Trong vài năm gần đây, một vài doanh nghiệp tư nhân đã triển khai các nỗ lực tạo dựng sự kết nối giữa các đồng tiền ảo (như Chainlink, Chronicle, WINkLink) với thế giới thực bằng cách nhập khẩu các dữ liệu trong thế giới thực vào các blockchain để sử dụng trong các hợp đồng thông minh DeFi, chủ yếu là cơ sở dữ liệu oracle. Vì thế, những doanh nghiệp này còn được gọi là “oracles.” Đối với các thực thể bên ngoài, oracles không phải là bộ phận trong cấu trúc quản trị phi tập trung gắn kết với công nghệ blockchain. Trên thực tế, nhiều oracles được triển khai trên nền tảng tập trung.
Cơ sở dữ liệu oracle
Về bản chất, cơ sở dữ liệu oracle do tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia Oracle phát hành lần đầu vào năm 2004. Oracle có trụ sở chính tại Austin, Texas, công ty chuyên bán phần mềm và công nghệ cơ sở dữ liệu, các sản phẩm phần mềm doanh nghiệp, các hệ thống thiết kế dựa trên điện toán đám mây. Oracle cũng phát triển và xây dựng các công cụ để phát triển cơ sở dữ liệu và hệ thống phần mềm cấp trung, phần mềm phát triển nguồn nhân lực doanh nghiệp (ERP), phần mềm quản lý nguồn nhân lực (HCM), quản lý quan hệ khách hàng (CRM), quản lý chuỗi cung ứng (SCM), v.v.
Đối với DeFi, oracles là bên thứ ba, thu thập và phổ biến dữ liệu về các sự kiện trong thế giới thực. Nó lưu giữ và truyền tải những dữ liệu này vào blockchain, tạo thuận lợi cho các hợp đồng thông minh. Ngoài việc truyền tải dữ liệu, oracles cũng có thể tiến hành các tính toán dựa trên dữ liệu này.
Mô hình oracle đơn giản nhất là thực thể riêng lẻ được ủy thác thu thập, ghi chép và phổ biến dữ liệu từ các nguồn khác nhau. Tuy nhiên, sự tồn tại song song của các oracle tập trung và các blockchain phi tập trung bộc lộ những thách thức, đặc biệt là tạo ra hoạt động tội phạm tiềm tàng. Có nhiều bằng chứng về các phiên bản vận dụng oracle trong thế giới DeFi. Trong số này, phiên bản lớn nhất hình thành vào năm 2020, khi việc vận dụng Dai stablecoin đã tạo ra thanh khoản khoảng 89 triệu USD trên nền tảng cho vay phi tập trung. Tuy nhiên, năm 2022, các giao thức DeFi thiệt hại khoảng 403,2 triệu USD do 41 cuộc tấn công riêng rẽ bắt nguồn từ sự vận dụng oracle.
Có thể phân loại thành oracle tự động hoặc oracle con người. Theo đó, người sở hữu kiến thức chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể cũng chính là một oracle. Oracle tự động có thể tiếp tục được phân biệt dựa trên nguồn dữ liệu chuyển đến, như phần cứng và phần mềm. Oracle phần mềm lệ thuộc vào các giao diện lập trình áp dụng (APIs) và cơ sở dữ liệu để tiếp cận dữ liệu, trong khi oracle phần cứng kết nối với các thiết bị ngoại vi máy điện toán, bao gồm các hệ thống internet vạn vật (IoT) như máy dò và cảm biến để tìm kiếm thông tin. Trái lại, các oracle con người thâu tóm dữ liệu trực tiếp từ các cá nhân hay tập thể.
Tương tự, có thể phân loại các oracle dựa trên chức năng như kết nối ra vào hệ thống DeFi. Oracles đầu vào hoạt động như cổng dữ liệu, tìm kiếm và truyền tải thông tin từ các nguồn dữ liệu bên ngoài vào hệ thống DeFi. Oracles đầu ra có chức năng điều hành, truyền tải dữ liệu từ môi trường DeFi ra ngoài, tăng thêm khả năng tương tác và mở rộng phạm vi của DeFi.
Vấn đề nan giải của oracle trong DeFi
Các oracle có độ tin cậy đa dạng tùy theo mức độ tập trung hóa. Oracle tập trung ở mức cao lệ thuộc vào các nguồn dữ liệu đơn lẻ hoặc có một cá nhân/ thực thể riêng chịu trách nhiệm truyền tải thông tin vào nền tảng kỹ thuật số. Tuy nhiên, sự lệ thuộc vào nguồn dữ liệu đơn lẻ kiểu này tạo thêm dư địa để thao túng khi nguồn dữ liệu thiếu tin cậy.
