Quá trình phát triển hệ thống TCTD tại Việt Nam đã chứng kiến 03 cuộc cải tổ mạnh mẽ, trong đó đã và đang phải xử lý với một loạt các NHTMCP yếu kém (trong giai đoạn 1998-2003 đã xác định và xử lý 14 NHTMCP yếu kém, giai đoạn từ 2005-2008 đã chuyển đổi 12 NHTMCP nông thôn thành NHTMCP đô thị. Trong năm 2012 xác định 09 NHTMCP yếu kém, năm 2013-2014 tiếp tục đánh giá và xác định thêm 08 TCTD yếu kém, trong đó có 02 NHTMCP là yếu kém).
Tuy nhiên, rà soát quy định pháp lý của Việt Nam, hiện nay không có khái niệm về “TCTD yếu kém”. Quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 (gọi tắt là Đề án 254) đã đưa ra các biện pháp xử lý trên cơ sở kết quả phân loại các TCTD thành 03 nhóm: lành mạnh, thiếu thanh khoản tạm thời và yếu kém; nhưng Đề án 254 không đưa ra tiêu chí hoặc nội hàm cụ thể về TCTD yếu kém.
Nghiên cứu các tài liệu trên thế giới cho thấy có một số quan điểm khác nhau về ngân hàng yếu kém. Dựa trên việc đánh giá tiêu chí Giá trị tài sản không sinh lời (NPAs), K.C.Shekhar và Lekshmy Shekhar (1974) đã đưa ra 02 khái niệm về ngân hàng yếu kém, theo đó một ngân hàng yếu kém là ngân hàng tích tụ (tích trữ) nhiều khoản lỗ và giá trị tài sản không sinh lời vượt quá giá trị ròng của nó. Hay nói một cách khác, một ngân hàng yếu kém là ngân hàng có lợi nhuận ròng là âm trong 03 năm liên tiếp.
Trong khi đó, Raj Kapila và Uma Kapila (2000) đánh giá ngân hàng yếu kém dựa trên khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và lợi nhuận thu được của ngân hàng. Raj Kapila và Uma Kapila (2000) đưa ra 07 tham số được sử dụng để đánh giá sức khỏe hay sự yếu kém của ngân hàng, gồm: (i) tỉ lệ an toàn vốn (capital adequency ratio), (ii) tỉ lệ khả năng thanh toán (coverage ratio), (iii) lợi nhuận trên tổng tài sản (return on assets), (iv) biên độ lãi suất ròng (net interest margin), (v) tỉ suất lợi nhuận hoạt động so với tổng tài sản đã sử dụng (ratio of operating profit to average working funds), (vi) tỉ lệ chi phí trên thu nhập (ratio of cost to income), và (vii) tỉ lệ giữa chi phí nhân viên trên tổng của thu nhập lãi ròng và tất cả các khoản thu khác (ratio of staff cost to net interest income + all other income).
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cũng căn cứ trên tỉ lệ an toàn vốn và khả năng chi trả để phân loại các tổ chức tín dụng (TCTD) yếu kém thành 04 loại: (i) Nhóm 1 là những TCTD có tỷ lệ an toàn vốn gần (trên hoặc dưới một chút) 4% (đối với TCTD chỉ hoạt động trong nước) và 8% (đối với TCTD có hoạt động ở nước ngoài); (ii) Nhóm 2 là những TCTD có tỷ lệ an toàn vốn nhỏ hơn mức quy định nhưng vẫn đảm bảo khả năng chi trả. (iii) Nhóm 3 là những TCTD có tỷ lệ an toàn vốn nhỏ hơn mức quy định nhưng không đủ khả năng chi trả. (iv) Nhóm 4 là TCTD âm vốn chủ sở hữu. (Tái cơ cấu ngân hàng - Kinh nghiệm Nhật Bản –Đoàn Khảo sát CQTTGSNH 2016).
