Vướng mức liên quan đến quy định truy đòi trong hoạt động bao thanh toán
ThS. Nguyễn Thị Thanh Hằng1
Bao thanh toán là một loại hình dịch vụ khá phổ biến trên thế giới và đã xuất hiện tại Việt Nam từ hơn 10 năm nay, nhưng việc phát triển hoạt động này vẫn còn khiêm tốn và gặp nhiều khó khăn. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tính đến thời điểm cuối năm 2014 có 16 tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hoạt động bao thanh toán (trong đó có 02 ngân hàng thương mại Nhà nước, 06 ngân hàng thương mại cổ phần, 03 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 05 chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Qua khảo sát sơ bộ từ những tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang cung cấp hoạt động bao thanh toán cho thấy, một trong những nguyên nhân khiến hoạt động này chưa được phát triển như kỳ vọng là do những vướng mắc trong quy định hiện hành, đặc biệt là quy định về “bảo lưu quyền truy đòi” trong hoạt động bao thanh toán. Bài viết tập trung tìm hiểu những bất cập liên quan đến quy định về truy đòi trong hoạt động bao thanh toán hiện nay, qua đó đề xuất một số giải pháp tháo gỡ, nhằm tạo động lực phát triển loại hình dịch vụ này trong tương lai.
1. Quy định về truy đòi trong hoạt động bao thanh toán theo thông lệ quốc tế
1.1. Khái niệm bao thanh toán theo thông lệ quốc tế
Theo cách hiểu chung nhất của Hiệp hội các nhà bao thanh toán quốc tế (Factors Chain International - FCI), bao thanh toán là một dịch vụ tài chính trọn gói, kết hợp việc tài trợ vốn lưu động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi công nợ và thu hồi nợ. Hoạt động bao thanh toán được cung cấp theo một hợp đồng ký kết giữa đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng. Căn cứ các điều khoản trong hợp đồng bao thanh toán, đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại khoản phải thu của bên bán hàng và chịu rủi ro về khả năng trả tiền của người mua. Nếu người mua phá sản hay mất khả năng chi trả thì đơn vị bao thanh toán sẽ thay người mua trả tiền cho người bán1. Cách giải thích ngắn gọn, đơn giản về hoạt động bao thanh toán của FCI như trên cho thấy vấn đề truy đòi (recourse) người bán khi không đòi được tiền từ người mua không phải là vấn đề cơ bản khi đề cập tới hoạt động bao thanh toán.
Tương tự như vậy, các quy tắc chung về bao thanh toán quốc tế (General Rules for International Factoring2) áp dụng đối với các hoạt động bao thanh toán có sự tham gia của hai đơn vị bao thanh toán cũng không đề cập đến vấn đề truy đòi. Theo quy định tại Điều 1.01 của Quy tắc này, “Hợp đồng bao thanh toán là một hợp đồng, theo đó, một nhà cung cấp có thể hoặc sẽ nhượng lại khoản phải thu cho một đơn vị bao thanh toán, bất kể nhằm mục đích tài trợ hay không, với ít nhất một trong các mục tiêu sau: (i) Theo dõi trên sổ sách các khoản phải thu; (ii) Thu hồi nợ; (iii) Phòng ngừa rủi ro nợ xấu”.
Từ cách hiểu trên có thể thấy, hoạt động bao thanh toán quốc tế thậm chí có thể không nhằm mục đích tài trợ (và do vậy, không có việc truy đòi) mà chỉ bao gồm các dịch vụ như theo dõi sổ sách, thu hồi nợ và phòng ngừa rủi ro. Trong toàn bộ 33 điều của Quy tắc này, vấn đề “truy đòi” hay “miễn truy đòi” không được đề cập tới.
Như vậy, khái niệm bao thanh toán theo thông lệ quốc tế không nhất thiết gắn liền với vấn đề “truy đòi”. Phần tiếp theo của bài viết này sẽ đi vào phân tích sự khác biệt giữa hai loại hình bao thanh toán có truy đòi, miễn truy đòi và phân tích các biến thể của hai loại hình này.
