Thành công trong việc kiểm soát đô la hóa – Kinh nghiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Phạm Tiên Phong, Phạm Vũ Thăng Long, Hoàng Lan Hương1
Dựa trên mô hình của Sami Ben Naceur, Amr Hosny và Gregory Hadjian (2015), De Nicolo và cộng sự (2005), Neanidis và Savva (2009), Kokenyne và cộng sự (2010), chúng tôi xem xét các nhân tố giải thích cho vấn đề đô la hóa tiền gửi tại Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 6/2011 - 12/2015 (55 tháng). Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy, thay đổi tỷ giá USD/VND tỷ lệ nghịch với tỷ lệ đô la hóa tiền gửi; tuy nhiên, tỷ lệ thuận với tỷ lệ đô la hóa cho vay, hàm ý mặc dù VND mất giá, người gửi tiền vẫn có xu hướng chuyển sang tiền VND do mức độ chênh lệch lãi suất giữa VND và USD hấp dẫn hơn. Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Sami Ben Naceur, Amr Hosny và Gregory Hadjian (2015) cho các quốc gia khối Kavkaz và Trung Á (Caucasus and Central Asia - CCA), do Việt Nam áp dụng chính sách can thiệp đối với lãi suất huy động bằng USD làm cho đồng ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn hơn đồng bản tệ. Lạm phát có ý nghĩa quan trọng trong giải thích mức độ đô la hóa tại Việt Nam, mức độ lạm phát càng cao, đô la hóa càng gia tăng và ngược lại. Mối tương quan này cũng tồn tại ở các quốc gia CCA hay châu Mỹ Latin... Biến động tỷ giá USD/VND và biến động lạm phát càng mạnh, tỷ lệ đô la hóa tiền gửi càng cao, tuy nhiên tỷ lệ đô la hóa cho vay càng giảm, phản ánh người gửi tiền có xu hướng chuyển sang ngoại tệ đồng thời người đi vay giảm vay bằng ngoại tệ trong giai đoạn tỷ giá và lạm phát nhiều bất ổn. Mô hình nghiên cứu chỉ ra rằng, việc NHNN chuyển đổi cách thức điều hành tỷ giá sang tỷ giá trung tâm (linh hoạt hơn) là phù hợp nhằm tránh các cú sốc về điều chỉnh tỷ giá như trước đây, hướng tới điều hành chính sách tiền tệ theo cơ chế lạm phát mục tiêu. Ngoài các biện pháp hành chính, cần tăng cường thêm các biện pháp thị trường nhằm tăng tính hấp dẫn của đồng bản tệ (nghiệp vụ, thị trường phái sinh ngoại hối...), tiến tới giảm bớt can thiệp chính sách vào thị trường ngoại hối. Đồng thời, khi áp dụng các biện pháp chống đô la hóa, các nhà hoạch định chính sách cũng cần xem xét các rủi ro từ khả năng rút vốn ngoại tệ ra khỏi hệ thống ngân hàng cũng như hiện tượng tháo chạy vốn, đồng thời cần hiểu rõ ý nghĩa của việc truyền thông minh bạch và hiệu quả là đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng lòng tin của công chúng vào các chính sách tiền tệ được áp dụng.