Từ các khái niệm trên ta thấy trong khi K.C.Shekhar và Lekshmy Shekhar (1974) đánh giá sự yếu kém của ngân hàng dựa trên giá trị các tài sản không sinh lời thì Ngân hàng Trung ương Nhật Bản lại dựa trên tỉ lệ an toàn vốn (vốn chủ sở hữu) và khả năng chi trả. Raj Kapila và Uma Kapila (2000) quan tâm thêm một yếu tố khác là lợi nhuận thu được của ngân hàng. Tuy nhiên, xét cho đến cùng thì để xác định ngân hàng yếu kém các nhà nghiên cứu đều dựa vào các tiêu chí: mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, trình độ quản trị, lợi nhuận, rủi ro thanh khoản, mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường, hồ sơ rủi ro, mô hình kinh doanh (CAMELS).
Bài viết xin nêu ra một quan điểm về ngân hàng yếu kém hiện đang được thừa nhận hầu hết các quốc gia trên thế giới. Đó là khái niệm của BIS (2015) về ngân hàng yếu kém là ngân hàng có khả năng thanh khoản hoặc khả năng thanh toán bị suy yếu hoặc sẽ nhanh chóng suy yếu nếu các nguồn tài chính, hồ sơ rủi ro, mô hình kinh doanh, hệ thống quản lý và kiểm soát rủi ro, và/hoặc chất lượng quản trị, điều hành của ngân hàng không được cải thiện một cách đáng kể.
Để đưa ra khái niệm thấu đáo về ngân hàng yếu kém, BIS (2015) đã dựa trên 02 quan điểm quan trọng sau:
- BIS (2015) cho rằng nhà nghiên cứu cần phân biệt giữa các dấu hiệu và nguyên nhân của yếu kém.
Dấu hiệu là những biểu hiện bên ngoài cho ta thấy sự suy giảm, không ổn định trong hoạt động của ngân hàng, như: tỉ lệ nợ quá hạn cao (chất lượng tài sản thấp), lợi nhuận ít hoặc không có, mất vốn, tỉ lệ đòn bẩy quá mức, tín dụng tập trung quá lớn vào lĩnh vực rủi ro cao, hay các vấn đề về danh tiếng và thanh khoản. Có thể trong cùng một thời điểm, ngân hàng sẽ xuất hiện nhiều dấu hiệu đi cùng nhau (BIS, 2014).
Nhận biết ra các dấu hiệu yếu kém của ngân hàng sẽ chưa đủ để chỉnh sửa các tồn tại, hạn chế, CQTTGSNH/ cán bộ thanh tra, giám sát cũng như Ban Điều hành của ngân hàng phải phân tích và đánh giá được nguyên nhân gốc rễ của những dấu hiệu trên, làm cơ sở hoạch định và thực thi các hành động chỉnh sửa hay kế hoạch phục hồi. Theo đó, nguyên nhân gốc rễ của vấn đề có thể là mô hình hoạt động không phù hợp với môi trường kinh doanh, sự yếu kém hoặc không đầy đủ trong quản trị ngân hàng, các quyết định kinh doanh yếu kém của cấp lãnh đạo hoặc sự không phù hợp giữa lợi ích của cổ đông và cơ cấu động lực nội bộ. Cũng có thể có nhiều nguyên nhân cùng xảy ra đối với những yếu kém của ngân hàng.
