BÁO CÁO TÓM TẮT TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU HÀNH CSTT, TTGS VÀ HOẠT ĐỘNG NH NĂM 2018 VÀ ĐỊNH HƯỚNG NHIỆM VỤ NĂM 2019
PHẦN THỨ NHẤT
KẾT QUẢ ĐIỀU HÀNH CSTT, TTGS VÀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG NĂM 2018
Năm 2018 là năm giữa nhiệm kỳ thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2020 với nhiều sự kiện quan trọng, đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm của toàn hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ được giao nhằm tạo đà cho các năm tiếp theo hoàn thành mục tiêu phát triển của cả giai đoạn.
Trong bối cảnh chung đó, Ban Lãnh đạo NHNN đã bám sát định hướng phát triển kinh tế xã hội năm 2018 và cả giai đoạn 2016-2020 được Đảng, Quốc hội, Chính phủ thông qua để cụ thể hóa thành các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2018 cũng như các năm tiếp theo để chỉ đạo các đơn vị trong toàn ngành tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao nhằm góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước.
Kết quả điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng đã được NHNN tổng hợp, đánh giá toàn diện, sâu sắc tại 3 báo cáo chuyên đề và gửi đến tất cả các đơn vị trong ngành và các đại biểu tham dự Hội nghị hôm nay. Do thời gian có hạn, được sự ủy quyền của Thống đốc NHNN, tôi xin trình bày tóm tắt một số kết quả chủ yếu các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2018 như sau:
1. Về kết quả điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng
Năm 2018, kinh tế thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen, vừa tạo điều kiện nhưng cũng gây không ít áp lực, khó khăn, thách thức cho ổn định vĩ mô và điều hành chính sách tiền tệ của Chính phủ và NHNN.
Mặc dù kinh tế toàn cầu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng với động lực từ Mỹ và các nước mới nổi, nhưng tốc độ tăng trưởng có biểu hiện chậm lại từ nửa cuối năm. Giá hàng hóa cơ bản trên thị trường thế giới biến động mạnh, áp lực lạm phát gia tăng tại nhiều nước, đồng USD tăng giá so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt, NHTW các nước lớn tiếp tục giảm dần việc nới lỏng CSTT, kéo theo xu hướng tăng lãi suất và can thiệp ngoại tệ để ổn định tỷ giá tại nhiều nước mới nổi và đang phát triển; căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc tiềm ẩn rủi ro đối với sự ổn định và phát triển thương mại, tài chính toàn cầu.
Kinh tế trong nước năm qua cũng có nhiều khó khăn do những yếu kém nội tại từ nhiều năm trước, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, tình trạng thiên tai, lũ lụt,... cùng với sự rủi ro và bất định của thị trường tài chính tiền tệ thế giới là những khó khăn, thách thức cho điều hành CSTT trong việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ ngoại hối và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Những mục tiêu, định hướng đã được NHNN xác định từ đầu năm dựa trên những chủ trương, Nghị quyết và chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và những đánh giá diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ, dưới sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp, quyết liệt của Chính phủ, TTCP, NHNN đã triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành CSTT và đã đạt được những kết quả tích cực như sau:
- Tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng 11,58%. Việc kiểm soát tốt tiền tệ đã duy trì lạm phát cơ bản bình quân cả năm ở mức 1,48%, tạo dư địa để Chính phủ điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý. CSTT phối hợp đồng bộ, hài hòa với các chính sách vĩ mô khác, đặc biệt là chính sách tài khóa và chính sách quản lý giá, đã giúp kiểm soát lạm phát bình quân ở mức 3,54%, thấp hơn mục tiêu 4%. Kết quả này khẳng định niềm tin của thị trường vào khả năng kiểm soát lạm phát của Chính phủ và NHNN.
- Mặt bằng lãi suất được duy trì ổn định trong bối cảnh lãi suất thế giới có xu hướng gia tăng, thể hiện sự nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thanh khoản của các TCTD được đảm bảo, lãi suất liên ngân hàng phù hợp, vừa hỗ trợ ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, vừa ổn định lãi suất thị trường và tạo điều kiện cho phát hành thành công trái phiếu Chính phủ với lãi suất giảm, kỳ hạn dài.
