Trước hết Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xin trân trọng cảm ơn các Đồng chí lãnh đạo tỉnh Sơn La đã quan tâm đến hoạt động tiền tệ ngân hàng nói chung và hoạt động ngân hàng trên địa bàn nói riêng. Vừa qua, trong đợt tiếp xúc cử tri của Hội đồng nhân dân Khóa XIII tỉnh Sơn La có 02 ý kiến của cử tri liên quan đến hoạt động ngân hàng do Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La chuyển đến Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Sơn La tại công văn số 2712/UBND-KTTH ngày 17/9/2015. Cụ thể:
Kiến nghị 1: “Đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi Thông tư số 04/2015/TT-NHNN ngày 31/3/2015 quy định về Quỹ tín dụng nhân dân. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/6/2015 nhưng không phù hợp:
- Tại điều 28: mức vốn góp xác lập tư cách thành viên tối thiểu là 300.000 đồng là quá cao, trước đây chỉ có 50.000 đồng; mức vốn góp thường niên áp dụng từ năm 2016 là 100.000 đồng là quá cao, khó có thể thực hiện được;
- Tại khoản 2 điều 36: xem xét tổng mức nhận tiền gửi từ thành viên quỹ tín dụng tối thiểu bằng 50% là quá cao, tỷ lệ hiện tại chỉ là 31%;
- Tại khoản 7 điều 41: xem xét việc tham gia vào quỹ bảo đảm an toàn hệ thống vì hiện tại quỹ tín dụng đang mua bảo hiểm cho khách hàng, nếu phải nộp quỹ bảo đảm an toàn hệ thống nữa sẽ rất khó khăn”.
Trả lời:
1. Về mức vốn góp xác lập tư cách thành viên và vốn góp thường niên:
Do đặc thù Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động theo mô hình Hợp tác xã (HTX), việc quy định mức vốn góp của thành viên được xây dựng trên nguyên tắc:
(i) Đảm bảo đủ vốn theo quy mô hoạt động của QTDND để nâng cao khả năng tài chính của QTDND;
(ii) Phù hợp với mức thu nhập, khả năng tài chính của thành viên khi tham gia QTDND vì đa số thành viên QTDND là người có thu nhập thấp.
Hiện quy mô của hệ thống QTDND đã tăng trưởng hơn so với thời điểm năm 2005. Thu nhập cá nhân của các thành viên QTDND cũng đã có sự thay đổi theo thời gian. Cụ thể là trước đây, theo quy định về chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001 – 2005 thì thu nhập bình quân của khu vực thấp nhất (nông thôn miền núi; hải đảo) là 80.000 đồng/tháng1 thì nay theo quy định về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011- 2015 mức thu nhập bình quân của khu vực thấp nhất (nông thôn) là 400.000 đồng/người/tháng2.
Như vậy, mức vốn góp xác lập tư cách thành viên 50.000 đồng (được áp dụng thực hiện từ năm 2005) đến nay không còn phù hợp với quy mô hoạt động, không đảm bảo đủ vốn cho QTDND hoạt động an toàn, hiệu quả.
Thông tư số 04 đã quy định hằng năm các thành viên QTDND phải tham gia góp vốn thường niên 100.000 đồng/năm với cơ chế góp vốn linh hoạt (có thể nộp nhiều lần) vào QTDND. Quy định này vừa đảm bảo phù hợp với mặt bằng thu nhập thực tế của các thành viên tham gia QTDND, vừa nhằm mục đích tuân thủ theo mô hình HTX, duy trì, tăng cường tính liên kết giữa thành viên với QTDND, loại bỏ các thành viên ‟ảo” – chỉ tham gia góp vốn lần đầu để vay vốn từ QTDND, đồng thời bổ sung nguồn vốn hoạt động, nâng cao khả năng tài chính cho QTDND.
