Cần sớm áp dụng phí bảo hiểm tiền gửi không đồng hạng
TS. Nguyễn Thị Kim Oanh1
ThS. Nguyễn Tuấn Anh2
Sau hơn mười sáu năm triển khai, chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) công khai ở Việt Nam đáp ứng mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần đảm bảo an toàn và ổn định hoạt động ngân hàng, ngày càng được thể hiện rõ nét. Mặc dầu vậy, cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, một số yêu cầu cao hơn, chi tiết hơn được đặt ra trong khuôn khổ chính sách BHTG cần được quan tâm. Áp dụng phí BHTG không đồng hạng để góp phần phản ánh uy tín và năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hàng là một trong các yêu cầu mà tổ chức BHTG Việt Nam cần dành nhiều quan tâm hơn nữa.
Thử nghiệm thành công phí BHTG đồng hạng
Vốn hoạt động đóng vai trò quan trọng, quyết định thành công của nhiều tổ chức và được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt đối với đảm bảo rủi ro cho khách hàng của nhiều hoạt động, trong đó có hoạt động BHTG. Tại hầu hết các quốc gia có triển khai hoạt động BHTG, phí BHTG là nguồn tài chính quan trọng, tích lũy vốn đảm bảo cho mục đích của hoạt động BHTG. Có ba hình thức mà tổ chức tham gia BHTG đóng góp tài chính có thể áp dụng trong triển khai hoạt động BHTG: đóng góp ban đầu, đóng góp thường xuyên (hai hình thức này có tài liệu còn gọi chung là đóng góp trước) và đóng góp sau. Phí BHTG đóng thường xuyên là hình thức đóng góp tài chính phổ biến được áp dụng. Tỷ lệ phí BHTG mà mỗi tổ chức tham gia BHTG được áp dụng để tính phí BHTG phải đóng được chia làm hai loại: tỷ lệ phí BHTG đồng hạng và tỷ lệ phí BHTG không đồng hạng. Quốc gia khi khởi xướng chính sách BHTG công khai căn cứ vào mức độ phát triển của hệ thống tài chính, ngân hàng và các ngành có liên quan khác, như kiểm toán, đánh giá doanh nghiệp, mức độ minh bạch của các thành viên tham gia thị trường, mức độ phát triển của thị trường chứng khoán... để quyết định áp dụng phí BHTG đồng hạng hay không đồng hạng.
Khi áp dụng phí BHTG, một số yêu cầu của chính sách công được đặt ra, bao gồm: (1) Đóng góp để tạo nguồn thu từ cộng đồng tổ chức có hoạt động kinh doanh ngân hàng đáp ứng tài trợ chi phí chi trả tiền BHTG cho các trường hợp rủi ro gây đóng cửa ngân hàng; (2) Khuyến khích huy động tiền gửi vào hệ thống ngân hàng, tổ chức tài chính; (3) Cân đối giữa trách nhiệm đóng góp tài chính và quyền lợi mà tổ chức tham gia BHTG nhận được; (4) Tính tiện lợi, khả thi trong tính phí BHTG; (5) Giảm thiểu khả năng bất lợi trong đóng góp tài chính cho tổ chức tham gia BHTG. Trật tự ưu tiên của các yêu cầu này có thể thay đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn. Để định hướng áp dụng phí BHTG ở Việt Nam trong tương lai, chúng ta lần lượt xem xét mức độ đáp ứng các yêu cầu này trong việc áp dụng phí BHTG đồng hạng trong thời gian qua.
Thứ nhất, tính từ khi triển khai chính sách BHTG đến 31/12/2015, số phí BHTG thu từ các tổ chức tham gia BHTG ở Việt Nam đạt gần 370 % mức vốn điều lệ được cấp. Cũng trong thời gian này, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) đã thực hiện chi trả đầy đủ và kịp thời tới người gửi tiền tại 39 Quĩ tín dụng nhân dân bị chấm dứt hoạt động và không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền (BHTGVN, 2015). Có thể nói, tiền thu phí trong thời gian qua đã đáp ứng yêu cầu chi trả trong kỳ và góp phần tích tụ nâng cao năng lực tài chính đáng kể, dự phòng cho rủi ro có thể xảy ra trong tương lai.