- BIS (2015) cho rằng nói đến nguyên nhân yếu kém của ngân hàng chính là nói đến những rủi ro ngân hàng phải đối mặt. Tổng hợp các tài liệu cho thấy có 06 rủi ro thường gặp phải trong hoạt động kinh doanh, bao gồm:
(i) Rủi ro tín dụng: Theo Joel Bessis (2001), rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng, đó là rủi ro đối tác (được hiểu là khách hàng) sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Trong khi đó BIS (2015) cho rằng do đặc trưng của hoạt động ngân hàng là đi vay để cho vay nên nhiều trường hợp khi truy đến nguyên nhân đều là vấn đề liên quan đến tín dụng. Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên vì hoạt động cho vay vẫn là một hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng. Vì vậy, yêu cầu về vốn nghiêm ngặt là cần thiết nhưng vẫn chưa phải là điều kiện đủ đối với sự ổn định của ngành ngân hàng: cơ sở thanh khoản lành mạnh được đưa vào áp dụng mạnh mẽ hơn thông qua các chuẩn mực thanh tra, giám sát cũng quan trọng như yêu cầu về vốn.Ví dụ, trong “giai đoạn thanh khoản” sớm của cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ 2007, nhiều ngân hàng – bất kể có đủ vốn hay không – đều đã gặp khó khăn vì họ khi đó đã không quản lý thanh khoản của ngân hàng mình một cách cẩn trọng. Cuộc khủng hoảng đã đưa tầm quan trọng của thanh khoản về đúng vị trí của nó, đến sự vận hành đúng đắn của các thị trường tài chính và ngành ngân hàng. Trước khủng hoảng, các thị trường tài sản hoạt động rất sôi nổi và nguồn vốn luôn có sẵn ở mức giá thấp. Sự đổi hướng ngoạn mục trong điều kiện thị trường đã minh họa được rằng, thanh khoản có thể bốc hơi một cách nhanh chóng và mất thanh khoản có thể kéo dài rất rất lâu.
(ii) Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp. Nói một cách khác là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt mức dự kiến, hay nói cách khác, ngân hàng không đáp ứng nhu cầu thanh toán hay rút tiền của khách hàng. Khi khả năng thanh toán bị đe dọa, NHTM buộc phải tìm kiếm nguồn và thường là gia tăng các khoản đi vay “nóng” với chi phí rất cao, đặc biệt ở những nơi mà thị trường tiền tệ chưa phát triển. Theo Joel Bessis (2011) và Peter S. Rose (2004), rủi ro thanh khoản hình thành do những thua lỗ liên tiếp và dẫn tới việc Chính phủ hay Ngân hàng Trung ương (NHTW) phải bơm vào những khoản tiền lớn trong các cuộc khủng hoảng tài chính.
(iii) Rủi ro thị trường: Rủi ro thị trường được hiểu là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi có sự biến động không lường trước của thị trường, bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá. Lãi suất và tỷ giá là những phạm trù khác nhau, và sự biến động của chúng cũng tác động không giống nhau đến hoạt động ngân hàng. Trong khi lãi suất biến động thì làm thay đổi thu nhập và chi phí, thì tỷ giá biến động sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. Tuy nhiên, chúng có điểm giống nhau là sự thay đổi trên thị trường phụ thuộc vào yếu tố cung cầu về vốn và ngoại tệ.
(iv) Rủi ro hoạt động: Rủi ro hoạt động là những tổn thất xuất phát từ những sự cố trong hệ thống thông tin, hệ thống báo cáo, những quy định giám sát rủi ro nội bộ, những quy trình nội bộ để điều chỉnh kịp thời hoặc việc tuân thủ những chính sách rủi ro. Hiệp ước Basel II định nghĩa rủi ro hoạt động là rủi ro thua lỗ trực tiếp hoặc gián tiếp do những quy trình nội bộ, nhân lực và hệ thống không thỏa đáng hoặc do những sự kiện bên ngoài.
Các hoạt động kinh doanh của NHTM ngày càng trở nên phức tạp và được thực hiện theo những quy trình và quy định rất chặt chẽ, song sự yếu kém về nghiệp vụ, thu thập xử lý thông tin thiếu chính xác và không kịp thời có thể ảnh hưởng đến quyết định của nhà quản lý ngân hàng, có thể gây thua lỗ.
(v) Rủi ro kinh doanh: kết hợp chặt chẽ với môi trường kinh doanh của ngân hàng, đó là các chính sách vĩ mô các khung pháp lý và cơ chế quản lý hạ tầng tài chính của ngành ngân hàng tại quốc gia sở tại, khả năng của hệ thống thanh toán.
(vi) Rủi ro sự kiện: bao gồm các rủi ro khác còn lại của ngân hàng. Đó có thể là rủi ro về chính trị tại quốc gia sở tại; rủi ro khi có khủng hoảng ngân hàng; các rủi ro từ bên ngoài tác động vào; những rủi ro mang tính lan truyền khác.
