tự chủ và thay đổi liên tục giữa những lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh, ngành nghề, địa bàn, điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh. Trong khi đây là những thông tin quan trọng, cần rõ ràng, ổn định để xác định đúng chủ thể doanh nghiệp, tránh nhầm lẫn, sai sót trong nhìn nhận, đánh giá phân tích khách hàng của các tổ chức tài chính - ngân hàng. Luật Doanh nghiệp mới quy định doanh nghiệp hoạt động ngành, nghề nào thì tuân theo pháp luật chuyên ngành của ngành, nghề đó. Trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực, đa ngành nghề, có khi chính doanh nghiệp cũng không xác định được ngành, nghề hoạt động chính của mình. Thiếu sự rõ ràng về thông tin doanh nghiệp, sẽ khiến các tổ chức tài chính - ngân hàng gặp khó khăn trong tiếp cận, tìm hiểu, phân tích đánh giá khách hàng và kết quả giao dịch kinh tế có thể gây thiệt hại cho tổ chức khi xác định sai ngành, nghề hoạt động kinh doanh chính của khách hàng.
Hạn chế thông tin khi xác định vốn điều lệ của doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp mới quy định được bỏ việc xác định vốn pháp định đối với mỗi doanh nghiệp. Vốn điều lệ của khách hàng là một chỉ tiêu quan trọng thường sử dụng trong nghiệp vụ phân tích xếp hạng, thẩm định hồ sơ khách hàng trước mỗi giao dịch phát sinh trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Khi doanh nghiệp mới thành lập, chưa xác định được vốn chủ sở hữu thực góp của các chủ doanh nghiệp, dựa trên cơ sở các hồ sơ do khách hàng cung cấp, ngân hàng tìm hiểu tư cách của khách hàng như có đủ năng lực tài chính hay không và đối chiếu với các qui định của pháp luật hiện hành để xem xét khách hàng có đủ điều kiện giao dịch không?
Xác định đúng loại hình doanh nghiệp cũng là một nghiệp vụ cơ bản khi thành lập hồ sơ khách hàng trong các ngân hàng. Theo Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ giải thích, doanh nghiệp FDI bao gồm “tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%”. Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 121/2008/ QĐ-BTC của Bộ Tài chính lại xác định nhà đầu tư nước ngoài bao gồm cả “tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này”. Đó là một số văn bản quy phạm dưới Luật được ban hành để hướng dẫn Luật có sự thiếu thống nhất thể hiện rất rõ. Theo Nghị định số 61/2013/ NĐ-CP ngày 25/6/2013 của Chính phủ, chỉ có doanh nghiệp nhà nước có những quy định về công khai thông tin của doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo Luật Doanh nghiệp mới, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, như vậy quy định công khai thông tin của doanh nghiệp theo quy định chỉ áp dụng cho số lượng doanh nghiệp có thể "đếm trên đầu ngón tay". Bên cạnh đó, trong thực tế, thông tin về các doanh nghiệp nhà nước công chúng khó tiếp cận.
Về thông tin người đại diện pháp luật, Luật Doanh nghiệp mới quy định công ty hoàn toàn có thể tự quyết định, chỉ định một người đại diện theo pháp luật hoặc trong trường hợp cần thiết thì có quyền tự chủ quyết định việc có nhiều người đại diện theo pháp luật, số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định tại Điều lệ công ty. Trong khi đó, phiếu lý lịch tư pháp của người đại diện doanh nghiệp không phải là tài liệu bắt buộc trong hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp. Với ngân hàng, thông tin về lãnh đạo đăng ký trong hồ sơ được sử dụng để phân tích doanh nghiệp. Trong khi quy định mới không cần đăng ký lý lịch tư pháp của người đại diện là một khó khăn cho sự xác định thông tin của lãnh đạo doanh nghiệp trong nghiệp vụ ngân hàng.
Hiện nay, với những đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng liên quan trực tiếp tới các doanh nghiệp, để có số lượng lớn thông tin tín dụng của doanh nghiệp phục vụ quản lý nhà nước, dự báo thị trường, hoạt động kinh doanh ngân hàng,… khi cần thu thập thông tin về doanh nghiệp vẫn chưa có “kho thông tin” đầy đủ, chính xác, cập nhật để khai thác. Chưa có sự liên kết giữa các Bộ - Ban - Ngành chủ quản khác nhau để khai thác thông tin cơ bản của doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong cả nước. Thông tin đăng ký của doanh nghiệp chỉ luân chuyển trong một số cơ quan nội bộ hạn chế, trong khi nhu cầu sử dụng thông tin về các doanh nghiệp là rất lớn không chỉ đối với cơ quan nhà nước mà còn có các tổ chức, cá nhân độc lập.
Với công chúng, trong môi trường kinh tế hiện nay, có nhiều luồng thông tin đa chiều khi hoạt động kinh doanh các nhà đầu tư cần cơ quan nhà nước tạo hành lang pháp lý thống nhất, thuận lợi để tiếp cận, khai thác thông tin về khách hàng, đối tác đầy đủ, phù hợp, chất lượng để đánh giá một cách toàn diện về doanh nghiệp đó.
Luật nên đi kèm các văn bản dưới Luật hướng dẫn đồng nhất, rõ ràng, cụ thể để các tổ chức kinh tế, công chúng thuận lợi trong tiếp cận và khai thác thông tin. Luật không nên siết chặt việc thành lập mới, mở rộng hoạt động và phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp nhưng cũng cần tránh quá nới lỏng trong quản lý, xác định được số lượng thành lập và hoạt động thực sự của các doanh nghiệp.
1 Phó Tổng Giám đốc Trung tâm TTTD Quốc gia Việt Nam