Thứ hai, chính sách BHTG bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, củng cố niềm tin của công chúng đối với hoạt động ngân hàng đã góp phần tích cực thúc đẩy tăng huy động vốn từ công chúng của hệ thống ngân hàng. Nghiên cứu cho thấy, huy động vốn vào ngân hàng Việt Nam từ năm 2000 tăng đáng kể, đặc biệt tiền gửi được bảo hiểm có tốc độ tăng nhanh hơn so với mức tăng tổng tiền gửi (tham chiếu Biểu đồ 1). Điều đó, cũng đồng nhất với kết luận ở nhiều quốc gia có triển khai hoạt động BHTG công khai, phần nào phản ánh tác động của chính sách BHTG đối với tăng huy động tiền gửi của hệ thống ngân hàng. (Biểu đồ 2)
Biểu đồ1: mức độ tăng huy động tiền gửi của ngân hàng Việt Nam
(Năm 2014 so với năm 2010)
Nguồn: Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Biểu đồ 2
Thứ ba, khi xây dựng chính sách BHTG, việc cân đối giữa lợi ích trực tiếp mà tổ chức tham gia BHTG có được thông qua hạn mức chi trả bảo hiểm tới người gửi tiền và phí BHTG phải đóng góp cần được xác định một cách hài hòa. Nghiên cứu cho thấy, trong 35 quốc gia có đặc điểm tương đối tương đồng trong xác định phí BHTG và hạn mức chi trả BHTG, phí BHTG ở Việt Nam chỉ xếp thứ 14 tính từ nước có mức phí thấp nhất. Bên cạnh đó, hạn mức chi trả BHTG tới người gửi tiền của Việt Nam xếp thứ 30 trong số 35 nước được xem xét. Điều đó, cho thấy tính ưu việt của chính sách BHTG của Việt Nam xét trên khía cạnh quan tâm quyền lợi người gửi tiền nhiều hơn và sự hỗ trợ đáng kể đối với tổ chức tham gia BHTG trong giai đoạn vừa qua.
Thứ tư, xác định tỷ lệ phí, cơ sở tính phí cần được thiết kế đảm bảo việc tính phí thuận lợi, đơn giản, dễ kiểm tra và giảm thiểu phát sinh các báo cáo phức tạp về dữ liệu liên quan tới việc tính và nộp phí. Phí BHTG đồng hạng và số dư tiền gửi được bảo hiểm làm cơ sở tính phí có ưu thế nổi trội đáp ứng tiêu chí này. Vì vậy, Việt Nam cũng như đa số quốc gia khác, trong giai đoạn đầu triển khai chính sách BHTG công khai đều áp dụng phí đồng hạng.
Thứ năm, với thiết kế lấy số dư tiền gửi tính phí là tiền gửi được bảo hiểm và ấn định mức phí thấp so với lợi ích trực tiếp được đảm bảo bằng tiền bảo hiểm, chính sách BHTG ở Việt Nam thời gian qua đã tạo điều kiện hỗ trợ tổ chức tham gia BHTG có hạn chế về qui mô hoạt động, thời gian tham gia kinh doanh ngân hàng chưa nhiều, địa bàn hoạt động xa trung tâm đô thị...; đồng thời, loại bỏ được khả năng hưởng lợi nhiều hơn (đóng phí ít hơn) hoặc hưởng lợi ít hơn (đóng phí nhiều hơn) của các ngân hàng thương mại lớn do lợi thế có khả năng huy động tiền gửi không thuộc đối tượng được bảo hiểm.
Xét trên năm yêu cầu như vậy, tính đến thời điểm 31/12/2015, có thể nhận định, phí BHTG đồng hạng hàng năm ở mức 0,15% tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm áp dụng ở Việt Nam trong thời gian qua, đã cơ bản đáp ứng yêu cầu đề ra.
Hạn chế của phí BHTG đồng hạng
Cạnh tranh bình đẳng và hội nhập đặt ra yêu cầu loại bỏ ưu đãi và phân biệt đối xử trong kinh doanh. Ưu điểm nổi bật của phí BHTG đồng hạng là thuận lợi trong triển khai. Vì tất cả các tổ chức tham gia BHTG đều được áp dụng chung một tỷ lệ phí BHTG đóng góp như nhau, nên nhu cầu phải đánh giá chính xác tình hình hoạt động của tổ chức tham gia BHTG là không nhất thiết trong việc xem xét trách nhiệm tài chính của tổ chức tham gia BHTG. Ưu điểm này, đã tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho tổ chức BHTG, đặc biệt trong giai đoạn đầu mới triển khai hoạt động BHTG.