1. Giới thiệu
“Đô la hóa” được định nghĩa là việc nắm giữ các tài sản bằng ngoại tệ của người cư trú trong nước, là một hiện tượng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển cũng như các nền kinh tế chuyển đổi, có tỷ lệ lạm phát cao. Theo IMF (2000), đô la hóa có thể giúp hạn chế rủi ro và ổn định giá trị đồng tiền cũng như kiểm soát lạm phát, đồng thời loại bỏ hiện tượng đầu cơ chênh lệch tỷ giá giữa đồng bản tệ và ngoại tệ, giúp thị trường vốn ổn định và cán cân thanh toán ít phải đối mặt với rủi ro hơn. Mặc dù vậy, đô la hóa cũng tồn tại nhiều mặt trái. Việc sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền chính sẽ khiến cho các chính sách về kinh tế, nhất là chính sách tiền tệ trở nên thiếu chủ động, ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, với một quốc gia bị đô la hoá cao, khi xảy ra khủng hoảng ngân hàng, ngân hàng trung ương sẽ khó thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng đối với hệ thống ngân hàng do không thể in thêm tiền để giải quyết khủng hoảng.1
Cho tới nay, nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, đô la hóa là vấn đề quan trọng cần xem xét khi thiết kế chính sách kinh tế vĩ mô. Calvo và Végh (1997), Baliño et al. (1999), Berg và Borensztein (2000) nhận định rằng, đối với chính sách tiền tệ dựa trên cung tiền mục tiêu (money targeting), việc cho vào hay loại bỏ ngoại tệ ra khỏi tổng cung tiền có ý nghĩa rất quan trọng. Nguyễn Thanh Hải (2004) cho rằng, đô la hóa mang lại nhiều rủi ro đối với ổn định tài chính và khiến cho quốc gia dễ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ những cú sốc ngoại lai; đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường khuôn khổ pháp lý, thực hiện các chính sách giảm bớt sự hấp dẫn của ngoại tệ nhằm chống đô la hóa. Michaël Goujon (2006) chỉ ra rằng, việc lựa chọn chính sách tỷ giá là mấu chốt vì mức độ đô la hóa là tác nhân làm nghiêm trọng hơn sự biến động của tỷ giá trong một nền kinh tế áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi. Sami Ben Naceur, Amr Hosny và Gregory Hadjian (2015) đúc kết kinh nghiệm từ các quốc gia thực hiện chính sách chống đô la hóa cho thấy, các quốc gia đã thành công trong việc giảm mức độ đô la hóa đều theo đuổi một danh mục các biện pháp kinh tế vĩ mô và ổn định tài chính. Mặc dù không có một công thức chung cho việc chống đô la hóa ở các quốc gia nêu trên, khuôn khổ chính sách tiền tệ và tỉ giá đáng tin cậy, lạm phát thấp và thị trường tài chính phát triển về chiều sâu là ba nhân tố cơ bản giúp cho chiến lược giảm tỷ lệ đô la hóa thành công; ngoài ra phải kể đến tầm quan trọng của việc khuyến khích các biện pháp chống đô la hóa dựa vào thị trường bên cạnh những biện pháp hành chính.
Tại Việt Nam, nền kinh tế bị đô la hóa một phần kể từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới, nhất là trong giai đoạn 1986 - 1992. Nhận thấy những rủi ro tiềm ẩn từ đô la hóa, Chính phủ Việt Nam đã lựa chọn con đường chủ động chính sách tiền tệ, loại bỏ tình trạng đô la hóa ra khỏi nền kinh tế. Đến nay, có thể nói NHNN Việt Nam đã thành công trong chính sách chống đô la hóa, khi tỷ lệ đô la hóa tiền gửi tại Việt Nam hiện đang được xếp vào nhóm thấp theo tiêu chuẩn của IMF,2 từ mức 41% năm 1992 xuống còn 12% tính đến hết tháng 12/2015.
Trên cơ sở kế thừa, chọn lọc và phát huy những nghiên cứu kể trên, chúng tôi sẽ đưa ra mô hình giải thích tình trạng đô la hóa của Việt Nam theo những biến động về tỷ giá, lạm phát, đồng thời cho thấy ảnh hưởng đáng kể của các can thiệp chính sách trong việc chống đô la hóa nền kinh tế.
2. Mô hình và số liệu
Dựa trên mô hình của Sami Ben Naceur, Amr Hosny và Gregory Hadjian (2015), De Nicolo và cộng sự (2005), Neanidis, Savva (2009), Kokenyne và cộng sự (2010), chúng tôi xem xét các nhân tố giải thích cho vấn đề đô la hóa tiền gửi tại Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 6/2011 - 12/2015 (55 tháng):
[1]
[2]
Trong đó: là biến phụ thuộc, huy động ngoại tệ trên tổng huy động, là thay đổi tỷ giá USD/VND , là biến động tỷ giá USD/VND (độ lệch chuẩn của thay đổi tỷ giá 12 tháng trước), là lạm phát so với cùng kỳ năm trước tại thời điểm t và là biến động lạm phát (độ lệch chuẩn của lạm phát 12 tháng trước). Trong đó dương thể hiện tỷ giá USD/VND tăng hay VND mất giá so với USD và ngược lại.
