HIỆU QUẢ CƠ CHẾ PHỐI HỢP VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG, NGÂN HÀNG
Cuối năm 2014, trong bối cảnh kết quả thi hành án dân sự cho tổ chức tín dụng còn rất thấp, chưa đạt được mục tiêu đề ra1, nhằm tăng cường hiệu quả của công tác thi hành án dân sự liên quan đến hoạt động ngân hàng, góp phần thực hiện mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ về việc đưa nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng xuống dưới 3% trong năm 2015, trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 01/NQ-CP, ngày 18/3/2015, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp đã ký kết Quy chế số 01/QCLN/NHNNVN-BTP ngày 18/3/2015 về phối hợp giữa 02 ngành trong công tác thi hành án dân sự liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng (Quy chế 01) nhằm tăng cường hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong hoạt động tín dụng, ngân hàng. Sau hơn một năm triển khai các nội dung phối hợp tại Quy chế 01, công tác thi hành án dân sự liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả cần ghi nhận. Bài viết dưới đây đề cập kết quả triển khai thực hiện Quy chế 01 trong thời gian vừa qua và đề xuất một số kiến nghị để tăng cường hiệu quả thực hiện Quy chế 01 trong thời gian tới.
1. Công tác triển khai Quy chế 01
Ngay sau khi Quy chế 01 được ban hành, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp đã kịp thời có văn bản chỉ đạo các đơn vị trực thuộc triển khai thực hiện Quy chế 01.
Về phía Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước đã có các văn bản số 2203/NHNN-PC, 2204/NHNN-PC, 5058/NHNN-PC chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh , thành phố trực thuộc trung ương, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài triển khai ngay các công việc cụ thể như: (i) Tổ chức phổ biến, quán triệt các nội dung Quy chế phối hợp trên địa bàn (tỉnh, thành phố) đặc biệt các nội dung liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của các chi nhánh NHNN ; (ii) Phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án dân sự và tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên địa bàn xây dựng, triển khai kế hoạch thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự các cấp; (iii) Chủ động tổng hợp các khó khăn, vướng mắc của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để phối hợp với cơ quan thi hành án trên địa bàn xử lý kịp thời theo thẩm quyền hoặc báo cáo Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp để xử lý theo thẩm quyền...
Về phía Bộ Tư pháp, ngày 24/4/2015, Bộ Tư pháp đã có văn bản số 1348/BTP-TCTHADS về việc triển khai thực hiện Quy chế 01 gửi các Cục thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương yêu cầu quán triệt đầy đủ Quy chế 01 đến các đơn vị trực thuộc đặc biệt là các nội dung có liên quan đến trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự.
2. Kết quả thực hiện Quy chế 01
2.1. Một số kết quả đạt được
Sau hơn một năm triển khai, việc phối hợp của 02 ngành đã đạt được kết quả nhất định trên tất cả các nội dung phối hợp theo Quy chế 01 như (i) cung cấp, trao đổi, thông tin; (ii) trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; (iii) trong kiểm tra công tác thi hành án dân sự liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng; (iv) trong hướng dẫn nghiệp vụ, giải quyết khiếu nại, tố cáo; (v) trong công tác xử lý nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng, …
Về hình thức phối hợp , Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ dưới nhiều hình thức như: (i) Tổ chức các cuộc họp liên ngành để kịp thời hướng dẫn nghiệp vụ, giải quyết khiến nại, tố cáo trong công tác thi hành án dân sự; (ii) Tổ chức các đoàn làm việc trực tiếp với tổ chức tín dụng, cơ quan thi hành án các cấp như Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, VAMC ... để tiến hành rà soát việc thi hành án tại địa phương và xử lý kịp thời các vướng mắc để hỗ trợ xử lý dứt điểm các vụ việc thi hành án dân sự phức tạp; (iii) Tổ chức đoàn kiểm tra, chỉ đạo công tác thi hành án dân sự tại một số địa phương như tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, tỉnh Bình Dương.
Các đơn vị trực thuộc của 02 ngành cũng rất tích cực trong công tác triển khai Quy chế 01, đến nay, đã có 47/63 Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức ký kết Quy chế phối hợp với các cơ quan thi hành án trên địa bàn.