Bên cạnh đó, phí BHTG đồng hạng bộc lộ một số hạn chế cơ bản cần được nghiên cứu, có kế hoạch khắc phục. Tỷ lệ phí BHTG như nhau áp dụng chung cho tất cả khách hàng tham gia BHTG sẽ tạo nên khả năng xảy ra các biểu hiện ỷ lại xét về góc độ quản lý rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG, đồng thời không có tác dụng khuyến khích các ngân hàng thi đua hoạt động tốt, an toàn cao để được áp dụng tỷ lệ phí BHTG thấp. Nghiên cứu của Cull (1998, tr.2) cho thấy, đối với các hệ thống BHTG áp dụng tỷ lệ phí BHTG đồng hạng, động lực thúc đẩy ngân hàng chấp nhận rủi ro cao hơn trong hoạt động càng trở nên mạnh mẽ hơn. Hơn nữa, nhiều tổ chức BHTG cũng đánh giá phí BHTG là một trong các tín hiệu công bố với thị trường về tình hình hoạt động của tổ chức tham gia BHTG, đặc biệt là mức độ rủi ro trong kinh doanh. Điều đó, đặt ra yêu cầu cần xem xét áp dụng phí BHTG không đồng hạng.
Khó khăn trong áp dụng phí BHTG không đồng hạng
Mặc dầu một số hoạt động của tổ chức BHTG có tính độc lập tương đối, tính khả thi của việc triển khai phí BHTG theo mức độ rủi ro trong hoạt động của tổ chức tham gia BHTG phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của một số lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Đó là các lĩnh vực liên quan tới hệ thống đánh giá độc lập hoạt động của các đơn vị có huy động tiền gửi; sự phát triển của thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán; sự phát triển của hoạt động kiểm toán. Hoạt động của những lĩnh vực này là điều kiện cần thiết cho phép phương thức tính phí BHTG theo mức độ rủi ro của khách hàng có tính khả thi.
Tổ chức BHTG khi phát triển đến một trình độ nhất định có thể có khả năng đánh giá hoạt động của tổ chức tham gia BHTG với mức độ chính xác cao. Tuy nhiên, để tổ chức BHTG làm được điều đó một cách độc lập, một đội ngũ nhân lực và kỹ năng chuyên sâu ở nhiều ngành cần được hội tụ. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia có hoạt động BHTG cho thấy, quá trình đó nếu do tổ chức BHTG tự thực hiện sẽ đòi hỏi một thời gian khá dài.
Hệ thống đánh giá độc lập các ngân hàng và tổ chức tài chính như Moody's, cung cấp kịp thời và công khai kết quả đánh giá định kỳ tình hình hoạt động của các ngân hàng và tổ chức tài chính, là nguồn thông tin có giá trị có thể sử dụng để xác định tỷ lệ phí BHTG. Kết quả cho điểm đánh giá của các tổ chức kiểm toán ở Đức cũng là cơ sở được dùng để xác định tỷ lệ phí BHTG của hệ thống BHTG của Hiệp hội Ngân hàng Đức. Ngoài ra, tín hiệu về diễn biến giá của cổ phiếu, diễn biến lãi suất của các công cụ huy động vốn của ngân hàng và tổ chức tài chính trên thị trường chứng khoán và thị trường tiền tệ là những cơ sở khách quan và quan trọng để tham khảo trong việc đánh giá tổ chức huy động tiền gửi. Trên cơ sở ba nguồn thông tin này, tỷ lệ phí BHTG đối với từng tổ chức tham gia BHTG được xác định.
Hiện nay, các kênh thông tin làm cơ sở xác định tỷ lệ phí BHTG không đồng hạng mà các nước có hoạt động BHTG vận dụng như nêu trên đây chưa hình thành đầy đủ ở Việt Nam. Trên thực tế, việc áp dụng hình thức thu phí theo tỷ lệ phí BHTG có phân biệt đối với các tổ chức tham gia BHTG đòi hỏi thời gian nghiên cứu và chuẩn bị lâu dài. Ở Mỹ, mặc dầu ba nguồn thông tin cơ sở như nêu trên đây đã phát triển sớm hơn nhiều quốc gia khác, song, quá trình chuyển từ áp dụng tỷ lệ phí BHTG đồng hạng sang áp dụng tỷ lệ phí BHTG không đồng hạng mất một thời gian rất dài, 59 năm (từ 01/01/1934 đến 01/01/1993) (FDIC, 1998). Việt Nam muốn áp dụng tỷ lệ phí BHTG dựa trên cơ sở đánh giá hoạt động của tổ chức tham gia BHTG cần có kế hoạch xây dựng các kênh thông tin cần thiết. Đây là nhiệm vụ đặt ra thách thức lớn đối với BHTGVN. Mặc dầu vậy, việc trì hoãn lâu hơn nữa sẽ là hạn chế đối với tính hiệu quả của công cụ chính sách BHTG.