2. Về tổng mức nhận tiền gửi từ thành viên:
Trong quá trình xây dựng Thông tư số 04, NHNN đã thống kê, đánh giá tình hình huy động vốn và mức độ rủi ro thanh khoản của các QTDND có huy động tiền gửi của khách hàng không phải là thành viên. Kết quả cho thấy một số QTDND có tỷ lệ nhận tiền gửi ngoài thành viên rất cao (trên 70%), có nguy cơ không đảm bảo khả năng chi trả cho khách hàng không phải là thành viên khi rút tiền, không đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật các TCTD, từ đó gây mất an toàn cho QTDND và hệ thống QTDND.
QTDND là loại hình TCTD được tổ chức theo mô hình HTX. Theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Luật HTX và Khoản 2, Điều 5 Nghị định 193/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã, HTX có quyền cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho thành viên và thị trường nhưng phải đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ đối với thành viên, trong đó tỷ lệ cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của các HTX cho khách hàng không phải là thành viên không quá 50% tổng giá trị cung ứng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã (đối với lĩnh vực phi nông nghiệp)3.
Như vậy, quy định về ‟tổng mức nhận tiền gửi từ thành viên của QTDND tối thiểu bằng 50% tổng mức nhận tiền gửi của QTDND” tại khoản 2 Điều 36 Thông tư số 04 là mức tối thiểu và phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 8 Luật HTX. Quy định này nhằm giảm rủi ro mất khả năng chi trả cho khách hàng không phải thành viên, đồng thời đảm bảo mục tiêu liên kết, tương trợ giữa các thành viên của QTDND.
Bên cạnh đó, Thông tư số 04 cũng có quy định về việc chuyển tiếp đối với QTDND có mức huy động vốn từ thành viên không đảm bảo mức tại khoản 2 Điều 36 Thông tư 04. Theo đó, QTDND có mức huy động từ thành viên thấp hơn mức 50% tổng vốn huy động phải xây dựng phương án đảm bảo trong thời gian 12 tháng kể từ ngày Thông tư số 04 có hiệu lực thi hành tuân thủ đúng theo quy định.
3. Về việc tham gia quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND (Quỹ bảo toàn)
- Khoản 1 Điều 10 Luật các TCTD quy định:
“Điều 10. Bảo vệ quyền lợi của khách hàng
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm sau đây: 1. Tham gia tổ chức bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật và công bố công khai việc tham gia tổ chức bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi tại trụ sở chính và chi nhánh”.
Như vậy, ngoài việc tham gia bảo hiểm tiền gửi, việc tham gia tổ chức bảo toàn (Quỹ bảo toàn đối với QTDND) là trách nhiệm của các TCTD trong đó có QTDND.
- Mục đích của việc tham gia bảo hiểm tiền gửi là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền vào QTDND khi QTDND lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả hoặc phá sản. Trong khi đó, việc tham gia vào Quỹ bảo toàn là nhằm mục đích để cho vay hỗ trợ các QTDND khi khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả để có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường. So với bảo hiểm tiền gửi, Quỹ bảo toàn là “tấm đệm” bảo vệ QTDND, là công cụ giúp các QTDND chủ động hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau thông qua việc đóng góp phí tạo nguồn cho Quỹ bảo toàn để cho vay các QTDND khác trong trường hợp gặp khó khăn.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trân trọng cảm ơn sự quan tâm sát sao của các cấp ủy, chính quyền, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng. Nhờ đó các cơ chế, chính sách về tiền tệ, ngân hàng đã thực sự đi vào cuộc sống, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
Kiến nghị 2: “Đề nghị sớm cho mở chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La để thuận tiện cho nhân dân trong huyện vay vốn trồng rừng, phát triển sản xuất nông nghiệp, đầu tư cơ sở chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, …”
Trả lời:
Tiếp thu ý kiến của cử tri, ngày 7/12/2015, NHNN đã ban hành văn bản số 9337/NHNN-TTGSNH chấp thuận đề nghị thành lập Phòng Giao dịch Sốp Cộp trực thuộc Chi nhánh huyện Sông Mã của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Tỉnh Sơn La nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Trên đây là ý kiến trả lời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về nội dung kiến nghị của cử tri tỉnh Sơn La. Ngân hàng Nhà nước rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La đối với hoạt động của ngành Ngân hàng nói chung và hoạt động ngân hàng trên địa bàn nói riêng.