Ngày 26/3/2025, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) thuộc Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố báo cáo điều tra tình hình thực hiện Basel III tính đến cuối tháng 06/2024.
Để đánh giá tác động của khung khổ Basel III đến các ngân hàng, BCBS đã theo dõi các hiệu ứng và động lực cải cách. Để đạt mục tiêu này, khung khổ giám sát định kỳ sáu tháng một lần đã được thiết lập. Bao gồm: Tỷ trọng vốn dựa trên rủi ro, tỷ lệ đòn bẩy, thước đo thanh khoản - dữ liệu do các cơ quan giám sát quốc gia cung cấp theo quy định tại mỗi quốc gia. Kể từ cuối năm 2017, báo cáo đã thâu tóm tác động của việc hoàn tất cải cách Basel III.
Báo cáo này tóm tắt kết quả tổng thể dựa trên dữ liệu tính đến ngày 30/6/2024 do 176 ngân hàng cung cấp, bao gồm 115 ngân hàng quốc tế hàng đầu (G1- ngân hàng nhóm 1), trong đó có 29 ngân hàng chiến lược toàn cầu (G-SIBs); và 61 ngân hàng nhóm 2 (G2).
Tỷ trọng vốn dựa trên rủi ro tăng trong khi LR và NSFR vẫn ổn định tại G1
• So với giai đoạn báo cáo cuối tháng 12/2023, tỷ trọng vốn cổ phần cấp 1 (CET1) tại các ngân hàng nhóm 1 tăng trung bình từ 13,1% lên 13,4% trong sáu tháng đầu năm 2024. Tác động của khung khổ Basel III đến vốn cấp 1 tối thiểu theo yêu cầu (MRC) tại các ngân hàng nhóm 1 tăng 1,9% so với cuối năm 2023. Trong đó, các ngân hàng G-SIBs ghi nhận mức tăng trung bình 1,5%.
• Đối chiếu với quy định năm 2022 về năng lực hấp thụ lỗ tổng thể (TLAC) tối thiểu và khung khổ Basel III hiện hành, 2/18 G-SIBs báo cáo tổng mức thiếu hụt lũy kế 19,6 tỷ EUR. Tại các ngân hàng nhóm 1, tỷ lệ đòn bẩy an toàn (LCR) giảm nhẹ xuống mức trung bình 136,0% so với báo cáo trước đó, trong khi tỷ lệ quỹ bình ổn ròng (NSFR) tăng từ 122,6% lên 123,6%.
Kết quả tổng quan (tập dữ liệu chưa cân đối)
|
31/12/2023 |
30/06/2024 |
||||
|
G1 |
G-SIBs |
G2 |
G1 |
G-SIBs |
G2 |
Khung khổ Basel 3 hiện hành |
||||||
Tỷ trọng CET1 (%) |
13,1 |
12,8 |
18,2 |
13,4 |
13,2 |
18,9 |
Thiếu hụt vốn mục tiêu (1) |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Thiếu hụt TLAC tối thiểu 2022(2) |
24,8 |
24,8 |
|
19,4 |
19,4 |
|
Tổng tài sản kế toán (tỷ EUR) |
86.121 |
59.456 |
4.106 |
82.626 |
61.751 |
2.751 |
Tỷ lệ đòn bẩy (%) |
6,1 |
6,1 |
6,6 |
6,1 |
6,0 |
6,7 |
Tỷ lệ đòn bẩy an toàn (%) |
138,2 |
135,0 |
201,5 |
136,0 |
133,6 |
194,0 |
NSFR (%) |
122,6 |
122,8 |
133,9 |
123,6 |
123,8 |
138,1 |
Khung khổ Basel 3 cuối cùng đầy đủ (2028) |
||||||
Thay đổi MRC cấp 1 (2) |
1,3 |
0,0 |
8,0 |
1,9 |
1,5 |
5,2 |
Tỷ trọng CET1 (%) |
13,5 |
13,4 |
16,6 |
13,1 |
12,9 |
17,6 |
Thiếu hụt vốn mục tiêu (tỷ EUR) |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,9 |
0,9 |
0,0 |
CET1 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Vốn cấp 1 bổ sung |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Vốn cấp 2 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,9 |
0,9 |
0,0 |
Thiếu hụt TLAC tối thiểu 2022(1) |
31,1 |
31,1 |
|
19,6 |
19,6 |
|
Tỷ lệ đòn bẩy (%) |
6,1 |
6,0 |
6,6 |
6,1 |
6,0 |
6,8 |
Nguồn: BIS tháng 03/2025
(1): Tỷ EUR, sử dụng định nghĩa năm 2017 về rủi ro tỷ lệ đòn bẩy;
(2): Tỷ EUR.