Về kết quả thi hành án liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng, số liệu thống kê của Bộ Tư pháp cho thấy kết quả thi hành dân sự liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng đã có chuyển biến rõ rệt, tăng khá cao về cả số việc được thi hành và số tiền thu hồi qua công tác thi hành án dân sự so với giai đoạn trước khi ký kết Quy chế phối hợp 01, cụ thể:
(i) Từ 01/10/2014 đến 30/9/2015 (tổng hợp số liệu thống kê năm 2015), số việc phải thi hành cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng là 16.932 việc (chiếm 2,14% so với tổng số thụ lý), tăng 3.436 việc (25,46%) so với cùng kỳ năm 2014, tương ứng với tổng số tiền phải thi hành là trên 68.965 tỷ đồng (chiếm 54,75% so với tổng số thụ lý), tăng hơn 28.114 tỷ đồng (68,82%) so với cùng kỳ năm 2014.
Số việc đã thi hành xong 3.043 việc (chiếm 17,8% trên tổng số việc tín dụng ngân hàng), tăng 2.231 việc (274,75%) so cùng kỳ năm 2014, tương ứng với số tiền trên 15.794 tỷ đồng (22,9% trên tổng số tiền tín dụng ngân hàng), tăng hơn 10.466 tỷ đồng (196,43%) so với cùng kỳ năm 2014.2
Như vậy, kết quả thi hành án xong về án tín dụng, ngân hàng năm 2015 đã tăng gần gấp 04 lần số việc và gấp 03 lần số tiền so với cùng kỳ năm 2014 (năm 2014 thi hành xong 812 việc, đạt 6% trên tổng số việc tương ứng với số tiền trên 5.328 tỷ đồng, đạt 13% trên tổng số tiền).
(ii) Trong 06 tháng năm 2016, theo số liệu thống kê từ 01/10/2015 đến 30/3/2016 thì số việc phải thi hành cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng là 16.433 việc (chiếm 3,03% so với tổng số thụ lý), tăng 2.042 việc (14,19%) so với cùng kỳ năm 2015, tương ứng với tổng số tiền phải thi hành là 60.399 tỷ 274 triệu 650 nghìn đồng (chiếm 53,97% so với tổng số thụ lý), tăng 11.394 tỷ 703 triệu 344 nghìn đồng (23,25%) so với cùng kỳ năm 2015. Số việc đã thi hành xong 1.239 việc (chiếm 7,54 % trên tổng số việc tín dụng ngân hàng), tăng 508 việc (69,49% ) so với cùng kỳ năm 2015, tương ứng với số tiền 8.120 tỷ 233 triệu 23 nghìn đồng (13,44% trên tổng số tiền tín dụng ngân hàng), tăng 2.477 tỷ 324 triệu 803 nghìn đồng (43,9%) so với cùng kỳ năm 2015.3
Theo đó, kết quả thi hành án xong về án tín dụng, ngân hàng 06 tháng năm 2016 đã tăng trên 41% số việc và tăng trên 30% số tiền so với cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ năm 2015 thi hành xong 731 việc, đạt 5.07% trên tổng số việc tương ứng với số tiền 5.642 tỷ 908 triệu 221 nghìn đồng, đạt 11.5% trên tổng số tiền phải thi hành).
Như vậy, từ thời điểm ban hành Quy chế 01, công tác thi hành án dân sự liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng đã có nhiều chuyển biến tích cực, đáng ghi nhận. Hay nói cách khác, có thể nói, việc triển khai thực hiện Quy chế 01 đã có hiệu quả trên thực tiễn, góp phần tích cực vào việc xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD.