1.2. Sự khác biệt giữa bao thanh toán có truy đòi (recourse factoring) và bao thanh toán miễn truy đòi (non-recourse factoring)
a) Bao thanh toán miễn truy đòi
Hoạt động bao thanh toán trong nước xuất hiện ở Mỹ từ giữa thế kỷ 19, trong khi đó, hoạt động bao thanh toán quốc tế được bắt đầu tiến hành từ những năm 1960 ở các quốc gia châu Âu. Ban đầu, khi nghiệp vụ bao thanh toán mới xuất hiện, các đơn vị bao thanh toán mua khoản nợ từ khách hàng mà không có quyền truy đòi (David, 2012). Điều này có nghĩa là nếu khoản nợ không thu hồi được trong trường hợp bên nợ không có khả năng tài chính để trả thì đơn vị bao thanh toán vẫn phải trả cho khách hàng theo mức giá mua đã thỏa thuận trước. Khoản nợ được coi như đã bán cho đơn vị bao thanh toán trong một giao dịch “bán đứt” (hay “mua đứt bán đoạn”), do đó, nó đã “ra khỏi” bảng cân đối của khách hàng.
Trong bao thanh toán miễn truy đòi, đơn vị bao thanh toán không chỉ nhận lấy khoản phải thu, mà còn chịu hầu hết rủi ro không trả được nợ vì đơn vị bao thanh toán không có quyền truy đòi lại bên bán nếu không đòi được nợ từ bên mua. Việc cung cấp dịch vụ bao thanh toán miễn truy đòi thường được ví như việc đơn vị bao thanh toán cấp một hạn mức bảo lãnh và chịu trách nhiệm thu tiền các hóa đơn của khách hàng (có thể là toàn bộ hóa đơn của khách hàng hoặc chỉ từ một số hóa đơn bán hàng nhất định). Sự bảo lãnh này chỉ diễn ra trong trường hợp bên mua hàng vỡ nợ hoặc không có khả năng trả nợ. Đây là điểm quan trọng cho thấy, mặc dù đã “mua đứt” khoản phải thu nhưng đơn vị bao thanh toán vẫn không gánh chịu rủi ro trong rất nhiều trường hợp khác thường gặp như:
- Hóa đơn có tranh chấp bất kể vì lý do gì (do hàng hóa và dịch vụ không đáp ứng chất lượng, phân phối, tiêu chuẩn kỹ thuật…).
- Khách hàng vi phạm thỏa thuận với đơn vị bao thanh toán;
- Bên mua hàng chỉ trả chậm hơn thường lệ.
Tuy đơn vị bao thanh toán không chịu rủi ro trong mọi trường hợp, việc đơn vị bao thanh toán gánh chịu rủi ro vỡ nợ của đối tác vẫn rất quan trọng đối với sự sống còn của các khách hàng của đơn vị bao thanh toán. Bên cạnh việc cung cấp vốn lưu động thì việc bảo vệ khách hàng trước những khoản nợ xấu lớn là một trong những dịch vụ quan trọng nhất của đơn vị bao thanh toán.
b) Bao thanh toán có truy đòi
Cùng với sự phát triển của hoạt động bao thanh toán, ngày nay, theo thông lệ quốc tế chung, bao thanh toán được thực hiện dưới hình thức có truy đòi hoặc miễn truy đòi (Leora, 2005). Đối với bao thanh toán có truy đòi, đơn vị bao thanh toán có quyền truy đòi lại tiền từ khách hàng nếu các khoản nợ không thu hồi được (kể cả do bên nợ phá sản hay không có khả năng tài chính để hoàn trả) trong vòng một khoảng thời gian nhất định, thường từ 60 đến 90 ngày.