Tỷ trọng vốn theo quy định Basel III tăng đáng kể
• Tại các ngân hàng nhóm 1, tỷ trọng vốn theo quy định Basel III ghi nhận mức tăng đáng kể trong 6 tháng đầu năm 2024, nguyên nhân là do vốn cấp 1 tăng cao hơn so với tài sản rủi ro gia quyền (RWA). Trong tháng 6/2024, tỷ lệ CET1 tổng thể tại các ngân hàng nhóm 1 đứng ở mức 13,4%.
• Gần đây, tỷ lệ vốn cấp 1 tại các ngân hàng châu Âu cao hơn so với tại Mỹ và phần còn lại trên thế giới. Tuy nhiên, mối quan hệ này đã đảo chiều từ năm 2011 đến năm 2014, phần còn lại trên thế giới cũng là yếu tố chủ yếu dẫn dắt kết quả tăng trong 6 tháng đầu năm 2024.
Tác động của Basel III cuối cùng đến G1 cao hơn so với báo cáo trước
• Đối chiếu với tiêu chuẩn Basel III cuối cùng, MRC cấp 1 tại các ngân hàng G1 tăng 1,9%, chủ yếu nhờ tác động tăng thêm 3,1% của các yêu cầu dựa trên rủi ro, được bù đắp bởi phần giảm trừ các yêu cầu về tỷ lệ đòn bẩy (1,2%). Sự gia tăng các cấu thành dựa trên rủi ro bắt nguồn chủ yếu từ sàn thu nhập (+1,5%), rủi ro thị trường (+0,9%), và rủi ro tín dụng (+0,7%).
• Tác động trung bình của chuẩn mực Basel 3 cuối cùng đối với MRC tại các ngân hàng G1 ở mức 1,9%, cao hơn so với cuối tháng 12/2023 (1,3%).
• Tác động của chuẩn mực Basel 3 cuối cùng đối với MRC tại các ngân hàng G1 có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực, tăng nhẹ tại các ngân hàng Mỹ (0,2%), tăng cao tại phần còn lại trên thế giới (1,7%) và tăng rất cao tại châu Âu (4,0%).
• Đối với các ngân hàng nhóm 2, mức tăng tổng thể 5,2% về MRC cấp 1 được dẫn dắt bởi các thước đo dựa trên rủi ro (9,5%), chủ yếu bắt nguồn từ rủi ro tín dụng (+4,9%), sàn thu nhập (+4,3%), một phần được bù đắp bởi mức giảm trừ tỷ lệ đòn bẩy MRC (-4,3%).
Tỷ lệ đòn bẩy tại G1 tương đối ổn định trong sáu tháng đầu năm 2024
• Đối chiếu với quy định Basel III đầy đủ, tỷ lệ đòn bẩy tại các ngân hàng nhóm 1 vẫn tương đối ổn định so với giai đoạn báo cáo trước, tương phản với mức sụt giảm khá sâu bắt đầu vào cuối năm 2021, chủ yếu tại Mỹ.
• Tỷ lệ đòn bẩy trung bình 5,0% tại các ngân hàng G1 châu Âu vẫn thấp hơn tại Mỹ (5,8%), và phần còn lại trên thế giới (6,9%).
• Đến cuối tháng 6/2024, tỷ lệ vốn cấp 1 trung bình theo quy định Basel III đầy đủ tại các ngân hàng G1, G-SIBs và G2 lần lượt là 6,1%; 6,0%; và 6,8%.
• Đến cuối tháng 6/2024, một G-SIB báo cáo thiếu hụt vốn điều lệ 0,9 tỷ EUR.
Tỷ trọng vốn và lãi cổ phần tăng tại các ngân hàng nhóm 1
• Từ cuối tháng 6/2011 đến cuối tháng 6/2024, vốn CET1 tại các ngân hàng nhóm 1 tăng 143% từ 1.626 tỷ EUR lên 3.957 tỷ EUR, riêng trong 6 tháng đầu năm 2024 tăng 99 tỷ EUR (3,0%).
