Theo đánh giá của các chuyên gia, đặc biệt là các doanh nghiệp fintech và tổ chức tài chính quốc tế, Việt Nam là quốc gia sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi và tiềm năng cho sự phát triển công nghệ tài chính (fintech). Tuy nhiên, lĩnh vực fintech tại Việt Nam mới ở giai đoạn phát triển ban đầu và còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.
Thực trạng phát triển fintech
Cho tới nay, thi ̣trường Việt Nam đang có hơn 40 công ty hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, phần lớn tập trung vào mảng thanh toán (chiếm gần 60%). Trong số này, khoảng 2/3 số doanh nghiệp khởi nghiệp fintech đang cung cấp cho người tiêu dùng công cụ thanh toán trực tuyến (như Onepay, 123 Pay, VinaPay, MoMo); cung ứng giải pháp thanh toán kỹ thuật số POS/mPOS (như iBox, Moca); chuyển tiền (như Nodestr, Matchmove, Cash2vn, Remittance Hub), v.v.
Ngoài ra, thị trường fintech Việt Nam còn có một số doanh nghiệp khởi nghiệp (Startups) hoạt động trong những lĩnh vực khác như gọi vốn cộng đồng (như FundStart, Comicola, Betado hay Firststep), dịch vụ cho vay trực tuyến (LoanVi, Tima, Trust Circle), quản lý dữ liệu tài chính cá nhân (như Moneylover, Mobivi, Kiu), quản lý dữ liệu khách hàng (như CircleBi, Trusting Social), ngân hàng kỹ thuật số (Timo), so sánh dịch vụ tài chính (như BankGo, GoBear), cầm đồ online (như F88).
- Mô hình hoạt động fintech chủ yếu là hợp tác giữa công ty fintech và ngân hàng. Trong đó, tất cả các công ty trung gian thanh toán được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp giấy phép hoạt động đều phối hợp với ngân hàng để cung ứng các sản phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng. Việc các công ty fintech kết hợp với các ngân hàng là xu hướng chủ đạo trong điều kiện của Việt Nam, do các doanh nghiệp fintech có lợi thế về công nghệ nhưng lại thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, thiếu nền tảng khách hàng vững chắc và niềm tin từ phía khách hàng (vốn đã quen thuộc với các sản phẩm, dịch vụ tài chính - ngân hàng truyền thống).
- Trước làn sóng đầu tư vào lĩnh vực fintech trên toàn cầu, các nhà đầu tư nước ngoài cũng đang mở rộng đầu tư vào các doanh nghiệp fintech tại Việt Nam. Bắt đầu với thương vụ đầu tư 28 triệu USD từ Quỹ đầu tư tư nhân Standard Chartered và Ngân hàng Đầu tư toàn cầu Goldman Sachs vào Công ty cổ phần M_Service, đơn vi ̣ cung cấp dịch vụ ví điện tử MoMo vào năm 2014, đến nay nhiều khoản đầu tư vào các doanh nghiệp fintech Việt Nam đã được hiện thực hóa. Có thể liệt kê một số thương vụ đầu tư tiêu biểu trong thời gian vừa qua trong lĩnh vực fintech tại Việt Nam như: Tập đoàn truyền thông VNG chuyển nhượng toàn bộ cổ phần (62,25%) tại Công ty cổ phần Thanh toán điện tử VNPT (VNPT EPAY) cho Quỹ Đầu tư UTC của Hàn Quốc - công ty hiện đang quản lý 7 quỹ đầu tư với tri ̣ giá trên 100 triệu USD; Công ty Credit China Fintech (CCF) - một đơn vị cung cấp dịch vụ tích hợp fintech tại Trung Quốc công bố chi 12,73 triệu USD (gần 300 tỷ đồng) để sở hữu 51% cổ phần phát hành thêm của Công ty cổ phần Công nghệ Amigo.