- Mặc dù có áp lực nhất định nhưng tỷ giá và thị trường ngoại tệ cơ bản ổn định, NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước, các nhu cầu mua ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời. So với nhiều đồng tiền mới nổi mất giá mạnh, tác động tiêu cực đối với kinh tế vĩ mô các nước thì với mức tăng nhẹ tỷ giá VND/USD đã tiếp tục cho thấy sự linh hoạt của điều hành chính sách tỷ giá, củng cố lòng tin của thị trường đối với VND, tình trạng đô-la hóa, vàng hóa giảm mạnh, hỗ trợ tích cực cho chính sách tài khóa, chính sách thương mại, xuất nhập khẩu với thặng dư 7,2 tỷ USD và chính sách tái cơ cấu nợ công.
- Mặc dù thị trường vàng thế giới có nhiều biến động, nhưng giá vàng trong nước diễn biến ổn định và dao động trong biên độ hẹp. NHNN không phải sử dụng ngoại tệ để nhập khẩu vàng can thiệp, tiếp tục bình ổn thị trường vàng miếng. Nguồn vốn bằng vàng tích lũy trong dân đang có xu hướng chuyển thành tiền hoặc các tài sản khác tham gia vào đầu tư, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
- Tín dụng tăng 14%, thấp hơn tốc độ tăng của những năm gần đây và được kiểm soát chặt chẽ hơn, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2018 đạt mức 7,08%, cao nhất trong 11 năm trở lại đây, cho thấy tín dụng được phân bổ hiệu quả và có chất lượng, cơ cấu tín dụng tiếp tục có sự điều chỉnh tích cực, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên. Tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được kiểm soát ở mức hợp lý. Dư nợ tín dụng ngoại tệ giảm liên tục phù hợp với lộ trình hạn chế đô la hóa trong nền kinh tế. Các khó khăn vướng mắc trong quan hệ tín dụng tiếp tục được quan tâm tháo gỡ thông qua các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp.
- Các chương trình tín dụng chính sách, tín dụng ngành kinh tế tiếp tục đạt kết quả tích cực với tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn hệ thống, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp khắc phục hậu quả thiên tai và các chương trình cho vay nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, hỗ trợ ngư dân đánh bắt xa bờ, bám biển, cho vay khắc phục và giảm tổn thất trong nông nghiệp, chính sách cho vay nhà ở xã hội, cho vay tiêu dùng hạn chế tín dụng đen, các chương trình tín dụng chính sách cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên tại NHCSXH tiếp tục phát huy vai trò quan trọng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, điều hành CSTT, tín dụng vẫn còn một số khó khăn cần được quan tâm xử lý, như:
(1). Điều hành CSTT, nhất là tỷ giá, lãi suất trong nước đối mặt với những khó khăn, thách thức, như: lạm phát chịu áp lực bởi xu hướng biến động giá hàng hóa cơ bản và lạm phát trên thị trường thế giới, NHTW các nước tiếp tục thắt chặt tiền tệ, Fed tăng lãi suất và đồng USD trên thị trường quốc tế diễn biến phức tạp, xung đột và tranh chấp thương mại giữa các quốc gia lớn, tỷ giá và thị trường ngoại hối về cơ bản ổn định nhưng vẫn chịu tác động tâm lý kỳ vọng thị trường.
(2). Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức khá cao, khoảng 130%, đòi hỏi chính sách tín dụng cần tiếp tục điều hành thận trọng, hướng tới đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và an toàn hoạt động ngân hàng. Đồng thời, cần kiên trì thực hiện các giải pháp phát triển đồng bộ thị trường tài chính để tăng cường khả năng huy động vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế.
(3). Đối với các dự án BOT, BT giao thông, các TCTD có thể gặp rủi ro do việc thu hồi vốn vay khi một số dự án gặp khó khăn. Tín dụng tiêu dùng tăng là tín hiệu tích cực để thúc đẩy sản xuất và tăng tổng cầu của nền kinh tế, nhưng nếu không được kiểm soát theo đúng mục đích và đối tượng vay vốn sẽ tiềm ẩn rủi ro.
2. Công tác tái cơ cấu các TCTD gắn với xử lý nợ xấu
Nhận thức sâu sắc đây là nhiệm vụ Đảng, Quốc hội, Chính phủ đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay, NHNN luôn dành sự ưu tiên hàng đầu trong chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu theo Đề án 1058 và Nghị quyết số 42 của Quốc hội. Trong đó:
- NHNN tập trung cao độ chỉ đạo, hướng dẫn các TCTD xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc tự phê duyệt phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của từng TCTD; giám sát chặt chẽ việc tổ chức thực hiện phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt và theo dõi, kiểm tra kết quả xử lý nợ xấu cũng như kiểm soát chất lượng tín dụng của từng TCTD để kịp thời cảnh báo, chấn chỉnh và hỗ trợ các TCTD tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh, đặc biệt là các NHTM nhà nước mua lại, các NHTM yếu kém đang trong quá trình củng cố, chấn chỉnh, các QTDND yếu kém, có sai phạm và các TCTD có tỷ lệ nợ xấu nội bảng trên 3%.