Chúng tôi sử dụng số liệu theo tháng cho huy động ngoại tệ trên tổng huy động từ cơ sở dữ liệu của NHNN theo Thông tư 21, 31; số liệu về tỷ giá của Thomson Reuters và số liệu về lạm phát của Tổng cục Thống kê cho giai đoạn 55 tháng nêu trên.
Số liệu thống kê được miêu tả trong Bảng 1, Hình 1.
Bảng 1: Mô tả số liệu
|
Quan sát |
Giá trị TB |
Độ lệch chuẩn |
Cực tiểu |
Cực đại |
Tỷ lệ huy động ngoại tệ |
55 |
15.43 |
3.12 |
12.14 |
21.67 |
Tỷ lệ cho vay ngoại tệ |
54 |
16.96 |
3.82 |
9.96 |
24.54 |
Thay đổi tỷ giá |
55 |
0.16 |
0.56 |
-0.86 |
2.97 |
Biến động tỷ giá |
55 |
0.68 |
0.64 |
0.20 |
2.18 |
Lạm phát |
55 |
7.19 |
6.51 |
0.00 |
23.02 |
Biến động lạm phát |
55 |
2.34 |
1.92 |
0.34 |
6.36 |
Nguồn: Tác giả tính toán
Nguồn: TT21, 31, Reuters, tác giả tổng hợp
3. Kết quả
Kết quả mô hình được tóm tắt trong Bảng 2 và Bảng 3.
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Ký hiệu * là có ý nghĩa ở mức 10%, ** là có ý nghĩa ở mức 5% và *** là ở mức 1%; t-statistic trong ngoặc
Kết quả từ mô hình thực nghiệm trong Bảng 2 và Bảng 3 cho thấy:
Thứ nhất, thay đổi tỷ giá USD/VND tỷ lệ nghịch với tỷ lệ đô la hóa tiền gửi (USD/VND tăng hay VND mất giá, đô la hóa giảm và ngược lại). Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Sami Ben Naceur, Amr Hosny, and Gregory Hadjian (2015) cho các quốc gia khối CCA (vùng Caucasus và Trung Á thuộc Liên Xô cũ: Armenia, Azerbaijan, Georgia, Kazakhstan, the Kyrgyz Republic, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan). Mặc dù các quốc gia này đều có điểm tương đồng về chính sách tỷ giá giống Việt Nam là thả nổi có kiểm soát, tuy nhiên, đồng bản tệ mất giá có xu hướng làm gia tăng mức độ đô la hóa trong hệ thống ngân hàng.
Thứ hai, lạm phát có ý nghĩa quan trọng trong giải thích mức độ đô la hóa tại Việt Nam, mức độ lạm phát càng cao, đô la hóa càng gia tăng và ngược lại. Mối tương quan này cũng tồn tại ở các quốc gia CCA hay châu Mỹ Latin...
Thứ ba, biến động tỷ giá USD/VND và biến động lạm phát càng mạnh, tỷ lệ đô la hóa tiền gửi càng cao, tuy nhiên tỷ lệ đô la hóa cho vay càng giảm, phản ánh người gửi tiền có xu hướng chuyển sang ngoại tệ đồng thời người đi vay giảm vay bằng ngoại tệ trong giai đoạn tỷ giá và lạm phát nhiều bất ổn.
Thứ tư, đô la hóa cho vay tỷ lệ thuận với mức độ đô la hóa huy động.