Ở hầu hết các bang của Mỹ, bao thanh toán có truy đòi được xếp loại như một khoản cho vay có bảo đảm của đơn vị bao thanh toán đối với khách hàng của mình. Song, không phải tại bang nào của Mỹ cũng có quy định như vậy. Tại một số bang của Mỹ như Texas hay Louisiana, luật pháp các bang coi ý định (intent) của khách hàng và đơn vị bao thanh toán khi giao dịch mua bán khoản phải thu mới là yếu tố quyết định để phân loại giao dịch bao thanh toán đó có phải là một giao dịch “mua đứt bán đoạn” hay không. Với quy định này thì ngay cả một giao dịch bao thanh toán có quyền truy đòi vẫn được coi là khoản “mua đứt bán đoạn” nếu khi tiến hành giao dịch, khách hàng đã có ý định “bán đứt” và đơn vị bao thanh toán có ý định “mua đứt” khoản phải thu đó. Tương tự, tại nhiều quốc gia khác (trong đó có Anh quốc), bao thanh toán có quyền truy đòi được coi là một giao dịch bán đứt khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán nếu khách hàng và đơn vị bao thanh toán có ý định “mua đứt bán đoạn” khoản phải thu (David, 2012).
c) Các biến thể của bao thanh toán có/miễn truy đòi
Về lý thuyết, có hai loại hình bao thanh toán là có truy đòi và miễn truy đòi, tuy nhiên, trên thực tế, các đơn vị bao thanh toán cung cấp rất nhiều sản phẩm biến thể hoặc kết hợp giữa hai loại hình này.
Đối với bao thanh toán miễn truy đòi một phần, đơn vị bao thanh toán đặt ra giới hạn về thời gian đối với rủi ro tín dụng của khoản phải thu. Nếu bên nợ không có khả năng trả nợ hoặc bị phá sản trước khi hết hạn giai đoạn rủi ro tín dụng, đơn vị bao thanh toán vẫn có quyền đòi lại khoản nợ từ khách hàng.
Bên cạnh đó, trong biến thể của bao thanh toán có truy đòi, việc truy đòi có thể được diễn ra dưới nhiều hình thức. Đơn vị bao thanh toán có thể đòi lại tiền từ khách hàng như trong bao thanh toán có truy đòi truyền thống, hoặc yêu cầu khách hàng thay thế các hóa đơn không đòi được bằng những hóa đơn “tốt” khác. Nếu một hóa đơn quá hạn chẳng hạn là 90 ngày, đơn vị bao thanh toán sẽ không cho phép khách hàng tiếp tục vay tiền dựa trên hóa đơn đó và yêu cầu khách hàng trả lại tiền đã ứng trước hoặc cung cấp một hóa đơn chưa được sử dụng để cấp vốn khác, hoặc trừ tiền từ tài khoản dự trữ của khách hàng.
Trên thực tế, do không được quy định trong các quy tắc chung nên mỗi đơn vị bao thanh toán có thể đưa ra những định nghĩa hay điều kiện khác nhau về việc truy đòi. Như đã đề cập tại phần trên, việc truy đòi thường được tiến hành khi bên nợ không trả được nợ trong vòng 60 đến 90 ngày, nhưng trên thực tế, nhiều công ty quy định khoảng thời gian này dao động từ 45 đến 180 ngày3.
d) So sánh giữa bao thanh toán có truy đòi và miễn truy đòi
Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, bao thanh toán khác với tài trợ ngân hàng truyền thống ở chỗ bao thanh toán liên quan tới việc mua và bán khoản phải thu trong một giao dịch “mua đứt bán đoạn” của khách hàng và đơn vị bao thanh toán. Bởi vậy, các bên bao thanh toán cơ bản quan tâm tới chất lượng của tài sản được mua (tức là khả năng thu hồi của khoản nợ được mua) thay vì khả năng của khách hàng. Đơn vị bao thanh toán tập trung vào độ tín nhiệm của khách hàng của bên bán (tức là bên mua) hơn là độ tín nhiệm của bản thân khách hàng của mình. Trong bao thanh toán có truy đòi, đơn vị bao thanh toán có quyền truy đòi đối với khách hàng nếu không thu được nợ, do vậy tổn thất chỉ xảy ra khi vừa không thu hồi được khoản phải thu, vừa không thu nợ được từ khách hàng. Do vậy, xét trên góc độ rủi ro, bao thanh toán có truy đòi đem lại ít rủi ro (và do đó cũng đem lại ít lợi nhuận hơn) cho đơn vị bao thanh toán so với loại hình bao thanh toán miễn truy đòi.