- Tổ chức sơ kết 01 năm tình hình triển khai Nghị quyết 42, Quyết định 1058 nhằm kịp thời đánh giá các kết quả đạt được, các tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc để có các giải pháp tháo gỡ và triển khai phù hợp, hiệu quả hơn trong thời gian tới để xử lý nợ xấu tồn đọng.
- Tổ chức 02 Hội nghị chuyên đề về QTDND; Tập trung chỉ đạo và có nhiều giải pháp để quản lý, chấn chỉnh, củng cố hoạt động của hệ thống QTDND và xử lý các QTDND yếu kém, trong đó NHNN đã dừng cấp phép thành lập mới QTDND; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát toàn diện hoạt động của các QTDND tại tất cả các tỉnh, thành phố; Ban hành Chỉ thị của Thống đốc NHNN về việc chấn chỉnh, tăng cường phòng, chống, ngăn ngừa vi phạm pháp luật nhằm đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động trong hệ thống QTDND; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ đối với các Bộ, ngành và chính quyền địa phương cùng vào cuộc để tăng cường giải pháp nhằm bảo đảm an toàn hoạt động, củng cố vững chắc hệ thống QTDND; NHNN cũng đã và đang khẩn trương xử lý các tồn tại, yếu kém, sai phạm của các QTDND; hoàn thiện Đề án củng cố và phát triển hệ thống QTDND đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Với nỗ lực triển khai quyết liệt, mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, công tác cơ cấu lại và xử lý nợ xấu thời gian qua đã đạt nhiều kết quả tích cực, giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống, quy mô và hiệu quả hoạt động tiếp tục được nâng cao; năng lực tài chính tiếp tục được củng cố; năng lực quản trị điều hành từng bước tiệm cận với thông lệ, chuẩn mực quốc tế; tính minh bạch trong hoạt động tín dụng của TCTD từng bước được cải thiện. Những vướng mắc trong xử lý nợ xấu đang được NHNN chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nỗ lực tháo gỡ. Trong đó:
2.1. Về kết quả cơ cấu lại
- Các NHTM do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ (không bao gồm 03 ngân hàng mua bắt buộc) tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống các TCTD với vốn điều lệ chiếm 26,7% tổng vốn điều lệ toàn hệ thống; tổng tài sản chiếm 45,56%; dư nợ cho vay chiếm 52,62%.
- Các NHTMCP tập trung củng cố, chấn chỉnh toàn diện các mặt hoạt động và tiếp tục có bước phát triển tích cực với vốn điều lệ tăng 2,22%, chiếm thị phần 45,7% tổng vốn điều lệ toàn hệ thống; tổng tài sản tăng 10,13%, chiếm thị phần 40,6%; dư nợ cho vay chiếm thị phần 38,2%. Các NHTMCP sau sáp nhập/hợp nhất (Sài Gòn Thương Tín, Hàng Hải, Đại Chúng, Sài Gòn, Sài Gòn - Hà Nội) đã và đang quyết liệt khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế để nâng cao chất lượng hoạt động.
- Phương án cơ cấu lại 03 NHTM mua bắt buộc và NHTMCP Đông Á (DAB) đang được NHNN tích cực chỉ đạo hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đến nay, NHNN đã hoàn thành, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cơ cấu lại NH Đại Dương; 3 ngân hàng còn lại đang khẩn trương hoàn thành việc xác định giá trị theo quy định.
- Hoạt động của hệ thống QTDND tiếp tục được củng cố, tăng cường, góp phần không nhỏ vào việc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế địa phương, hạn chế tín dụng đen. Tuy nhiên, đến nay, vẫn có 64 quỹ yếu kém, trong đó có 24 quỹ đang bị kiểm soát đặc biệt, đòi hỏi các Bộ, ngành liên quan và chính quyền địa phương cần quan tâm, phối hợp chặt chẽ hơn nữa với NHNN trong công tác chấn chỉnh, củng cố hoạt động của loại hình này.