Đối với các rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường hay rủi ro kinh doanh, rủi ro sự kiện không mới mặc dù lịch sử cho thấy, các loại rủi ro này không quan trọng bằng rủi ro tín dụng khi hạch toán ngân hàng đổ vỡ. Nhưng một số rủi ro này đang ngày càng trở nên quan trọng hơn. Ví dụ, rủi ro hoạt động đã trở thành mối quan tâm sâu sắc hơn vì các ngân hàng sử dụng nhiều hệ thống phức tạp hơn, nhiều kênh phân phối mới và các hợp đồng thuê ngoài làm tăng mức độ phụ thuộc của ngân hàng vào bên thứ ba và khả năng ngân hàng gặp phải rủi ro do bên thứ ba gây ra cao hơn. Đồng thời, các ngân hàng cũng có lợi từ việc các kỹ thuật và công cụ được cải tiến giúp giảm bớt rủi ro. Tất cả các ngân hàng cần phải cẩn trọng quản lý, duy trì sự cân bằng giữa rủi ro và lợi ích.
(vii) Thông thường, các vấn đề về rủi ro quá mức, tổn thất tín dụng, thanh khoản và thiếu vốn xuất phát từ sự yếu kém trong công tác quản trị doanh nghiệp (yếu kém trong công tác giám sát của HĐQT, thiếu vắng khung khẩu vị rủi ro hiệu quả), các chính sách trả thù lao (ví dụ những chính sách tập trung vào các thu nhập ngắn hạn mà không điều chỉnh rủi ro) và hệ thống kiểm soát nội bộ. Cụ thể, các quy trình này thường không đủ mạnh để phòng ngừa:
Thông lệ cho vay lỏng lẻo, ví dụ như kỹ năng underwriting còn kém hoặc chương trình mở rộng cho vay quá táo bạo trong khi đó lại không có động lực nhận diện các khoản nợ xấu ngay từ sớm để có biện pháp xử lý kịp thời.
Tập trung quá mức xuyên suốt mô hình kinh doanh, bao gồm huy động vốn, cho vay, các nguồn thu nhập và rủi ro. Sự tập trung có thể dồn tích trong tất cả các sản phẩm, các mảng hoạt động kinh doanh, các quốc gia và pháp nhân và có thể gây mất ổn định. Cơ chế khoản vay lớn (large exposure) được nhiều quốc gia áp dụng nhằm hạn chế một số tình trạng tập trung tín dụng.
o Tập trung cho vay đối với một địa bàn hoặc một ngành nghề là nguyên nhân dẫn đến vấn đề của nhiều ngân hàng. Nếu một ngân hàng không duy trì được danh mục cho vay đa dạng thì ngân hàng đó sẽ đối mặt với rủi ro mà các khoản vay cấp cho một địa bàn cụ thể, một tập đoàn bao gồm các công ty liên quan với nhau có thể đồng thời trở thành các khoản nợ xấu.
o Các sản phẩm có cùng loại rủi ro dưới nhiều tên gọi khác nhau và nằm trong các bộ phận khác nhau như sản phẩm cấu trúc và cấu trúc huy động vốn ngoại bảng có thể che giấu rủi ro.
o Sự tập trung vào danh mục đầu tư đồng thời lại quá phụ thuộc vào tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng có thể làm gia tăng rủi ro.
o Sự tập trung vào một số nguồn vốn huy động, đặc biệt khi đồng thời tập trung vào cho vay cũng có thể gây mất ổn định.
Sự mất cân bằng cấu trúc trong trạng thái thanh khoản của một ngân hàng, được xác định bằng, ví dụ một cấu trúc kỳ hạn không bền vững, tỷ lệ cho vay so với tiền gửi cao, hoặc tỷ lệ nguồn vốn huy động ổn định so với tổng tài sản nợ rất thấp. Sự tập trung quá mức của nguồn vốn huy động là đặc trưng của các mô hình kinh doanh quá phụ thuộc vào thanh khoản dư thừa của thị trường và lại bỏ qua rủi ro thanh khoản.