Những khác biệt chính giữa bao thanh toán có truy đòi và bao thanh toán miễn truy đòi được tóm tắt trong bảng dưới đây: (Bảng)
|
Có truy đòi |
Miễn truy đòi |
Bên gánh chịu rủi ro |
Bên bán hàng, bên mua hàng |
Đơn vị bao thanh toán (factor) |
Chi phí bao thanh toán |
Thấp |
Cao |
Kế toán các khoản phải thu |
Ghi sổ khách hàng |
Ghi sổ bên nợ |
Hạn mức cho vay |
Tính hạn mức cho vay đối với khách hàng |
Tính hạn mức cho vay đối với bên nợ |
Tính toán tài sản có rủi ro |
Sử dụng trọng số rủi ro của khách hàng |
Sử dụng trọng số rủi ro của bên nợ |
2. Quy định của Việt Nam liên quan đến khái niệm bao thanh toán và vấn đề truy đòi
Tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 trước đây, hoạt động bao thanh toán chưa được đề cập tới4. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các loại hình dịch vụ ngân hàng, năm 2004, Ngân hàng Nhà nước đã có Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 ban hành Quy chế về hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng (Quyết định số 1096). Điều 2 của Quy chế định nghĩa "Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng”.
Tại Điều 11 Quyết định số 1096 quy định đơn vị bao thanh toán được thực hiện cả loại hình bao thanh toán có quyền truy đòi và bao thanh toán không có quyền truy đòi. Theo đó, bao thanh toán có quyền truy đòi được giải thích là "đơn vị bao thanh toán có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu” (tiết a khoản 1 Điều 11). Bên cạnh đó, bao thanh toán không có quyền truy đòi có nghĩa là "đơn vị bao thanh toán chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu. Đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua hàng từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán hàng giao hàng không đúng như thoả thuận tại hợp đồng mua, bán hàng hoặc vì một lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng” (tiết b khoản 1 Điều 11).
Như vậy, Quyết định số 1096 đã tiếp cận nghiệp vụ bao thanh toán theo thông lệ quốc tế, cho phép các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện hoạt động theo cả hai hình thức truy đòi và miễn truy đòi.
Tại Luật Các tổ chức tín dụng 2010 thay thế Luật Các tổ chức tín dụng 1997, bao thanh toán được khẳng định là một hình thức cấp tín dụng. Theo đó, khoản 14 Điều 4 của Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định: "Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Đồng thời, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đã luật hóa khái niệm bao thanh toán: “Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ”.
Có thể dễ dàng nhận thấy, khái niệm bao thanh toán quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có một số khác biệt đáng kể so với khái niệm bao thanh toán trước đây.
Thứ nhất, khái niệm này đã mở rộng chủ thể được cấp tín dụng qua hình thức bao thanh toán có thể là bên mua hàng chứ không nhất thiết phải là bên bán hàng như trước (tức là cho phép thực hiện bao thanh toán "ngược"). Cùng với việc mở rộng chủ thể được bao thanh toán thì đối tượng để tiến hành bao thanh toán cũng được mở rộng là các khoản phải trả để phù hợp với chủ thể được bao thanh toán là bên mua hàng.
Thứ hai, quy định này đã loại bỏ hình thức bao thanh toán miễn truy đòi trước đây và chỉ cho phép các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hình thức bao thanh toán "có bảo lưu quyền truy đòi”. Sau khi Luật Các tổ chức tín dụng 2010 ra đời, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được tiếp tục ký các hợp đồng bao thanh toán mới mà trong đó, từ bỏ quyền truy đòi khách hàng vay, các hợp đồng cũ vẫn được duy trì cho đến khi hết thời hạn của hợp đồng.