- Căn cứ thực trạng các TCTD phi ngân hàng yếu kém và ý kiến của các Bộ, ngành liên quan, NHNN đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án xử lý đối với các TCTD phi ngân hàng yếu kém, chuyển nhượng vốn của các TCTD phi ngân hàng cho nhà đầu tư nước ngoài. NHNN cũng đã và đang rà soát cơ chế, quy chế hoạt động của các TCTC vi mô để tăng cường vai trò quản lý nhà nước với loại hình tổ chức này.
2.2. Về kết quả xử lý nợ xấu
- Kết quả xử lý nợ xấu nội bảng: Ước tính đến cuối tháng 12/2018, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 149,22 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó các TCTD sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý chiếm tỷ trọng 46,68%, thu nợ của khách hàng chiếm tỷ trọng 26,78%, bán nợ cho VAMC chiếm tỷ trọng 20,10%, còn lại là bán nợ cho các tổ chức, cá nhân khác chiếm tỷ trọng 6,44%. Tính từ năm 2012 đến nay, hệ thống các TCTD đã xử lý được 876,36 nghìn tỷ đồng nợ xấu.
- Kết quả xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42: Từ 15/8/2017 (thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực) đến cuối tháng 12/2018, toàn hệ thống TCTD đã xử lý được 183,17 nghìn tỷ đồng, đạt trên 32,22% tổng nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42. Trong đó xử lý bằng hình thức khách hàng trả nợ tăng mạnh, phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện khi TCTD, VAMC có quyền thu giữ TSBĐ theo Nghị quyết 42. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Nghị quyết 42 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh quá trình xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.
2.3. Kết quả hoạt động chung của hệ thống các TCTD
- Tổng tài sản của hệ thống các TCTD đạt 10,91 triệu tỷ đồng tăng 9,17% so với năm 2017.Vốn điều lệ tăng 10,6%; vốn chủ sở hữu tăng 19,36%. Tỷ lệ an toàn vốn bình quân đạt 12,08%. Hầu hết các TCTD đạt các tỷ lệ, giới hạn an toàn theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ nợ xấu tiếp tục được duy trì bền vững ở mức dưới 3%, đến cuối năm 2018 ở mức 1,89%.
- Việc triển khai Basel II được tập trung thực hiện với sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của NHNN, sự nỗ lực, chủ động của các TCTD. Đến nay đã có 03 NHTM (Ngoại thương, Quốc tế, Phương Đông) được NHNN chấp thuận áp dụng Thông tư 41/2016/TT-NHNN trước thời hạn và đang xem xét đề nghị áp dụng trước thời hạn của 07 NHTM khác.
2.4. Một số vấn đề cần quan tâm, xử lý
- Việc tăng vốn điều lệ của NHTM có vốn Nhà nước gặp nhiều khó khăn do vướng mắc liên quan đến khuôn khổ pháp lý.
- Việc tìm kiếm nhà đầu tư có năng lực tài chính và năng lực quản trị tham gia xử lý, cơ cấu lại các ngân hàng mua lại cũng còn khó khăn. Phần lớn tài sản bảo đảm cho các khoản nợ tại các ngân hàng này đều đang bị kê biên, liên quan đến các vụ án, hồ sơ pháp lý chưa hoàn chỉnh nên việc xử lý, thu hồi nợ và tài sản bảo đảm cũng rất khó khăn.
- Tiến độ xử lý cơ cấu lại đối với một số TCTD phi ngân hàng có chủ sở hữu/cổ đông lớn là các Tập đoàn/Tổng Công ty nhà nước còn chậm. Nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước vẫn đang gặp khó khăn về tài chính, thiếu nguồn lực để xử lý tổn thất và thực hiện cơ cấu lại các TCTD phi ngân hàng này.
- Việc triển khai Nghị quyết 42 trong thực tiễn còn gặp một số khó khăn, vướng mắc cần được các cấp, các ngành quan tâm giải quyết, như: thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm và việc nộp thuế khi chuyển nhượng tài sản bảo đảm áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBĐ và xử lý TSBĐ; hoàn trả TSBĐ là vật chứng trong vụ án hình sự…
- Xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản bảo đảm chiếm tỷ lệ thấp do quá trình xử lý tài sản bảo đảm vẫn còn nhiều vướng mắc về hồ sơ, yếu tố pháp lý...
- Rủi ro và sai phạm trong hoạt động của hệ thống QTDND có xu hướng gia tăng. Một số QTDND có biểu hiện xa rời bản chất và mục tiêu hoạt động của loại hình QTDND theo mô hình HTX, không còn tính liên kết cộng đồng và chạy theo mục tiêu lợi nhuận.Ý thức chấp hành pháp luật, quy định về hoạt động ngân hàng của một số QTDND thấp, rủi ro đạo đức và nguy cơ mất an toàn cao.
3. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thanh tra, giám sát ngân hàng
Nhận thức rõ những tồn tại, hạn chế trong công tác thanh tra, giám sát ngân hàng, Ban lãnh đạo NHNN đã tập trung chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thanh tra giám sát ngân hàng, đặc biệt là công tác giám sát trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển cơ sở dữ liệu, hệ thống tiêu chí giám sát và chủ động cảnh báo sớm các rủi ro trong hoạt động ngân hàng, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án đổi mới, sắp xếp mô hình tổ chức bộ máy và hoạt động của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm từng bước khắc phục các tồn tại, hạn chế bất cập hiện nay và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Nhờ nỗ lực của Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng và thanh tra NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố, công tác thanh tra, giám sát ngân hàng từng bước được củng cố, hỗ trợ tích cực cho công tác điều hành chính sách tiền tệ và đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động tiền tệ, ngân hàng.
Trong năm 2018, NHNN đã thực hiện 1.250 cuộc thanh tra, kiểm tra và ban hành kết luận thanh tra, biên bản kiểm tra đối với 1.157 cuộc thanh tra, kiểm tra. Kết quả thanh tra, kiểm tra cho thấy về cơ bản, các TCTD đã chấp hành các quy định của pháp luật, tập trung thực hiện các giải pháp cơ cấu lại và xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 và Đề án 1058; đầu tư, cho vay các lĩnh vực có hiệu quả, lĩnh vực ưu tiên, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của doanh nghiệp, khách hàng; quan tâm hơn đến công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các bộ phận, đơn vị và cán bộ, nhân viên. Tuy nhiên, hoạt động của các TCTD còn một số tồn tại, hạn chế, vi phạm và rủi ro tiềm ẩn mang tính phổ biến trong một số hoạt động như: cấp tín dụng, phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro, huy động vốn, quản trị, điều hành, kiểm soát, kiểm toán nội bộ, đảm bảo tỷ lệ, giới hạn an toàn.... Trên cơ sở các sai phạm được phát hiện, NHNN đã ban hành 149 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với TCTD và doanh nghiệp, cá nhân với tổng số tiền phạt là 10,67 tỷ đồng (số tiền đã thu là 10,23 tỷ đồng).
Bên cạnh đó, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong năm 2018, NHNN đã tiến hành thanh tra, kiểm tra các tổ chức trung gian thanh toán và đã phát hiện một số tồn tại, vi phạm. Trên cơ sở kết quả thanh tra, kiểm tra, NHNN đã đưa ra 13 kiến nghị yêu cầu khắc phục và ban hành 06 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền phạt là 520 triệu đồng.
Các đoàn thanh tra, kiểm tra của NHNN cũng đã đưa ra 9.810 kiến nghị, yêu cầu TCTD khắc phục. Đến nay, đã có 6.371 kiến nghị được thực hiện. Các kiến nghị đang chỉnh sửa, khắc phục chủ yếu là các kiến nghị liên quan đến công tác xử lý nợ xấu do khách hàng có khó khăn về tài chính nên chưa thu hồi được nợ, hoặc do kết luận thanh tra mới ban hành nên TCTD đang trong quá trình thực hiện kiến nghị. Kết quả thực hiện, xử lý sau thanh tra của các TCTD được gắn với việc xem xét cấp phép mở rộng mạng lưới và cung ứng dịch vụ ngân hàng mới của các TCTD.
Kết quả hoạt động giám sát ngân hàng; thanh tra hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng và tội phạm; phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố... tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần tiếp tục khắc phục, xử lý trong thời gian tới:
- Hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng còn nhiều tồn tại, bất cập về nguồn lực và công nghệ, tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động nên công tác phát hiện các rủi ro, vi phạm còn hạn chế.
- Chất lượng một số cuộc thanh tra chưa cao. Chất lượng, hiệu quả công tác giám sát còn phụ thuộc nhiều vào báo cáo của đối tượng giám sát.
- Việc phối hợp giữa các Bộ, ngành liên quan với NHNN trong việc thực hiện các quy định về phòng, chống rửa tiền chưa thực sự kịp thời và chặt chẽ.
4. Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động ngân hàng: Nhằm đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân theo chủ trương của Chính phủ, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới, hiện đại vào các sản phẩm, dịch vụ thanh toán đảm bảo tiện ích, an toàn, chi phí hợp lý. Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực công, trong đó NHNN trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với việc thu phí các dịch vụ công, góp phần đa dạng hóa các kênh thu, nộp tạo nhiều tiện ích và thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân.