4. Ý nghĩa
4.1. Tác động của cơ chế tỷ giá tới mục tiêu chống đô la hóa
Nhìn vào đồ thị biến động tỷ giá của Việt Nam trong giai đoạn 5 năm qua (Hình 1) có thể thấy, mặc dù VND luôn trong xu hướng mất giá so với đồng USD, mức độ điều chỉnh tỷ giá phù hợp khi người gửi tiền vẫn nghiêng về nắm giữ VND do kỳ vọng về mức chênh lệch lãi suất giữa đồng bản tệ và ngoại tệ vẫn có lợi hơn so với mức độ mất giá.3
4.2. Tác động của can thiệp chính sách lãi suất tới mục tiêu chống đô la hóa
Hình 2
Nguồn: TT21.31, Reuters, tác giả tổng hợp
Hình 2 cho thấy biến động ngược chiều của tỷ giá và lãi suất huy động bằng USD, đây cũng là một trong các nhân tố can thiệp chính sách chính làm giảm tỷ lệ đô la hóa tiền gửi trong giai đoạn 2011 - 2015.
Bảng 4: Các can thiệp chính sách đối với lãi suất huy động USD
(Kể từ tháng 6/2011 - nay)
Văn bản |
Ngày ban hành |
Ngày có hiệu lực |
Lãi suất (%/năm) |
Thông tư 14/2011/TT-NHNN |
01/06/2011 |
02/06/2011 |
TCKT: 0,5%; cá nhân: 2% |
Thông tư 14/2013/TT-NHNN |
27/06/2013 |
28/06/2013 |
TCKT: 0,25%; cá nhân: 1,25% |
Quyết định 497/QĐ-NHNN |
17/03/2014 |
18/03/2014 |
TCKT: 0,25%; cá nhân: 1,0% |
Quyết định 2172/QĐ-NHNN |
28/10/2014 |
29/10/2014 |
TCKT: 0,25%; cá nhân:0,75% |
Quyết định 1938/QĐ-NHNN |
25/9/2015 |
29/10/2015 |
TCKT: 0%; cá nhân: 0,25% |
QĐ 2589/QĐ-NHNN |
17/12/2015 |
18/12/2015 |
TCKT: 0%; cá nhân:0% |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Chi tiết về các quy định điều chỉnh lãi suất huy động bằng USD được tổng hợp trong Bảng 4. Mặc dù không có quy định chính thức về trần lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, NHNN ban hành Thông tư số 07/2012/ TT-NHNN ngày 20/03/2012 thay thế Quyết định số 1081/2002/ QĐ-NHNN ngày 07/10/2002 và Quyết định số 1168/2003/QĐ- NHNN ngày 2/10/2003, trong đó thu hẹp giới hạn trạng thái ròng trên vốn tự có của TCTD từ 30% xuống còn 20%. Điều này vô hình chung cũng làm hạn chế tỷ lệ cho vay ngoại tệ theo mức huy động, do đó, có tác động làm giảm đô la hóa hoạt động cho vay đối với nền kinh tế. (Bảng 4)
Tóm lại, chính sách tỷ giá kết hợp với các can thiệp chính sách về lãi suất, cụ thể là giảm dần lãi suất trần tiền gửi USD về mức 0%, đã thành công trong việc giảm tỷ lệ đô la hóa huy động và cho vay so với các quốc gia có đặc điểm tương đồng trong khu vực, như các quốc gia thuộc khối CCA.
5. Kết luận và khuyến nghị chính sách
5.1 Kết luận
Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy, thay đổi tỷ giá USD/VND tỷ lệ nghịch với tỷ lệ đô la hóa tiền gửi, tuy nhiên tỷ lệ thuận với tỷ lệ đô la hóa cho vay, hàm ý mặc dù VND mất giá, người gửi tiền vẫn có xu hướng chuyển sang tiền VND do mức độ chênh lệch lãi suất giữa VND và USD hấp dẫn hơn. Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Sami Ben Naceur, Amr Hosny và Gregory Hadjian (2015) cho các quốc gia khối CCA, do Việt Nam áp dụng chính sách can thiệp đối với lãi suất huy động bằng USD làm cho đồng ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn hơn đồng bản tệ.
Lạm phát có ý nghĩa quan trọng trong giải thích mức độ đô la hóa tại Việt Nam, mức độ lạm phát càng cao, đô la hóa càng gia tăng và ngược lại. Mối tương quan này cũng tồn tại ở các quốc gia CCA hay châu Mỹ Latin...