Qua khái niệm này cho thấy, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đã có những thay đổi căn bản về đối tượng, phạm vi hoạt động bao thanh toán so với quy định trước đây. Một mặt, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện thêm loại hình bao thanh toán đối với bên mua hàng (bao thanh toán ngược). Mặc khác, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép thực hiện loại hình bao thanh toán miễn truy đòi - một loại hình bao thanh toán phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, do Ngân hàng Nhà nước chưa ban hành văn bản hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng 2010, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hiện vẫn tiếp tục thực hiện hoạt động bao thanh toán theo hướng dẫn trong quy định trước đây, tức là theo Quyết định số 1096 (được sửa đổi bằng Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008). Song, Quyết định số 1096 mới chỉ dừng lại ở hướng dẫn với hình thức bao thanh toán bên bán hàng nên tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa có cơ sở để tiến hành hình thức bao thanh toán bên mua hàng, trong khi đã phải dừng hoạt động bao thanh toán miễn truy đòi.
3. Một số vướng mắc liên quan đến quy định miễn truy đòi trong hoạt động bao thanh toán
3.1. Về việc bao thanh toán bên mua hàng (bao thanh toán ngược) có quyền truy đòi
Việc bao thanh toán có bảo lưu quyền truy đòi rất dễ thực hiện đối với bên bán hàng (bao thanh toán truyền thống). Trong trường hợp này, ngân hàng ký hợp đồng bao thanh toán với bên bán hàng, ứng tiền cho bên bán hàng và thu nợ từ người mua, nếu người mua không trả được thì quay lại truy đòi bên bán hàng. Tuy nhiên, đối với trường hợp bao thanh toán với bên mua hàng (bao thanh toán ngược), ngân hàng ký hợp đồng bao thanh toán với người mua, thay mặt người mua trả tiền cho bên bán hàng và thu nợ từ chính bên mua hàng. Nếu người mua không trả được nợ thì việc “truy đòi” này khó có thể tiến hành đối với người bán hàng.
Bản chất của hoạt động bao thanh toán ngược là hoạt động bao thanh toán không có quyền truy đòi (Leora, 2005). Trong hoạt động bao thanh toán ngược, đơn vị bao thanh toán chỉ mua các khoản phải trả từ những người bán chất lượng cao (tức là những người bán có thông tin minh bạch xác định). Khi đó, đơn vị bao thanh toán chỉ cần thu thập thông tin tín dụng và tính toán rủi ro đối với bên mua hàng (là những công ty lớn, có độ tín nhiệm cao) trước khi ứng tiền cho các bên bán hàng đa phần là các doanh nghiệp vừa và nhỏ có độ rủi ro cao. Như vậy, trong hoạt động bao thanh toán ngược, sẽ không có hoạt động truy đòi từ người bán (vốn bản chất là những doanh nghiệp nhỏ có tín nhiệm thấp nên khó có thể tiếp cận được với nguồn tín dụng), tuy nhiên, rủi ro không vì thế tăng lên vì bên mua hàng là những doanh nghiệp lớn đã được lựa chọn kỹ càng. Đây cũng chính là ưu việt của hoạt động bao thanh toán ngược vì đã khiến rủi ro tín dụng chuyển từ bên bán hàng (như cách truyền thống) sang bên mua hàng. Do vậy, việc truy đòi đối với hoạt động bao thanh toán ngược vừa không có ý nghĩa, vừa không khả thi đối với đơn vị bao thanh toán.