Hành vi thao túng này đặt ra thách thức đáng kể đối với lợi ích tiềm tàng của kỹ thuật mã hóa. Mã hóa kỹ thuật số và việc sử dụng các hợp đồng thông minh có tiềm năng giảm thiểu các vấn đề phiền phức trong giao dịch tài chính bằng cách thực hiện các thanh toán ngẫu nhiên, có thể giảm nhẹ lo lắng của các chủ nợ về hành vi của bên vay nợ. Tuy nhiên, nếu dữ liệu sử dụng trực tiếp trong các giao dịch ngẫu nhiên không đáng tin cậy do các hành vi thao túng oracle, thì các vấn đề tài chính gốc rễ vẫn đeo bám và tiềm ẩn rủi ro.
DeFi đối lập với TradFi
Rủi ro liên quan đến oracle trong DeFi có thể trầm trọng hơn so với rủi ro trong tài chính truyền thống (TraFi). (i) Tính ẩn danh của các tác nhân trong việc sắp đặt DeFi có thể khuyến khích các hành vi độc hại; (ii) Thiếu sót trong điều chỉnh hoặc giám sát các nhà cung cấp oracle dẫn đến tình trạng quản lý không rõ ràng trong DeFi; (iii) Không thể thay đổi điều kiện của các hợp đồng thông minh và dữ liệu đầu vào trong blockchain, gây tốn kém trong việc đính chính (sửa lỗi) hay xử lý các hành vi bất hợp pháp.
Giải pháp tăng cường quản lý và giám sát vấp phải các đặc tính phi tập trung của DeFi tiền ảo. Nhìn chung, sự hỗ trợ về mặt pháp lý vẫn chưa rõ ràng, khi một hợp đồng thông minh nào đó bị kích hoạt bởi thông tin giả, nhất là tại những quốc gia không cấm hay quản lý các hoạt động kinh doanh tiền ảo.
Vấn đề nổi lên là, liệu có công nghệ khả thi nào để thiết kế các oracle phi tập trung hoàn toàn, như thế thì mới có thể loại trừ được những vấn đề khi giới thiệu các oracle tập trung bên ngoài. Tuy nhiên, việc triển khai oracle hoàn toàn phi tập trung (có thể kết nối với thông tin trong thế giới thực) bộc lộ những thách thức nghiêm trọng. Một số ý kiến cho rằng, việc phi tập trung hóa kiểu này không chỉ là khó khăn trong thực tế, mà hoàn toàn không có lô gích, do nó đối mặt với thách thức trong việc đảm bảo báo cáo trung thực trong bối cảnh thiếu vắng năng lực riêng rẽ. Thậm chí, nếu việc phi tập trung hóa các oracle được cho là có lô gích, thì chi phí cho các nỗ lực giảm bớt yêu cầu về báo cáo thông tin của thế giới thực trong cơ chế đồng thuận sẽ rất cao, tác động đến các nguồn tài chính, hiệu quả hoạt động và bảo vệ khách hàng.
Vai trò của niềm tin và quản trị
Vấn đề nan giải của oracle nhấn mạnh hai thiếu sót cơ bản của việc phi tập trung hóa: thiếu sót về hoạt động, và thiếu sót liên quan đến niềm tin và quản trị. Trong lĩnh vực hoạt động, việc xử lý những vấn đề liên quan đến oracle thông qua phi tập trung hóa đầy đủ đòi hỏi phải có cơ chế đủ mạnh để thẩm tra và xác thực dữ liệu thu được từ các oracle, triển khai các hệ thống có tên tuổi đối với các oracle, sử dụng oracle các loại để cắt giảm và xác minh chéo, và khám phá các cách tiếp cận mới nhằm nâng cao độ tin cậy của các dữ liệu trong thế giới thực đưa vào các hệ thống blockchain.
Các giải pháp xử lý vấn đề oracle có mức độ phi tập trung hóa cao thường là sự đánh đổi giữa hiệu quả giao dịch và khả năng mở rộng khi so sánh với các phương án tập trung hóa cao hơn. Thí dụ, các mạng lưới oracle phi tập trung phân bổ chức năng của oracle giữa nhiều nút độc lập, giảm bớt sự cần thiết về bên ủy thác riêng lẻ. Tuy nhiên, cách tiếp cận này tăng thêm các lớp phức tạp đối với các cơ chế đồng thuận hiện hành, làm giảm hiệu quả giao dịch. Đây là thách thức không mới trong việc cân bằng giữa hiệu quả và sự mở rộng các oracle, các giao thức mạng lớp 2 (L2 - giao thức mở rộng block chain L1 ban đầu), như các kỹ thuật để sử dụng các giao dịch ngoài chuỗi trên blockchain (state channels) và các sidechain (các blockchain riêng biệt, hoạt động riêng lẻ nhưng không độc lập vì được gắn và chạy song song với chuỗi chính để thêm chức năng), đã được giới thiệu nhằm nâng cao tốc độ tính toán ngoài chuỗi và xử lý dữ liệu. Bằng cách di chuyển một số hoạt động khỏi blckchain sơ cấp, giải pháp L2 này ngả theo hướng tập trung hóa nhằm đạt hiệu quả cao hơn, nhấn mạnh sự đánh đổi cố hữu giữa phi tập trung hóa và hiệu quả hệ thống.