Theo thống kê của Tropica Founder Institute, tổng giá tri ̣các thương vụ đầu tư liên quan đến các doanh nghiệp khởi nghiệp Fintech tại Việt Nam trong năm 2016 đã lên tới 129 triệu USD, chiếm 63% tổng giá tri ̣các thương vụ Startups trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Tiềm năng và triển vọng phát triển
Với quy mô dân số với hơn 94 triệu người, phần lớn là dưới 35 tuổi (chiếm 60,5%), đây là độ tuổi có khả năng thích ứng với các giải pháp công nghệ mới. Ngoài ra, tỷ lệ tiếp cận điện thoại di động ở Việt Nam hiện đang ở mức cao với gần 30 triệu người sử dụng điện thoại di động vào cuối năm 2017 và dự báo có thể lên tới 40 triệu người vào năm 2021. Đáng chú ý, Việt Nam hiện là một quốc gia có số lượng người sử dụng Internet phát triển nhanh và sôi động trong khu vực. Theo thống kê, hiện có khoảng 52 triệu người dùng Internet (chiếm 54% dân số), đứng thứ 5 tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về tỷ lệ dân số có kết nối Internet, sau Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Indonesia.
Với những lợi thế trên đây, Việt Nam được xem là một địa chỉ đầu tư hấp dẫn và tiềm năng trong lĩnh vực fintech tại Châu Á. Trong đó, các giải pháp fintech sẽ dẫn dắt các công ty mới cung cấp dịch vụ tài chính bên ngoài khu vực tài chính truyền thống, qua đó có thể định hình lại môi trường cạnh tranh giữa các nhà cung cấp tài chính và mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính.
Về cơ bản, có thể phân chia các doanh nghiệp trong lĩnh vực fintech thành một số phân khúc chính dựa trên mô hình kinh doanh đặc thù của những công ty này, sự phân chia này gần như tương ứng với các mảng hoạt động tài chính - ngân hàng trên toàn cầu. Những lĩnh vực hoạt động chính của fintech bao gồm: Thanh toán và chuyển khoản; huy động vốn và cho vay; đầu tư và quản lý tài sản; bảo hiểm; blockchain và các ứng dụng; các công nghệ hỗ trợ hoạt động tài chính - ngân hàng như nhận biết khách hàng điện tử (e-KYC); thông tin/xếp hạng tín dụng, v.v.
Về thanh toán và chuyển khoản, các fintech sẽ nhanh chóng thay đổi thói quen của khách hàng trong việc sử dụng các giao dịch tài chính. Trong đó, khách hàng tập trung mối quan tâm vào phương thức thanh toán qua các thiết bị di động và kết nối trực tiếp. Nhờ đặc điểm tương đối giống nhau, nền tảng hạ tầng tài chính hiện nay đang hỗ trợ tích cực cho xu hướng phát triển thanh toán mới này. Về chuyển khoản, hệ thống hiện hành được xây dựng qua một số trung gian như ngân hàng hối đoái tự động và ngân hàng trung gian (ngân hàng đại lý), cách thức này đôi khi chậm trễ và tốn kém. Tuy nhiên, những đổi mới trong lĩnh vực này đã và sẽ tiếp tục giúp chuyển tiền dễ dàng, nhanh chóng và rẻ hơn so với trong quá khứ. Trong đó, loại hình công nghệ quan trọng nhất và có ý nghĩa lớn nhất là mô hình phân phối theo chuỗi khối (blockchain).
Blockchain là mô hình thanh toán phân tán, không cần sự bảo lãnh của bên thứ ba. Cũng như công nghệ đứng sau bitcoin, blockchain có tiềm năng cắt giảm nhiều giao dịch tài chính. Blockchain là hệ thống trao đổi trực tiếp, sử dụng tiền kỹ thuật số (cryptocurrency - còn gọi là tiền ảo). Trong đó, sổ cái công cộng blockchain sẽ ghi chép tất cả các giao dịch được cập nhật, lưu giữ và xử lý bởi chủ sở hữu tiền tệ. Nghĩa là, không thể sao chép hay sử dụng quá một lần, cho phép người dùng thực hiện thanh toán an toàn và lưu trữ tiền mà không cần sử dụng tên của họ hoặc thông qua một ngân hàng. Người sử dụng cũng có thể mua các loại tiền tệ từ các công ty môi giới, sau đó lưu trữ và chi tiêu chúng bằng cách sử dụng ví điện tử. Blockchain được thiết kế cho mục đích bảo mật và an toàn, cho phép giấu tên các giao dịch ngang hàng giữa những cá nhân sử dụng tiền điện tử. Nhờ chi phí giao dịch và quản lý thấp, không thể giả mạo hoặc đảo ngược giao dịch, tiền điện tử trở nên hấp dẫn và được cho là tin cậy hơn so với tiền tệ thông thường.
Gần đây, thế giới cũng chứng kiến những đổi mới liên quan đến dịch vụ kiều hối. Đây là một nguồn tài chính rất lớn, được chuyển chủ yếu từ các nước phát triển cho người thân tại các nước đang phát triển. Trong đó, công nghệ số và việc sử dụng rộng rãi các thiết bị di động là chìa khóa để giảm chi phí và thời gian giao dịch quốc tế. Chi phí dịch vụ kiều hối giảm từ 9,1% trong năm 2011 xuống 7,4% trong năm 2015. Trong thời gian này, tỷ trọng kiều hối qua ngân hàng giảm từ 33% xuống 22%.
Trong lĩnh vực thanh toán, các doanh nghiệp fintech có khả năng phát triển hàng loạt phương thức thanh toán đột phá, có thể thay thế cho những phương thức thanh toán truyền thống (alternative payment method) như thanh toán di động (mobile payment), ví điện tử (eWallet), phương thức chuyển tiền ngang hàng (peer-to-peer payment), cung cấp cho khách hàng những trải nghiệm tốt hơn về thanh toán với khả năng xử lý trong thời gian thực, góp phần đẩy nhanh tốc độ giao dịch thanh toán; đồng thời tăng cường bảo mật trong các giao dịch nhờ ứng dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại.
Huy động vốn: Các doanh nghiệp fintech mang lại nền tảng gọi vốn từ cộng đồng (crowd funding platform). Nền tảng này cho phép người sử dụng có thể huy động vốn từ xã hội để góp phần hoàn thành những dự án hay sản phẩm dự kiến nhưng lại không có vốn để thực hiện. Liên quan đến vấn đề này, có nhiều hình thức gọi vốn khác nhau.
Về cho vay, các hợp đồng cho vay trực tiếp đang từng bước thay thế phương thức cho vay truyền thống (thông qua các trung gian tài chính). Trong đó, phương thức phổ biến nhất là dựa trên mô hình giao dịch ngang hàng (P2P), được hình thành sau khủng hoảng tài chính, khi khả năng cung cấp tín dụng ngân hàng truyền thống suy giảm đáng kể. Loại hình cho vay này cho phép cung cấp tín dụng trực tiếp từ bên cho vay cho người vay, không phải nhờ đến bên thứ ba là các trung gian tài chính. Theo thời gian, mô hình giao dịch ngang hàng ngày càng phát triển mạnh, và nhiều cá nhân sẽ hùn vốn để tăng quy mô tín dụng.
Nền tảng cho vay ngang hàng (P2P lending) là một trong những đột phá của fintech trong lĩnh vực cho vay, một lĩnh vực vốn là hoạt động có thế mạnh của các ngân hàng trên toàn cầu. Khác với hoạt động cho vay truyền thống, mô hình cho vay P2P không cần chi nhánh bán lẻ và cung cấp dịch vụ cho vay một cách nhanh chóng, mang lại nền tảng trực tuyến để kết nối người đi vay và người cho vay với mục tiêu nhằm giảm bớt các chi phí vay cho người đi vay và tăng lợi suất cho người cho vay. Dựa trên các máy đào dữ liệu, phương thức cho vay mới này cũng cho phép kiểm soát rủi ro khách hàng và đánh giá rủi ro tín dụng, thay thế phương pháp chấm điểm truyền thống như hiện nay.
Thị trường cho vay P2P cũng hướng tới mục tiêu là những khách hàng chưa được phục vụ hoặc chưa được phục vụ đầy đủ bởi hệ thống ngân hàng truyền thống như các khoản vay tiêu dùng hoặc khoản vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhìn chung, ngân hàng truyền thống thường rất khó phục vụ tốt những phân khúc khách hàng này do yêu cầu chặt chẽ về thủ tục KYC/AML cũng như tiêu chuẩn khắt khe hơn về hoạt động cho vay sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Về cơ bản, một quy trình cho vay ngang hàng được thực hiện như sau: (i) Bên đi vay đề xuất nhu cầu vay trên nền tảng kỹ thuật số, tương tự với việc đề nghị vay vốn truyền thống; (ii) Nền tảng sẽ xác nhận thông tin bên đi vay (như lịch sử tín dụng, nguồn trả nợ…) và đánh giá rủi ro cho vay, trước khi xếp hạng tín dụng cho người đi vay đó và quyết định lãi suất cho vay; (iii) Căn cứ trên danh sách những người đi vay mà nền tảng cung cấp qua một ứng dụng/cổng thông tin điện tử, bên cho vay sẽ lựa chọn người đi vay phù hợp để cho vay. Khi đã xác nhận, ứng dụng/cổng thông tin điện tử đó sẽ tự động chuyển tiền từ tài khoản của người cho vay sang người đi vay và đồng thời cũng định kỳ theo dõi, thực hiện việc chuyển tiền lãi từ người đi vay sang người cho vay.
Bên cạnh nền tảng P2P lending, một số doanh nghiệp fintech trên thế giới còn thực hiện liên kết với các ngân hàng để cấp tín dụng cho cá nhân hoặc các doanh nghiệp (chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ), được gọi là hình thức cấp tín dụng và bao thanh toán (credit and factoring). Những khoản cho vay này thường có kỳ hạn một vài tuần và chủ yếu được thực hiện qua điện thoại di động.
Đầu tư và quản lý tài sản: Đây là mảng lĩnh vực mà các doanh nghiệp fintech hướng tới nhằm cung cấp các giải pháp tư vấn, lựa chọn hình thức và quản lý các khoản đầu tư cho người sử dụng. Một số ứng dụng nổi bật của phân mảng hoạt động này bao gồm:
- Mạng giao dịch xã hội (social trading network): Là nền tảng cho phép bên đầu tư có thể theo dõi, thảo luận và sao chép các chiến lược đầu tư của những người khác trong cùng một mạng xã hội để tìm kiếm lợi nhuận mà không cần tự tiến hành giao dịch. Tùy thuộc vào mô hình hoạt động của từng công ty cung ứng nền tảng này mà người sử dụng có thể phải trả phí giá chênh lệch (trong trường hợp đầu tư Forex); phí đặt lệnh hoặc thu phí theo phần trăm giá trị đầu tư, v.v;
- Robot tư vấn (Robo-advisor): là công nghệ cho phép tận dụng Internet để cung cấp các khoản đầu tư đa dạng cho khách hàng thông qua sử dụng các thuật toán (algorithms). Sự nổi lên của công nghệ robot tư vấn mang đến cho các nhà đầu tư cá nhân thêm nhiều lựa chọn thông qua việc nhận được những lời khuyên về tài chính và tư vấn ở một mức giá phù hợp so với các nhà tư vấn tài chính và quản lý đầu tư truyền thống;
- Quản lý tài chính cá nhân (personal financial management - PFM): là công cụ giúp xây dựng kế hoạch tài chính cá nhân thông qua quản lý các dữ liệu tài chính trên phần mềm các ứng dụng điện thoại. PFM cho phép khách hàng quản lý được các khoản tiền họ gửi trong các ngân hàng khác nhau hoặc những khoản vay từ những bên cho vay khác nhau trong cùng một ứng dụng.
Ngoài ra, các nền tảng do các doanh nghiệp fintech ứng dụng trong lĩnh vực bảo hiểm tập trung vào việc thúc đẩy khả năng tìm kiếm các loại hình bảo hiểm phù hợp và mang lại những giải pháp tốt hơn cho khách hàng trong lĩnh vực này.
Blockchain và các ứng dụng: Công nghệ Blockchain (chuỗi khối) là một nền tảng dữ liệu theo phương thức sổ cái phân tán (distributed ledger), sử dụng một hệ thống được mã hóa bởi các thuật toán phức tạp với cơ sở dữ liệu các bản ghi giao dịch phi tập trung cho phép truy cập công khai nhưng không một ai có thể can thiệp, sửa đổi. Công nghệ Blockchain cho phép tạo ra những bản ghi giao dịch minh bạch, lâu bền, chống sửa đổi, có thể truy vết giữa các bên tham gia hệ thống mà không cần đến bất kỳ một bên trung gian nào khác để lưu giữ số cái ghi chép các bản ghi giao dịch. Từng khối dữ liệu trong chuỗi khối này chứa đựng các thông tin chi tiết của một giao dịch bao gồm bên bán, bên mua, thời hạn hợp đồng, giá thỏa thuận… Đồng thời, khi một giao dịch được thực hiện, một khối dữ liệu mới sẽ được sinh ra để ghi nhận những thông tin chi tiết về giao dịch đó và ghép nối tiếp tục vào chuỗi khối dữ liệu của toàn bộ các giao dịch diễn ra trước đó.