3.2. Về việc bao thanh toán quốc tế có quyền truy đòi
Trong hoạt động bao thanh toán quốc tế, việc yêu cầu hoạt động bao thanh toán truyền thống phải có truy đòi có một số vướng mắc sau:
Thứ nhất, trường hợp đơn vị bao thanh toán tại Việt Nam là đơn vị bao thanh toán xuất khẩu:
Theo thông lệ quốc tế, đơn vị bao thanh toán xuất khẩu sẽ yêu cầu đơn vị bao thanh toán nhập khẩu (ở nước ngoài) tiến hành kiểm tra tình hình tài chính với bên nhập khẩu và thực hiện dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng bên nhập khẩu (do đơn vị bao thanh toán xuất khẩu thiếu thông tin về bên nhập khẩu). Trong trường hợp này, khi bên nhập khẩu không trả được nợ, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu sẽ đứng ra trả nợ thay cho bên nhập khẩu, vì vậy, việc bảo lưu quyền truy đòi đối với bên xuất khẩu là không cần thiết.
Tuy nhiên, theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng, hoạt động bao thanh toán phải có bảo lưu quyền truy đòi nên đơn vị bao thanh toán xuất khẩu Việt Nam phải yêu cầu bên xuất khẩu cam kết sẽ hoàn trả tiền nếu bên nhập khẩu mất khả năng thanh toán. Quy định này đã hạn chế khả năng chuyển rủi ro từ bên xuất khẩu sang đơn vị bao thanh toán nhập khẩu, khiến cho sản phẩm bao thanh toán xuất khẩu trở nên kém hấp dẫn.
Thứ hai, trường hợp đơn vị bao thanh toán tại Việt Nam là đơn vị bao thanh toán nhập khẩu:
- Đối với hoạt động bao thanh toán nhập khẩu truyền thống: Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Quyết định số 1096, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu là đơn vị được phép hoạt động bao thanh toán tham gia vào quy trình bao thanh toán xuất - nhập khẩu. Sau khi nhận được yêu cầu từ đơn vị bao thanh toán xuất khẩu (ở nước ngoài), đơn vị bao thanh toán nhập khẩu sẽ tiến hành phân tích khoản phải thu, tình hình hoạt động, khả năng tài chính của bên mua hàng là bên nhập khẩu; thực hiện việc thu nợ theo ủy quyền của đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và cam kết sẽ thanh toán thay cho bên nhập khẩu trong trường hợp bên nhập khẩu không có khả năng thanh toán khoản phải thu (khoản 2 Điều 13 Quyết định số 1096).
Khi cam kết thanh toán thay cho bên nhập khẩu (hay cung cấp dịch vụ đảm bảo rủi ro tín dụng cho bên mua hàng), đơn vị bao thanh toán nhập khẩu đóng vai trò như đơn vị bảo lãnh cho bên mua hàng và không thể có quyền truy đòi với bên bán hàng (bên xuất khẩu). Hơn nữa, trong trường hợp này, hoạt động bao thanh toán mà đơn vị bao thanh toán nhập khẩu tham gia có nguồn gốc từ nước ngoài, và do đó không nhất thiết phải tuân thủ quy định về bao thanh toán (phải có bảo lưu quyền truy đòi) của Việt Nam.
- Đối với hoạt động bao thanh toán nhập khẩu đối với bên mua hàng (nhà nhập khẩu), đơn vị bao thanh toán nhập khẩu ứng tiền để trả cho bên xuất khẩu (ở nước ngoài) và thu nợ từ bên nhập khẩu. Nếu bên nhập khẩu không trả được nợ thì theo quy định, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu phải “truy đòi” lại số tiền đã ứng cho bên xuất khẩu ở nước ngoài. Tuy nhiên, điều này rất khó thực hiện (hay có thể nói là bất khả thi) đối với bên xuất khẩu ở nước ngoài nếu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có một hiện diện nào ở nước đó.
Để tránh rủi ro này, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ thông qua một đơn vị bao thanh toán ở quốc gia của bên xuất khẩu và có thể yêu cầu đơn vị bao thanh toán này truy đòi giúp. Tuy nhiên, khi đó chi phí của hoạt động bao thanh toán sẽ tăng lên và bên xuất khẩu cũng sẽ không mặn mà và khó chấp nhận hình thức truy đòi như vậy vì họ vẫn phải gánh chịu rủi ro khi bên nhập khẩu không trả được nợ.