Cùng với công tác chỉ đạo phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, ngành Ngân hàng cũng nhận thức rõ vai trò, tác động của cách mạng khoa học công nghệ 4.0 đến hoạt động ngân hàng, trong năm qua Ban Lãnh đạo NHNN cũng đặc biệt chú trọng chỉ đạo, điều hành công tác đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung bằng nhiều giải pháp đồng bộ.
Với sự chủ động và nỗ lực của ngành Ngân hàng, hoạt động thanh toán tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ với nhiều sản phẩm, tiện ích ngân hàng mới, hiện đại được áp dụng; số lượng và giá trị thanh toán tăng trưởng mạnh; các rủi ro, nguy cơ mất an toàn cơ bản được nhận diện, kiểm soát và xử lý kịp thời. Trong đó, số lượng giao dịch thanh toán nội địa qua thẻ ngân hàng tăng 21,26% so với năm 2017. Giao dịch tài chính qua kênh Internet tăng 33,03% về số lượng và 18,34% về giá trị giao dịch. Giao dịch tài chính qua kênh điện thoại di động tăng 29,74% về số lượng và 125,85% về giá trị giao dịch.
5. Xây dựng, thực hiện chương trình công tác và chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Với sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Thống đốc cũng như Ban Lãnh đạo NHNN và sự nỗ lực của các đơn vị trong Ngành, chương trình công tác và chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2018 đã cơ bản hoàn thành. Kết quả này đã tạo hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện, minh bạch, tiến gần hơn thông lệ, chuẩn mực quốc tế, tạo sự đồng bộ trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Đây là cơ sở nền tảng cho việc thực hiện vai trò quản lý nhà nước và đảm bảo sự ổn định, an toàn, lành mạnh của các TCTD cũng như của thị trường tài chính tiền tệ.
6. Cải cách hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng: Tiếp tục chủ chương của Chính phủ về CCHC và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, NHNN đã ban hành và chỉ đạo các đơn vị trong Ngành triển khai nghiêm túc, quyết liệt Kế hoạch cải cách hành chính năm 2018 và Chương trình hành động của ngành Ngân hàng góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Nhờ đó, công tác này tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực toàn diện trên tất cả các mặt. Trong đó:
- NHNN đã cắt giảm, đơn giản hóa 80 trên tổng số 257 điều kiện thuộc các lĩnh vực hoạt động ngân hàng. Các TCTD tiếp tục rà soát, cắt giảm, bãi bỏ thêm nhiều thủ tục tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vay vốn và sử dụng các dịch vụ.
- NHNN đã triển khai nhiều giải pháp đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành, chú trọng đẩy mạnh đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý công việc. Công tác cải cách công vụ, công chức, tài chính công đều hoàn thành đúng mục tiêu, kế hoạch đề ra.
Kết quả đạt được của ngành Ngân hàng trong nhiều năm qua đã góp phần quan trọng cải thiện môi trường kinh doanh của cả nước nói chung, đưa chỉ số “Tiếp cận tín dụng” của Việt Nam đạt mức trung bình của ASEAN 4 trong năm 2018. Nhờ đó, 3 năm liền vừa qua, NHNN đứng đầu khối các Bộ, ngành TW về chỉ số cải cách hành chính.
7. Công tác thông tin, truyền thông: Với sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên của Ban lãnh đạo NHNN, công tác truyền thông được các đơn vị trong Ngành phối hợp với các cơ quan truyền thông trong và ngoài Ngành chủ động thực hiện kịp thời, có hiệu quả, góp phần quan trọng ổn định tâm lý, định hướng kỳ vọng thị trường và củng cố niềm tin của người dân đối với chủ trương ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và hoạt động ngân hàng của Chính phủ và NHNN.
8. Phát huy vai trò quản lý của NHNN chi nhánh trên địa bàn các tỉnh, thành phố: Hầu hết NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố đã rất chủ động, tích cực phối hợp với các đơn vị tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương và các sở, ngành địa phương thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước trên địa bàn và trở thành cầu nối quan trọng giúp tăng cường mối quan hệ công tác giữa NHNN Trung ương với cấp ủy, chính quyền địa phương và các Đoàn Đại biểu Quốc hội, góp phần tạo sự đồng thuận, ủng hộ chung của cử tri cả nước đối với hoạt động tiền tệ, ngân hàng.
9. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm khác
Bên cạnh việc tập trung cho điều hành chính sách tiền tệ và quản lý hoạt động tiền tệ, ngân hàng, Ban Lãnh đạo NHNN cũng quan tâm chỉ đạo các mảng công tác quan trọng khác. Thực hiện chỉ đạo của Ban Lãnh đạo NHNN, các đơn vị đã chú trọng đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành, tăng cường công tác phối hợp giữa đơn vị, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao, thường xuyên nắm sát tình tình và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh. Nhờ đó, hầu hết các mảng công tác của NHNN đều đạt kết quả tốt và cơ bản hoàn thành mục tiêu đặt ra.
Công tác thống kê, dự báo có bước đổi mới và hoàn thiện quan trọng, phục vụ ngày càng hiệu quả hơn công tác điều hành tiền tệ, ngân hàng. Công tác giám sát tài chính tiếp tục được triển khai tích cực, góp phần ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tiêu cực đến nền kinh tế.
Hoạt động cung ứng, điều hòa tiền mặt đảm bảo thông suốt và an toàn, đáp ứng đầy đủ nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt của nền kinh tế. Công tác tài chính, kế toán và kiểm toán nội bộ tiếp tục được quản lý tốt và triển khai đúng chương trình, kế hoạch, đảm bảo an toàn tài sản nhà nước và thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Công tác XDCB được triển khai tích cực với tỷ lệ giải ngân vốn NSNN đạt 100% kế hoạch.
Công tác tổ chức, cán bộ, đào tạo, nghiên cứu khoa học và thi đua khen thưởng tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng, đạo đức cán bộ, công chức, công vụ và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính quốc gia và yêu cầu phục vụ doanh nghiệp, người dân.
NHNN tiếp tục thực hiện tốt vai trò đại diện tại các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế và tăng cường, phát triển, mở rộng các mối quan hệ song phương, đa phương với NHTW các nước, các tổ chức tài chính nhằm tranh thủ sự ủng hộ, hỗ trợ của các tổ chức này đối với Việt Nam trên trường quốc tế.
Các tổ chức Đảng, công đoàn, đoàn thanh niên các cấp được sự quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện của Ban lãnh đạo NHNN nên đã hoạt động hiệu quả và hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần quan trọng cùng với lãnh đạo chuyên môn các cấp phát huy sức mạnh tổng hợp của Ngành trong thực hiện nhiệm vụ chung.
Tóm lại, bám sát chủ trương, định hướng của Quốc hội, Chính phủ, nhờ sự nỗ lực và quyết tâm chính trị cao của Ban lãnh đạo NHNN và các đơn vị trong toàn Ngành, hoạt động tiền tệ, ngân hàng trong năm 2018 đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Năng lực, hiệu quả quản lý của NHNN được củng cố, tăng cường một bước. Các mục tiêu, định hướng phát triển của Ngành cơ bản hoàn thành. Thị trường tiền tệ, hoạt động ngân hàng diễn biến ổn định và có bước chuyển biến mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao và bền vững trong trung và dài hạn, đóng góp ngày càng hiệu quả hơn vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Các mặt trọng tâm khác đều đạt những kết quả rất tích cực, góp phần quan trọng vào kết quả chung của ngành Ngân hàng, tạo động lực quan trong cho các năm tiếp theo tiếp tục hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra cho cả giai đoạn 2016-2020.
PHẦN THỨ HAI
ĐỊNH HƯỚNG TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ NGÂN HÀNG NĂM 2019
Thực hiện Nghị quyết số 69 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, Nghị quyết số 01 và 02 ngày 01/01/2019 của Chính phủ, Thống đốc NHNN đã ban hành chỉ thị số 01 ngày 08/01/2019 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2019 với mục tiêu tổng quát như sau:
1. Điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2019 bình quân dưới 4%; duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối. Năm 2019, định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13%; tín dụng tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.
2. Tiếp tục triển khai tích cực Đề án Cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu đến năm 2020, trong đó, tập trung xử lý hiệu quả các TCTD yếu kém. Tăng cường củng cố, chấn chỉnh hệ thống QTDND nhằm bảo đảm hoạt động theo đúng tôn chỉ, mục đích và giữ vững ổn định kinh tế - xã hội tại địa phương. Thực hiện quyết liệt và hiệu quả Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu; đẩy mạnh xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường, kiểm soát nợ xấu mới phát sinh và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu; Phấn đấu đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống dưới 2%; tỷ lệ nợ xấu và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu dưới 5%. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các TCTD.