Mức độ chấp nhận rủi ro quá cao, như thông qua mua bán đầu cơ. Việc này có thể xảy ra khi chế độ thù lao của ngân hàng gắn tiền thù lao, tiền thưởng với kết quả hoạt động ngắn hạn (ví dụ tăng lợi nhuận, thu nhập hoặc giá cổ phiếu ngắn hạn)1. Khi thù lao gắn với các mục tiêu kết quả hoạt động mà không cân nhắc đến các rủi ro liên quan thì cán bộ quản lý của ngân hàng sẽ có động lực chấp nhận mức rủi ro cao hơn. Điều này cũng tạo động lực đầu tư không đúng mức trong các nhân viên kiểm soát rủi ro và các hoạt động quản lý rủi ro quan trọng khác như đầu tư vào các công cụ công nghệ thông tin (IT) cần thiết để có thể tổng hợp chính xác và quản lý các trạng thái rủi ro nhằm đảm bảo các trạng thái này được cập nhật. Mức độ chấp nhận rủi ro quá cao cũng có thể xuất hiện khi văn hóa của một ngân hàng hướng tới sự tăng trưởng lợi nhuận hằng năm. Các lý do khác có thể bao gồm yếu kém trong văn hóa và quản trị rủi ro, cán bộ điều hành và không điều hành cấp cao thiếu kinh nghiệm và kỹ năng rủi ro, bộ phận chức năng rủi ro không có tầm ảnh hưởng, yếu kém trong công tác đo lường và báo cáo rủi ro. Cuối cùng, công tác quản lý rủi ro không phát triển kịp với những đổi mới tài chính.
Hủy bỏ các hạn chế trong chính sách và quy trình hiện hữu, như giới hạn về tập trung, cho vay các đối tượng có liên quan, các khoản vay giá trị chịu rủi ro trên sổ kinh doanh, mức chịu đựng rủi ro thanh khoản. Nhiều cá nhân trong ngân hàng có thể dùng quyền lực, tỷ lệ sở hữu chi phối hay vị trí điều hành để hủy bỏ các chính sách và quy trình đặt ra. Trong các ngân hàng quốc doanh, vấn đề này cũng có thể xuất hiện thông qua sự can thiệp chính trị.
Tăng trưởng bảng cân đối tài sản quá nhanh. Trong thời gian trước khi xảy ra khủng hoảng, một số ngân hàng có sự hiểu biết hoặc sự kiểm soát rất hạn chế đối với tiềm năng tăng trưởng của bảng cân đối tài sản và nhu cầu thanh khoản, bao gồm cả nhu cầu huy động vốn xuyên biên giới. Các ngân hàng đã không định giá đúng rủi ro mà một số khoản mục ngoại bảng có thể cần phải được cấp vốn trong nội bảng một cách chính xác khi việc huy động các nguồn vốn này từ bên ngoài trở nên khó khăn hoặc quá đắt đỏ. Một số HĐQT không có cơ chế giám sát việc thực hiện các quyết định chiến lược như quyết định về tốc độ tăng trưởng bảng cân đối tài sản.
Gian lận hoặc các hoạt động phạm tội và tự kinh doanh của một hoặc một số cá nhân.
Mặc dù hoạt động của ngân hàng luôn chưa đựng nhiều loại rủi ro, BIS (2015) quan điểm rằng rủi ro thanh khoản là rủi ro “phái sinh” từ các loại rủi ro khác nhau của ngân hàng, qua đó sẽ đẩy ngân hàng vào bờ vực phá sản.
Với quan điểm mới về ngân hàng yếu kém đã giúp các nhà quản lý nhìn nhận ra những rủi ro một cách sơm nhất thông qua các dấu hiệu và có thể thực hiện các giải pháp phù hợp, hiệu quả để chấn chỉnh sự yếu kém nhờ vào việc phân tích đúng đắn về nguyên nhân cơ bản/côt lõi của những yếu kém.
Vụ I - Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng