Những ngày vừa qua, dư luận quan tâm nhiều đến việc Bộ KH&ĐT tổ chức tham vấn, lấy ý kiến nhằm hoàn thiện Luật Hỗ trợ DNNVV. Hầu hết những kỳ vọng lạc quan đều mong muốn bộ luật này nhanh chóng được hoàn thiện và thông qua để các DNNVV có cơ sở pháp lý nhận được sự hỗ trợ.
Băn khoăn nguồn hỗ trợ DN nhỏ
Thạch Bình
Những ngày vừa qua, dư luận quan tâm nhiều đến việc Bộ KH&ĐT tổ chức tham vấn, lấy ý kiến nhằm hoàn thiện Luật Hỗ trợ DNNVV. Hầu hết những kỳ vọng lạc quan đều mong muốn bộ luật này nhanh chóng được hoàn thiện và thông qua để các DNNVV có cơ sở pháp lý nhận được sự hỗ trợ.
Tuy nhiên, xem xét tổng thể các điều khoản nêu ra trong dự thảo lần thứ 5 của bộ luật này, có thể thấy rằng đến thời điểm hiện nay, văn bản nêu trên mới chỉ dừng lại ở bước tổng hợp các ưu đãi, hỗ trợ; vốn trước đó đã được các văn bản dưới luật quy định và được các địa phương triển khai thực hiện nhưng không mấy hiệu quả.
Mới chỉ tổng hợp các hỗ trợ có sẵn
Nhìn tổng quát dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV có thể thấy, cả Chương II và Chương III của văn bản này, các nhà soạn thảo đã cố gắng thể hiện rằng đây sẽ là văn bản pháp lý cao nhất, tháo gỡ trực tiếp tất cả những vướng mắc, khó khăn của khối DNNVV, bởi mỗi điều luật đều được thiết kế như một điều hỗ trợ. Chẳng hạn, DN than phiền thủ tục hành chính phiền hà thì dự thảo luật có Điều 9 về cải cách hành chính; DN than thiếu vốn thì dự thảo luật có Điều 10, Điều 11 về hỗ trợ tiếp cận tín dụng từ các NHTM và các định chế tài chính khác; DN than thuế nặng, chi phí mặt bằng cao thì dự thảo luật có Điều 12 và 15 về hỗ trợ thuế TNDN và hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh…
Tuy nhiên, xét về góc độ đầu tư thì dường như dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV đang còn bỏ lửng những điều khoản về kinh phí nhằm thực hiện hỗ trợ. Dự thảo luật cũng giống như Nghị định 56/2009 của Chính phủ và hàng loạt các chương trình hỗ trợ khác (như Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến 2020, Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao…) đều chưa có những nghiên cứu đánh giá kết quả hỗ trợ cho DNNVV để xác định mức độ khả thi, tỷ lệ có thể tham gia nhận hỗ trợ của khối DNNVV và mức độ phù hợp với các điều khoản trong các hiệp định thương mại đã được Việt Nam ký kết với thế giới và khu vực.
Hầu hết các điều khoản về hỗ trợ đối với khối DNNVV trong dự thảo luật vốn trước đây đã được quy định rải rác tại các Nghị định 119/1999; Nghị định 56/2009 của Chính phủ; Quyết định 1556/QĐ-TTg (2012) của Thủ tướng, Luật Đấu thầu 2013 và Luật Đất đai sửa đổi (2014)… Tuy nhiên, quan sát thực tế cho thấy do các văn bản nêu trên chưa làm rõ kinh phí để thực hiện các chính sách hỗ trợ này được lấy từ nguồn nào và bộ, ngành nào sẽ chịu trách nhiệm chi các khoản hỗ trợ nên hiệu quả thực hiện rất thấp.
Chẳng hạn, theo các thống kê, từ năm 1999 đến nay, Quỹ Khoa học Công nghệ quốc gia chỉ tiếp nhận được khoảng trên 50 đề tài của DN, kinh phí hỗ trợ thực tế vỏn vẹn chỉ khoảng trên 8 tỷ đồng, số DNNVV thực sự có thể tham gia nhận hỗ trợ theo Nghị định 119 là không đánh giá được. Hay như Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia 2020 được khởi động từ năm 2011, tuy nhiên đến nay mới chỉ hỗ trợ thực tế được khoảng 6,4 tỷ đồng, chỉ có 7/250 DN được đề xuất là tiếp cận được nguồn hỗ trợ về đổi mới công nghệ. Thậm chí có những đề án lớn như Đề án hỗ trợ DNNVV trong công nghiệp hỗ trợ mặc dù đã được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định (Quyết định 1556) từ năm 2012, nhưng đến nay vẫn chưa bố trí được kinh phí để thực hiện, vì thế chưa có DN nào nhận được ưu đãi.
Cẩn trọng rơi vào cơ chế trợ cấp
Một trong những điểm sáng đáng ghi nhận của dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV tính đến thời điểm hiện nay là bắt đầu có những giới hạn tương đối cụ thể về mức độ đầu tư ngân sách cho hoạt động hỗ trợ DN.
Chẳng hạn, tại Điều 16, dự luật quy định rằng “cơ quan tổ chức có sử dụng ngân sách Nhà nước để mua sắm công dành tỷ lệ tối thiểu 20% ngân sách hoặc 20% số lượng hợp đồng hàng năm để mua sắm sản phẩm, dịch vụ do DNNVV sản xuất, cung ứng”; hoặc Điều 17 yêu cầu rằng “Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước tham gia đầu tư, góp vốn tối thiểu 30% vốn xây dựng và vận hành hệ thống chuỗi phân phối sản phẩm”.
Tuy nhiên, việc chưa cụ thể hóa cách thức kiểm tra cũng như chưa đưa ra các quy định chế tài đối với các cơ quan, tổ chức thực thi việc hỗ trợ sẽ khiến cho việc giới hạn tỷ lệ chỉ mang tính mệnh lệnh hành chính và khó đảm bảo sẽ được thực hiện minh bạch. Ngoài ra, việc quy định các mức hỗ trợ riêng biệt cho các ngành hàng như nông - lâm - thủy sản; dệt may - da giày (Điều 26) mà không đưa ra các lý do tại sao lại chọn lựa 2 ngành này cũng sẽ tạo ra cơ sở để các đối tác quốc tế dùng làm căn cứ để xem xét trong các vụ khởi kiện chống bán phá giá và phòng vệ thương mại.