3. Tập trung triển khai Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, giảm dần tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế. Xây dựng, hoàn thiện và nâng cấp hạ tầng thanh toán quốc gia, tạo cơ sở để triển khai các sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới. Giám sát các hệ thống thanh toán, đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả; tăng cường công tác an ninh, an toàn trong thanh toán điện tử; áp dụng các tiêu chuẩn an toàn bảo mật thanh toán theo chuẩn quốc tế. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để quản lý tốt hơn hoạt động cung ứng dịch vụ của các trung gian thanh toán và thanh toán điện tử.
4. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực hoạt động ngân hàng nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong các giao dịch hành chính với NHNN và giao dịch với TCTD góp phần cải thiện môi trường kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy doanh nghiệp nói chung và TCTD nói riêng phát triển bền vững. Phấn đấu năm 2019 cải thiện chỉ số Tiếp cận tín dụng tăng ít nhất 1 bậc xếp hạng.
Để tổ chức thực hiện thành công mục tiêu đề ra, chỉ thị đã yêu cầu các đơn vị trong toàn Ngành triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Đề nghị các đơn vị trong Ngành quán triệt và tổ chức triển khai nghiêm túc, có kết quả các nhiệm vụ được giao.
PHẦN THỨ BA
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
1. Để tạo điều kiện cho hệ thống TCTD triển khai có hiệu quả Nghị quyết 42 và Đề án 1058, NHNN kiến nghị Thủ tướng Chính phủ:
- Đề nghị Quốc hội chỉ đạo Tòa án nhân dân tối cao: (i) Yêu cầu các Toà án địa phương ưu tiên áp dụng thủ tục rút gọn khi giải quyết các vụ án liên quan đến xử lý nợ xấu. (ii) Phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp chỉ đạo việc hoàn trả các TSBĐ là vật chứng của vụ án hình sự sau khi đã hoàn tất các thủ tục xác minh chứng cứ.
- Chỉ đạo các Bộ, ngành và các đơn vị, tổ chức có liên quan đẩy mạnh hơn nữa quá trình sắp xếp, tái cơ cấu các doanh nghiệp, nhất là các DNNN, tạo điều kiện cho các TCTD xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính.
- Chỉ đạo Bộ Tài chính sớm chỉ đạo, hướng dẫn cơ quan thuế về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm và nghĩa vụ nộp thuế.
- Giao Bộ Tư pháp sớm chỉ đạo Tổng cục Thi hành án dân sự xây dựng cơ chế, chính sách và hướng dẫn Cơ quan thi hành án các cấp thực hiện có hiệu quả các giải pháp của Nghị quyết 42.
- Chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm ban hành các quy định, hướng dẫn cụ thể vấn đề xử lý TSBĐ là dự án bất động sản còn dở dang.
- Chỉ đạo UBND tỉnh, thành phố xem xét, chỉ đạo các đơn vị liên quan: (i) Tiếp tục rà soát, hướng dẫn, chỉ đạo các cấp chính quyền cơ sở thực hiện Nghị quyết 42 và phân công trách nhiệm hỗ trợ quá trình thực hiện phương án thu giữ TSBĐ; (ii) Quy định cơ chế giải quyết các vấn đề phát sinh nhằm đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội nơi tiến hành thu giữ TSBĐ.
2. Trình TTCP phủ giao Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan:
+ Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tháo gỡ các vướng mắc về pháp lý và báo cáo Chính phủ trình Quốc hội cho phép sử dụng NSNN hoặc các nguồn vốn khác của nhà nước để sớm tăng vốn điều lệ cho các NHTM nhà nước.
+ Sớm xử lý những khó khăn vướng mắc trong cơ chế hỗ trợ nguồn vốn của nhà nước, cấp bù lãi suất... để các NHTM, NHCSXH triên khai mạnh mẽ các chương trình tín dụng ưu tiên, ưu đãi, các dự án trọng điểm, chương trình tín dụng chính sách và an sinh xã hội nhằm hoàn thành mục tiêu, yêu cầu của Chính phủ giao.
3. Tới đây, NHNN sẽ trình và mong Thủ tướng Chính phủ sớm phê duyệt mô hình tổ chức, bộ máy của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng để NHNN sớm có đủ điều kiện phát huy vai trò trách nhiệm và nâng cao năng lực, hiệu quả công tác thanh tra, giám sát ngân hàng – một yêu cầu đang rất cấp bách hiện nay của NHNN.