2.2. Hạn chế, nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai Quy chế 01 vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: (i) Tại một số địa phương còn chưa tích cực triển khai Quy chế 01; (ii) Việc phối hợp đôi lúc còn chưa đáp ứng được yêu cầu do các tổ chức tín dụng vẫn có phản ánh về việc cơ quan thi hành án còn chậm thụ lý việc thi hành án của tổ chức tín dụng …; (iii) Kết quả thi hành án tuy có tăng nhưng vẫn chưa đạt được như kỳ vọng, số lượng việc tồn đọng vẫn còn nhiều 4, thòi gian thi hành án còn kéo dài…
Việc tồn tại các hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên có thể kể đến một số lý do cơ bản như: (i) Sự quá tải trong công việc của Chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự do số lượng vụ việc thi hành án cần thụ lý giải quyết nhiều; (ii) Hệ thống pháp luật còn chưa đồng bộ; (iii) Người phải thi hành án thiếu hợp tác, trốn tránh, gây khó khăn trong việc xử lý tài sản đã thế chấp; (iv) Một số bản án, quyết định của Tòa án chưa rõ ràng, …
3. Một số kiến nghị
Nhìn chung, việc ban hành Quy chế 01 trong thời gian qua đã tạo cơ chế cho sự phối hợp công tác giữa 02 ngành, giữa cơ quan thi hành án dân sự và tổ chức tín dụng. Quy chế 01 đã có tác động rất tích cực đối với công tác xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng, góp phần .... Do đó, trong thời gian tới, để công tác phối hợp phát huy hiệu quả cao hơn, cơ quan quản lý, có quan thi hành án dân sự các cấp và tổ chức tín dụng cần thực hiện tốt công việc sau đây:
3.1. Đối với tổ chức tín dụng: Một là, khi lập hồ sơ cho vay vốn, hồ sơ bảo đảm khoản cấp tín dụng cần tổ chức thẩm định hồ sơ chặt chẽ về tình trạng tài sản thế chấp, bảo lãnh, thẩm định giá theo đúng giá trị thực tế và đánh giá tác động về biến động giá trị của tài sản bảo đảm. Hai là, trong quá trình cấp tín dụng, tổ chức tín dụng cần có biện pháp theo dõi, kiểm tra tài sản đảm bảo, kịp thời có biện pháp xử lý khi có vấn đề vướng mắc xảy ra. Nếu vụ việc đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thì tổ chức tín dụng cần phối hợp chặt chẽ với Tòa án và cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tố tụng để đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định có tính khả thi (nhất là đối với các loại việc công nhận hòa giải thành). Ba là, trong quá trình tổ chức thi hành án, tổ chức tín dụng cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với cơ quan thi hành án dân sự trong việc giải quyết thi hành án; đẩy mạnh phối hợp trong công tác xác minh, thông báo thi hành án, kê biên và thẩm định giá, bán đấu giá tài sản. Trường hợp tài sản không bán được, ngân hàng và tổ chức tín dụng xem xét lựa chọn phương án nhận tài sản bảo đảm thay cho việc nghĩa vụ trả nợ đối với các tài sản phù hợp.
3.2. Đối với cơ quan thi hành án các cấp: Một là, Ban chỉ đạo thi hành án các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần tăng cường công tác chỉ đạo hoạt động tổ chức cưỡng chế thi hành án, tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm các vụ việc liên quan đến án tín dụng ngân hàng có tính chất phức tạp, kéo dài,; tập trung tổ chức thi hành dứt điểm các bản ản, quyết định có điều kiện thi hành. Hai là, có biện pháp chấn chỉnh các trường hợp chấp hành viên thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác thi hành án làm ảnh hưởng đến tiến độ tổ chức thi hành án. Ba là, có biện pháp đào tạo, nâng cao năng lực của các chấp hành viên, bổ sung đủ số lượng chấp hành viên đảm bảo đủ nhân sự công tác. Bốn là, tiếp tục tích cực phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên địa bàn rà soát từng vụ việc thi hành án để xử lý kịp thời các khó khăn vướng mắc (nếu có). Khi phát sinh khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền cần báo cáo Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước để xử lý kịp thời.
3.3. Đối với cơ quan quản lý (Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước), cần tiếp tục quan tâm sát sao, kịp thời chỉ đạo các nội dung còn vướng mắc, kịp thời tháo gỡ khó khăn theo phản ánh của các đơn vị theo thẩm quyền (về cơ chế, về quy định pháp luật, …), đa dạng hóa các phương pháp phối hợp như tổ chức họp trực tuyến, … để nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự liên quan đến hoạt động tín dụng, ngân hàng./.
Đậu Thị Mai Hương – PC
1 Theo Báo cáo số 376/BC-TCTHADS ngày 30/1/2015 của Bộ Tư pháp, tính đến hết ngày 30/9/2014, tổng số việc phải thi hành cho tổ chức tín dụng là 13.571 việc, trong đó đã giải quyết xong 713 việc (chiếm 5,25%), số việc còn phải thi hành là 12.858 việc (chiếm 94,75%). Tổng số tiền phải thi hành cho tổ chức tín dụng là 40.150.569.720.000đ, trong đó, số tiền đã thu được là 5.350.918.370.000đ (chiếm 13,32%); số tiền còn phải thi hành là 34.799.651.350.000đ (chiếm 89,13%).
2 Theo Báo cáo công tác triển khai thực hiện Quy chế 01 năm 2015 của Bộ Tư pháp tai văn bản số 3564/BC-TCTHADS ngày 29/10/2015
3 Số liệu do Bộ Tư pháp cung cấp tại Hội nghị sơ kết thực hiện Quy chế 01 trong 06 tháng đầu năm 2016.
4 Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, tính đến 30/3/2016 toàn quốc số việc còn tồn đọng chưa thi hành là 15.194 việc, số tiền là 52.283 tỷ 144 triệu 811 nghìn đồng.