Định hướng áp dụng phí BHTG không đồng hạng
Vượt qua những khó khăn để áp dụng hoàn hảo phí BHTG không đồng hạng trong điều kiện cơ sở thông tin và tiêu chí đánh giá tổ chức kinh doanh ngân hàng đang trong quá trình nghiên cứu và thử nghiệm là mong muốn không dễ thực hiện. Để từng bước đạt được mục tiêu áp dụng phí BHTG không đồng hạng, phản ánh chi phí về BHTG đối với mức độ rủi ro trong hoạt động của mỗi tổ chức tham gia BHTG và là một trong những tín hiệu phản ánh hoạt động của các tổ chức đó, mức độ rủi ro trong hoạt động của mỗi tổ chức tham gia BHTG cần được nghiên cứu và đánh giá một cách đầy đủ. Sau đây, chúng tôi xin đề xuất một số vấn đề cần được quan tâm:
- Xác định yếu tố, nghiệp vụ có thể phát sinh rủi ro trong hoạt động của tổ chức tham gia BHTG;
- Nghiên cứu cơ sở, phương pháp lượng hóa rủi ro trong hoạt động ngân hàng;
- Xây dựng tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro tổng thể trong hoạt động của mỗi tổ chức có hoạt động huy động tiền gửi;
- Xây dựng tiêu chí đánh giá chi phí (dự phòng) tương ứng với mỗi mức độ rủi ro (nếu xảy ra) được lượng hoá;
- Xác định mối liên hệ giữa rủi ro và các yếu tố khác trong hoạt động của tổ chức tham gia BHTG: mối liên hệ giữa lãi suất huy động tiền gửi với qui mô vốn huy động, lãi suất cho vay với mức độ nợ quá hạn và nợ không thu hồi được, lợi nhuận và khả năng đáp ứng yêu cầu thanh khoản...
Bên cạnh những nội dung cần được nghiên cứu đã đề cập, việc lựa chọn mô hình toán học xác định phí BHTG không đồng hạng cũng có nhiều khó khăn cho Việt Nam, cần có sự nghiên cứu và lựa chọn thích hợp. Các hàm toán học được công bố trên thế giới, có thể học tập và vận dụng để tính phí BHTG, như mô hình Black - Scholes (1973), Merton (1977), Ronn và Verma (1986), Duan (1994) (George, 2000) khả thi khi có cơ sở dữ liệu lớn, đầy đủ và có độ chính xác cao. Bên cạnh đó, giá cổ phiếu ngân hàng và giá các công cụ huy động vốn đóng vai trò quan trọng, là một trong những yếu tố cơ bản của hàm số được vận dụng. Với yêu cầu này, kinh nghiệm của tổ chức BHTG Trung ương Đài Loan trong xây dựng “Hệ thống cảnh báo sớm tài chính quốc gia” và phí BHTG là thực tiễn bổ ích có thể tham khảo và vận dụng (CDIC, 2006; Lin, 2000).
Ngoài việc nghiên cứu các vấn đề trên, kế hoạch xây dựng phí không đồng hạng có mức độ hoàn thiện tương đối thích ứng với từng thời kỳ phát triển của hoạt động ngân hàng và các chuẩn mực đánh giá khác cần được tiến hành từng bước. Làm như vậy, để có được sự đồng nhất cần thiết giữa đánh giá của tổ chức BHTG và đánh giá của các cơ quan chức năng khác về mức độ rủi ro trong hoạt động của tổ chức tham gia BHTG.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2015), các loại báo cáo định kỳ.
- CDIC (2006), CDIC-20 years in retrospect 1985-2005.
- Cull R. (1998), The Effect of Deposit Insurance on Financial Depth: A Cross - Country Analysis.
- Federal Deposit Insurance Corporation (FDIC) (1998), A Brief History of Deposit Insurance in the United States.
- Kunt D. A. and Sobaci T. (2000), Deposit Insurance Around the World: A Data Base, The Word Bank.
- Laeven L. (2002), Pricing of Deposit Insurance, WorldBankPolicyResearch Working paper 2871, July.
- Lin W.Y. (2000), The role of the financial early - warning system in strengthening financialsupervisionandthedepositinsurance mechanism, paper presented at “The International Conference on early warning system for financial crises” held in Taipei on January 20-21, 2000.
- George G. Pennacchi (2000), Department of financeUniversityofIllinois, Urbana, Theeffects ofsettingdepositinsurancepremiumstotarget insurance fund reserve, Journal of financial services research 17:1 153-180, 2000 Kluwer Academic Publishers.