Công nghệ Blockchain có thể coi là một công nghệ mang tính đột phá trong ngành Ngân hàng, được kỳ vọng mang lại những thay đổi tích cực và hứa hẹn mang tới một kỷ nguyên số cho các hoạt động tài chính- ngân hàng nhờ khả năng đột phá về công nghệ, có khả năng đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ phức tạp, tiết giảm chi phí hạ tầng kỹ thuật tốn kém hiện nay của ngành ngân hàng - tài chính, giúp đẩy nhanh tốc độ xử lý giao dịch, tăng cường bảo mật giao dịch, minh bạch thông tin và đảm bảo hạ tầng xử lý chống chịu tốt trước sự tấn công của hackers, duy trì khả năng hoạt động bền bỉ, liên tục. Vì vậy rất nhiều công ty Fintech ngày nay tập trung nghiên cứu và cung ứng ra thị trường các sản phẩm dựa trên công nghệ này. Do những ứng dụng của Blockchain được trải đều trên nhiều lĩnh vực khác nhau của ngành tài chính - ngân hàng bao gồm từ thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền, tài trợ thương mại, giao dịch ngoại hối... Do đó, công nghệ Blockchain có thể được coi là một lĩnh vực hoạt động riêng của doanh nghiệp fintech.
Các công cụ hỗ trợ: Bên cạnh việc cung ứng các giải pháp công nghệ nhằm hướng tới thay thế các sản phẩm, dịch vụ tài chính truyền thống, các công ty Fintech cũng được biết đến trong việc cung ứng các công cụ hỗ trợ ngành tài chính- ngân hàng thông qua các giải pháp công nghệ tiên tiến và hiện đại. Một số công cụ nổi bật mà fintech đang hỗ trợ cho ngành tài chính - ngân hàng gồm: công cụ bảo mật, công cụ nhận diện khách hàng (KYC), công cụ quản lý và phân tích dữ liệu (data analytics and management), công cụ quản lý rủi ro, công cụ quản lý quan hệ khách hàng... Mặc dù không trực tiếp ảnh hưởng tới các sản phẩm, dịch vụ của ngành tài chính ngân hàng, nhưng việc cung ứng các công cụ hỗ trợ này cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ trong ngành tài chính - ngân hàng, mang lại những trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ.
Ngoài ra, sự phát triển của fintech cũng khuyến khích phổ cập tài chính. Trong đó, cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính cho phép khách hàng cá nhân tại các nước đang phát triển sử dụng dịch vụ tài chính và quyết định đầu tư. Trong quá khứ, có sự chênh lệch rất lớn giữa doanh nghiệp và hộ gia đình về mức độ tiếp cận các sản phẩm tài chính. Rào cản truyền thống ở đây là chi phí giao dịch khá cao, do các khoản giao dịch của khách hàng cá nhân thường có giá trị thấp, trong khi rất khó xác định cũng như đánh giá rủi ro. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, điện thoại di động có bước phát triển bứt phá nhanh hơn so với công nghệ ngân hàng, giao dịch tiền mặt chiếm tỷ trọng lớn, và công nghệ số sẽ góp phần khắc phục những trở ngại này.
Trước làn sóng fintech đang có xu hướng gia tăng sức ảnh hưởng trên thị trường tài chính - ngân hàng, các nhà tạo lập chính sách cần theo dõi liên tục và áp dụng những khung điều chỉnh thích hợp nhằm theo kịp tốc độ đổi mới tài chính; các tổ chức tín dụng cần quan tâm đầu tư, nâng cấp về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin rà soát, đánh giá lại mô hình hoạt động kinh doanh cho phù hợp với những thay đổi của thị trường, ưu tiên các hoạt động nghiên cứu, áp dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ vào hoạt động kinh doanh (như công nghệ blockchain, trí tuệ nhân tạo, robo-adviso), góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Xuân Thanh
Nguồn: Ngân hàng Thế giới; NHNN.