Biến động tỷ giá USD/VND và biến động lạm phát càng mạnh, tỷ lệ đô la hóa tiền gửi càng cao, tuy nhiên tỷ lệ đô la hóa cho vay càng giảm, phản ánh người gửi tiền có xu hướng chuyển sang ngoại tệ đồng thời người đi vay giảm vay bằng ngoại tệ trong giai đoạn tỷ giá và lạm phát nhiều bất ổn.
5.2. Khuyến nghị chính sách
Tóm lại, chính sách tỷ giá kết hợp với các can thiệp chính sách về lãi suất, cụ thể là giảm dần lãi suất trần tiền gửi USD về mức 0%, đã thành công trong việc giảm tỷ lệ đô la hóa huy động và cho vay so với các quốc gia có đặc điểm tương đồng trong khu vực, như các quốc gia thuộc khối CCA. Mặc dù vậy, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ đô la hóa tiền gửi có khả năng tăng trở lại trong giai đoạn nền kinh tế có nhiều bất ổn như lạm phát tăng cao, biến động mạnh trong điều chỉnh tỷ giá. Do đó, chúng tôi nhận thấy việc NHNN chuyển đổi cách thức điều hành tỷ giá sang tỷ giá trung tâm (linh hoạt hơn) là phù hợp nhằm tránh các cú sốc về điều chỉnh tỷ giá như trước đây.
Ngoài các biện pháp hành chính, cần tăng cường thêm các biện pháp thị trường nhằm tăng tính hấp dẫn của đồng bản tệ (nghiệp vụ, thị trường phái sinh ngoại hối...), tiến tới giảm bớt can thiệp chính sách vào thị trường ngoại hối. Đồng thời, khi áp dụng các biện pháp chống đô la hóa, các nhà hoạch định chính sách cũng cần xem xét các rủi ro từ khả năng rút vốn ngoại tệ ra khỏi hệ thống ngân hàng cũng như hiện tượng tháo chạy vốn (capital flight), đồng thời cần hiểu rõ ý nghĩa của việc truyền thông minh bạch và hiệu quả là đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng lòng tin của công chúng vào các chính sách tiền tệ được áp dụng.
1 Vụ Ổn định tiền tệ - tài chính, NHNN
1 Borensztein, Eduardo và Berg, Andrew, IMF (2000).
2 Theo tiêu chuẩn của IMF, tỷ lệ đô la hóa nền kinh tế trên 50% được coi là ở mức cao, từ 15-30% là mức trung bình và dưới 15% là mức thấp.
3 Trong giai đoạn này, Việt Nam đã áp dụng cơ chế thả nổi tỷ giá có kiểm soát theo hướng làm VND mất giá từ từ (crawling peg), ngược lại, mức độ đô la hóa cũng ngày càng giảm do các yếu tố về kiểm soát dòng vốn (ngoại tệ) vẫn được duy trì, đặc biệt đối với lãi suất huy động bằng USD làm cho lãi suất tiền gửi bằng VND trở nên hấp dẫn hơn một cách tương đối.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Anne-Marie Gulde, David Hoelscher,Alain Ize, David Marston, and Gianni De Nicoló. (2006). Financial Stability in Dollarized Economies.OCCASIONAL PAPER, IMF.
- Andreas Hauskrecht, Nguyen Thanh Hai. (2004). Dollarization in Viet Nam.12th Annual Conference on Pacific Basin Finance, Economics, Accounting, and Business, Bangkok, August 10-11, 2004.
- Borensztein, Eduardo and Berg, Andrew (2000), The Pros and Cons of Full Dollarization, IMF Working Paper No. 00/50.
- Michaël Goujon. (2006). Fighting inflation in a dollarized economy: The case of Vietnam. Journal of Comparative EconomicsVol. 34, 564- 581.
- Sami Ben Naceur, Amr Hosny, and Gregory Hadjian. (2015). How to De-Dollarize Financial Systems in the Caucasus and Central Asia?IMF Working Paper.