Tuy nhiên, giải pháp công nghệ này vẫn chưa khắc phục hoàn toàn những thiếu sót của việc phi tập trung hóa liên quan đến uy tín của thể chế và quản trị. Để làm rõ khái niệm này, cần phân biệt giữa hai loại niềm tin: niềm tin vào năng lực và niềm tin vào ý định. Niềm tin vào năng lực liên quan đến năng lực của con người trong việc thực hiện một lĩnh vực chuyên môn cụ thể, trong khi niềm tin vào ý định liên quan đến tính công bằng và đạo đức của các cá nhân hay định chế. Một cấu trúc quản trị hoạt động hiệu quả đòi hỏi cả niềm tin vào năng lực và niềm tin vào ý định.
Về mặt công nghệ, các giao thức mạng phi tập trung đồng thuận và cấu trúc quản trị tại DeFi lõi có thể đảm bảo niềm tin vào năng lực, mặc dù có một số hạn chế. Trong DeFi, các giao thức đồng thuận này xác định giao dịch và việc phê duyệt các giao dịch. Việc xác định giao dịch này được quản trị bởi một bộ quy tắc do cấu trúc quản trị tạo ra. Cấu trúc này trao quyền bầu chọn cho người nắm giữ các tài sản mã hóa, được phân phối thông qua các cơ chế khác nhau, bao gồm sự đóng góp vào giao thức mạng hay cổ đông. Mặc dù có các cấp độ phi tập trung hóa khác nhau và tác động của nó đến quy trình quản trị, nhưng mục tiêu của các giao thức đồng thuận là đảm bảo các quy định được áp dụng công bằng giữa các bên xác định giao dịch. Các bên xác định giao dịch triển khai nghiệp vụ do cấu trúc quản trị xác định, vì thế niềm tin vào năng lực vẫn tồn tại.
Mặt khác, niềm tin vào ý định bao gồm khái niệm rộng lớn mà các giao thức đồng thuận không thể thâu tóm được một cách đầy đủ, vì chỉ khiến cấu trúc quản trị phức tạp thêm. Thí dụ, việc ra quyết định dựa trên DeFi đồng thuận có thể dẫn đến các giao dịch không thể hủy ngang, thậm chí cả trường hợp thao túng. Quy định không thể hủy ngang này do một số bên nắm giữ tokens đề ra, hơn là toàn xã hội.
DeFi có thể tiến triển nhằm bao hàm các quy định quản trị mở rộng và xác định tốt các hợp đồng thông minh, nhưng do không nắm được đặc điểm của tất cả các quốc gia trên thế giới, nên không khả thi khi dự báo và mã hóa (chuyển đổi dữ liệu từ dạng này sang dạng khác để đáp ứng nhu cầu cần thiết khi sử dụng thông tin) tất cả các quy định ràng buộc trong mã máy tính. Thậm chí nếu tham vọng này được hoàn tất, sự thiếu minh bạch trong DeFi có thể dẫn đến kết quả không cần thiết đối với xã hội, gây bất ổn tài chính, khó quản lý và xói mòn niềm tin vào hệ thống quản trị phi tập trung.
Có thể nói, các hợp đồng thông minh dựa trên DeFi lệ thuộc vào chất lượng của các báo cáo về các sự kiện trong thế giới thực, và khó khăn của oracle đặt ra thách thức trong việc kết hợp thông tin đáng tin cậy trong thế giới thực với các ứng dụng Defi, trong khi vẫn duy trì các nguyên tắc phi tập trung cốt lõi: không cần sự tin tưởng lẫn nhau và không có dấu hiệu thất bại. Việc đạt được những nguyên tắc cốt lõi này có hai gợi ý cơ bản. Thứ nhất, nó không hiệu quả do cơ chế phi tập trung đồng thuận; Thứ hai, nó nhấn mạnh một hạn chế của DeFi là phải hy sinh niềm tin vào ý định (đạo đức và sự công bằng của cá nhân hay tổ chức), vốn không thể thâu tóm đầy đủ bởi các giao thức đồng thuận. Nó hạn chế quy mô mở rộng DeFi trong cộng đồng, vốn đang sẵn sàng chỉ lệ thuộc vào niềm tin vào năng lực.
