Ngày 08/01/2019, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố dữ liệu về tình hình dự trữ ngoại hối (COFER), là cơ sở dữ liệu do IMF quản lý, được cập nhật và công bố hàng quý dựa trên báo cáo của các quốc gia thành viên.
Dữ liệu về COFER được IMF tổng hợp dựa trên 149 báo cáo tự nguyện từ các nước thành viên IMF, một số nước khác và những tổ chức nắm giữ dự trữ ngoại hối quốc tế. COFER bao gồm tiền giấy, tiền gửi ngân hàng, trái phiếu kho bạc, các loại giấy tờ có giá của chính phủ, dữ trữ có thể được sử dụng khi có nhu cầu thanh toán. So với báo cáo thống kê trước đó, dữ liệu lần này có điều chỉnh đôi chút theo báo cáo mà IMF nhận được.
Cơ cấu dữ trữ ngoại hối quốc tế phân theo loại đồng tiền chủ chốt (tỷ USD)
|
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Quý III/2018 |
|||
|
Quý III |
Quý IV |
Quý I |
Quý II |
Giá trị |
% |
Tổng dự trữ ngoại hối quốc tế |
11.291,01 |
11.440,46 |
11.600,36 |
11.463,77 |
11.396,62 |
- |
Dự trữ đã phân bổ |
9.642,76 |
10.014,04 |
10.401,81 |
10.514,87 |
10.705,45 |
- |
USD |
6.125,43 |
6.280,61 |
6.530,54 |
6.560,94 |
6.631,09 |
61,94 |
Euro |
1.934,68 |
2.019,24 |
2.117,56 |
2.129,55 |
2.192,11 |
20,48 |
CNY |
108,16 |
123,47 |
145,67 |
192,97 |
192.54 |
1,8 |
Yên Nhật |
436,19 |
491,01 |
477,28 |
511,38 |
532,80 |
4,98 |
Bảng Anh |
433,28 |
454,12 |
486,12 |
469,71 |
480,83 |
4,49 |
Dollar Australia |
170,76 |
180,01 |
176,96 |
178,58 |
180,82 |
1,69 |
Dollar Canada |
192,89 |
202,80 |
193,29 |
200,18 |
208,71 |
1,95 |
Frank Thụy Sỹ |
16,33 |
18,09 |
17,93 |
16,60 |
16,59 |
0,15 |
Một số đồng tiền khác |
224,84 |
244,69 |
256,45 |
254,96 |
269,97 |
2,54 |
Dự trữ chưa phân bổ |
1.648,26 |
1.426,42 |
1.198,55 |
948,89 |
691,17 |
- |
Nguồn: IMF tháng 01/2019
Ngày 26/02/2016, Lãnh đạo IMF nhất trí điều chỉnh COFER nhằm điều tra, xác định giá trị tuyệt đối và tương đối của CNY trong COFER, sau khi đồng tiền này chính thức được đưa vào giỏ tiền định giá dữ trữ ngoại hối quốc tế (gọi là Quyền Rút vốn đặc biệt - SDR) của IMF, có hiệu lực chính thức từ ngày 01/10/2016.
Kể từ quý IV/2016, CNY chính thức nằm trong giỏ tiền SDR cùng với 7 đồng tiền chủ chốt khác. Bao gồm: USD, euro, yên Nhật, bảng Anh, dollar Australia, dollar Canada, frank Thụy Sỹ, và nhóm “những đồng tiền khác.”
Kết quả tổng hợp cho thấy, trữ ngoại hối dưới dạng CNY tăng dần, từ 84,5 tỷ USD (1,07%) trong tổng dự trữ ngoại hối trên thế giới vào cuối năm 2016 lên 192,97 tỷ USD (1,84%) vào quý II/2018, giảm nhẹ xuống 192,54 tỷ USD vào quý III/2018, nhưng vẫn đứng thứ sáu trong tổng số 8 đồng tiền mạnh nhất trên thế giới, vượt dollar Australia, Frank Thụy Sỹ và một số đồng tiền được nhắc tới như dollar New Zealand, peso Mêhicô. Trái lại, dự trữ dưới dạng những đồng tiền khác nhìn chung đều tăng, nhất là USD, euro, và yên Nhật.
Cho đến nay, USD vẫn chiếm vị thế áp đảo trong cơ cấu dự trữ ngoại hối quốc tế, mặc dù tỷ trọng giảm từ 63,96% vào cuối năm 2016 xuống 62,25% vào quý II/2018 và 61,94% vào quý III/2018, sau khi một số nước giảm dự trữ USD và thay thế bằng những ngoại tệ khác, thỏa thuận thanh toán song phương, v.v. Đứng thứ hai là euro (chiếm 20,48%, tăng từ tỷ trọng 19,74% vào cuối năm 2016 và 20,26% vào quý II/2018).
Theo thống kê do Wikipedia cập nhật, có 10 quốc gia và vùng lãnh thổ đứng đầu thế giới về dự trữ ngoại hối quốc tế. Bao gồm: Trung Quốc có 3.053,10 tỷ USD (dữ liệu tháng 10/2018), Nhật Bản có 1.252,87 tỷ USD (dữ liệu tháng 10/2018), Thụy Sỹ có 800,389 tỷ USD (dữ liệu tháng 5/2018), Arập Xê út có 506,4 tỷ USD (dữ liệu tháng 7/2018), CHLB Nga có 466,9 tỷ USD (dữ liệu cuối tháng 12/2018, thay thế vị trí của Đài Loan), Đài Loan có 461,784 tỷ USD (dữ liệu tháng 12/2018), Hồng Kông có 423,10 tỷ USD (dữ liệu tháng 10/2018), Hàn Quốc có 403,70 tỷ USD (dữ liệu tháng 12/2018), Ấn Độ có 397,352 (dữ liệu tháng 01/2019), Brazil có 380,29 tỷ USD (dữ liệu tháng 10/2018). Nhìn chung, dự trữ ngoại hối quốc tế có xu hướng tăng dần theo thời gian. Thống kê cũng cho thấy, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt 63 tỷ USD vào tháng 5/2018, đứng thứ 34 trong bảng danh sách này.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: IMF, Wikipedia