4. Giải pháp khắc phục
Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn hoạt động bao thanh toán đã được quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2010 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài triển khai hoạt động này.
Để góp phần xử lý những vướng mắc nêu trên, Ngân hàng Nhà nước cần xem xét ban hành Thông tư quy định về hoạt động bao thanh toán thay thế Quy chế về hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo số Quyết định số 1096. Thông tư quy định về hoạt động bao thanh toán cần có hướng dẫn cụ thể về bao thanh toán có bảo lưu quyền truy đòi, làm rõ phạm vi, đối tượng truy đòi, hình thức truy đòi đối với từng loại hình bao thanh toán.
Để tạo động lực cho hoạt động bao thanh toán phát triển, Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét hướng dẫn vấn đề truy đòi theo hướng thuận lợi cho các tổ chức tín dụng. Theo đó, vấn đề truy đòi không nên chỉ bó hẹp trong cách hiểu tại Quyết định số 1096 (yêu cầu bên bán mua lại khoản phải thu trong trường hợp bên nợ bị phá sản/không có khả năng trả nợ) mà nên bao gồm cả các hình thức truy đòi “biến thể” (yêu cầu bên bán thay thế khoản phải thu “xấu” bằng một khoản phải thu “tốt” khác); hoặc cho phép coi hoạt động bao thanh toán đối với một khoản phải thu đã được bảo hiểm rủi ro bằng một hình thức nào đó (được bảo lãnh bởi bên thứ ba hoặc có tài sản đảm bảo...) là hoạt động bao thanh toán có truy đòi.
Bên cạnh đó, Thông tư quy định về hoạt động bao thanh toán cũng cần có hướng dẫn cụ thể về quy trình, cách thức thực hiện hoạt động bao thanh toán đối với bên mua hàng (là loại hình bao thanh toán được phép thực hiện theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010), đặc biệt làm rõ vấn đề truy đòi trong hoạt động bao thanh toán bên mua hàng để các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có cơ sở triển khai thực hiện.
- Thứ hai, trong trung, dài hạn, khi nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập vào kinh tế thế giới thì việc các tổ chức tín dụng tham gia các hoạt động qua biên giới càng mạnh. Để phù hợp với tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét, kiến nghị sửa đổi quy định để các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có thể áp dụng một luật chơi chung phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước có thể kiến nghị sửa Luật Các tổ chức tín dụng để cho phép các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được quyền lựa chọn thực hiện bao thanh toán có bảo lưu quyền truy đòi hoặc miễn truy đòi dựa trên khẩu vị rủi ro của bản thân tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và đánh giá của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài về mức độ rủi ro của khách hàng.
1 Cơ quan TTGSNH - NHNN
1 Nguồn: https://fci.nl/en/about-factoring/ index
2 Bản đầu tiên của Quy tắc này là do hai tổ chức International Factors Group (IFG) & Factors Chain International (FCI) thống nhất ban hành nhằm tạo ra những chuẩn mực toàn cầu cho hoạt động bao thanh toán.
3 Theo “The Truth about Non-Recourse Factoring” (Commonwealth Capital, LLC)
4 Khoản 10 Điều 20 Luật các TCTD 1997 quy định: “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Annual Review 2014, Factors Chain International.
- David B. Tatge và Jeremy B. Tatge, 2012, Practical Law The Journal, Fundamentals of factoring.
- General Rules for International Factoring, version 2013, International Factors Group.
- Leora F. Klapper, 2005, World Bank Policy Research Working Paper No. 3593, The Role of “Reverse Factoring” in Supplier Financing of Small and Medium Sized Enterprises.
- Notification of the Bank of Thailand, No. SorNorSor.20/2555 Re. Permission for Commercial Banks to Conduct Factoring Business.