Tại Việt Nam, các dự án DeFi vẫn đang phát triển ở giai đoạn đầu, chưa tập trung nhiều vào việc tìm kiếm doanh thu, lợi nhuận. Tuy nhiên, DeFi cũng là mảng có doanh thu hấp dẫn khi chiếm 38% tổng doanh thu toàn thị trường trong 8 tháng đầu năm 2022, chủ yếu đến từ phí giao dịch. Mảng DeFi chiếm 26% thị trường crypto Việt Nam với các dự án DeFi nổi bật, bao gồm Coin98 Finance, Kyber Network, Rikkei Finance…
DeFi được kỳ vọng là sẽ phát triển nhanh chóng, là quốc gia đứng đầu thế giới về việc chấp nhận tiền điện tử trong hai năm liên tiếp 2021-2022. Ngoài ra, Việt Nam có tỷ lệ người nắm giữ tiền điện tử lớn thứ hai trong ASEAN sau Thái Lan và nằm trong top 5 quốc gia dẫn đầu thế giới về blockchain. Từ tháng 7/2021 đến tháng 6/2022, giá trị các khoản giao dịch tài sản số tại Việt Nam lên tới 112,6 tỷ USD, cao hơn Singapore (101 tỷ USD). Tính đến tháng 12/2022, Việt Nam có hơn 200 dự án blockchain hoạt động, trải dài trên nhiều lĩnh vực khác nhau và phát triển chủ yếu ở mảng GameFi, DeFi và NFT.
Trong top 200 doanh nghiệp crypto hàng đầu thế giới, có 7 doanh nghiệp do người Việt Nam sáng lập. Có trên 10 doanh nghiệp có vốn hóa trên 100 triệu USD với mức ảnh hưởng trên toàn cầu. Nổi bật, có 3 dự án của người Việt Nam từng đạt mức vốn hóa trên 1 tỷ USD là Coin98, Axie Infinity và Kyber Network. Trong đó, Axie Infinity là dự án từng đạt mức vốn hóa lớn nhất với 9,7 tỷ USD.
Trong 2022 năm, các dự án crypto Việt Nam kêu gọi thành công hơn 170,37 triệu USD, hầu hết các dự án đều gọi vốn ở vòng hạt giống (Seed round). Dù vậy, doanh thu do một số dự án crypto Việt Nam tạo ra rất cao so với số vốn gọi được. Nổi bật có dự án Sky Mavis kêu gọi thành công tổng cộng 311 triệu USD qua 4 vòng, nâng mức định giá lên 3 tỷ USD. Đổi lại, dự án Axie Infinity giúp Sky Mavis kiếm được 4 tỷ USD doanh thu từ việc bán các NFT. Kyber Network cũng là dự án kêu gọi thành công 60,4 triệu USD qua 4 vòng và đạt mức lợi nhuận khoảng 12 triệu USD mỗi năm.
Các doanh nghiệp ở Việt Nam cũng không bỏ lỡ cuộc đua công nghệ này khi có trên 10 doanh nghiệp thử nghiệm, ứng dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh. Trong đó, tài chính ngân hàng là lĩnh vực được áp dụng công nghệ blockchain nhiều nhất, bên cạnh các hoạt động quản lý điểm thưởng, thông tin cá nhân.
Theo báo cáo của MarketsandMarkets, thị trường liên quan đến blockchain tại Việt Nam dự kiến đạt giá trị gần 2,5 tỷ USD vào năm 2026, tăng gấp 5 lần quy mô so với năm 2021.
Với sự hiện diện kịp thời tại Việt Nam, từ liên minh thương mại với FPT (bắt đầu từ tháng 01/1997) đến đại lý chính thức (năm 2007), Tập đoàn Oracle đã xây dựng các công cụ để phát triển cơ sở dữ liệu và hệ thống phần mềm phát triển nguồn nhân lực doanh nghiệp (ERP), phần mềm quản lý nguồn nhân lực (HCM), quản lý quan hệ khách hàng (CRM), quản lý chuỗi cung ứng (SCM), phần mềm kế toán (ACC), v.v. Nhiều công ty đã triển khai oracle. Bao gồm: FPT, CMC, HPT, Kết nối corp, Công ty TNHH Accenture Việt Nam, KPMG Tax and Advisory Ltd. Với sự tham gia và hợp tác tích cực giữa Tập đoàn Oracle với các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam, những vấn đề liên quan đến oracle sẽ được xử lý hiệu quả, là yếu tố quan trọng để thúc đẩy DeFi tại Việt Nam.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn tham khảo: BIS; Eurofi Regulation update, tháng 02/2022.