• Trong 6 tháng đầu năm 2024, vốn CET1 tăng tại tất cả các khu vực, riêng các ngân hàng tại phần còn lại trên thế giới ghi nhận xu hướng tăng rõ rệt.
• Về tổng thể, lãi sau thuế của các ngân hàng nhóm 1 tăng lên 245,4 tỷ EUR trong sáu tháng đầu năm 2024, nhưng vẫn thấp hơn đỉnh điểm ghi nhận trong cùng kỳ năm trước. Thanh toán tiền lãi cổ phần chiếm tỷ lệ 35,4%, cao hơn 187 điểm cơ bản (1,87%) so với cùng kỳ năm trước.
Thanh toán lãi cổ phần khác nhau giữa các khu vực
• So với cùng kỳ năm trước, lợi nhuận sau thuế năm 2023 của các ngân hàng G1 tăng nhẹ tại châu Âu (+2,4%), đi ngang tại Mỹ và giảm 12,3% tại phần còn lại trên thế giới. Đà tăng của các ngân hàng tại châu Âu trong sáu tháng đầu năm 2023 chủ yếu bắt nguồn từ kết quả sáp nhập 2 ngân hàng lớn diễn ra vào đầu năm 2023.
• So với báo cáo trước đó, tỷ lệ thanh toán lãi cổ phần hàng năm tăng tại châu Âu và Mỹ, giảm tại phần còn lại trên thế giới. Tỷ lệ này thấp đáng kể so với kỷ lục ghi nhận trong năm 2019 và 2020 tại Mỹ, tương đương với tỷ lệ trước đại địch (tại châu Âu và phần còn lại trên thế giới).
Tỷ trọng rủi ro tín dụng MRC ổn định
• Kể từ tháng 6/2024, rủi ro tín dụng phi chứng khoán tiếp tục chi phối và chiếm 73,2% trong tổng MRC của các ngân hàng nhóm 1. Trong nhóm tài sản rủi ro tín dụng phi chứng khoán, tỷ trọng rủi ro MRC đối với các doanh nghiệp tăng từ 31,0% vào cuối tháng 6/2011 lên 34,0%.
• Tỷ trọng rủi ro hoạt động trong MRC tăng nhanh, từ 8,5% vào cuối tháng 6/2011 lên 17,3% vào cuối năm 2018, sau đó giảm dần xuống 15,0% trong kỳ báo cáo này. Xu hướng gia tăng rủi ro trong những năm đầu thập niên 2010 chủ yếu bắt nguồn từ sự bùng phát rủi ro hoạt động trong và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, đó là những khoản phải thu khi tính toán rủi ro hoạt động đối với MRC theo cách tiếp cận tiên tiến. Trái lại, thiệt hại bắt nguồn từ đại dịch chưa gây tác động nghiêm trọng, nhưng có thể sẽ gây hậu quả rõ rệt trong tương lai.
• Từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2024, tỷ trọng rủi ro MRC đối với cho vay chứng khoán giảm từ 7,4% xuống 2,7%.
NSFR vượt ngưỡng 100% nhưng ba ngân hàng báo cáo LCR dưới 100%
• Đến cuối tháng 6/2024, LCR bình quân gia quyền đạt 136,0% tại các ngân hàng nhóm 1 và 194,0% tại các ngân hàng nhóm 2. Tại kỳ báo cáo này, ba ngân hàng G1 báo cáo LCR dưới 100%, và vì thế thiếu hụt chung 18,0 tỷ EUR.
• Đến cuối tháng 6/2024, NSFR bình quân gia quyền đạt 123,6% tại các ngân hàng G1 và 138,1% tại các ngân hàng G2, các ngân hàng đều báo cáo NSFR vượt 100%.
LCRs giảm nhẹ và NSFR ổn định tại các ngân hàng nhóm 1
• Đến cuối tháng 6/2014, chỉ hai ngân hàng nhóm 1 báo cáo chưa đáp ứng 100% LCR, dẫn đến thiếu hụt tổng thể 16,0 tỷ EUR, tăng 4,4 tỷ EUR so với mức thiếu hụt trong kỳ báo cáo trước. LCR trung bình trong mẫu điều tra giảm từ 136,5% trong kỳ báo cáo trước xuống 135,1% vào cuối tháng 6/2014.
• Các ngân hàng G1 tiếp tục báo cáo có đủ NSFR tổng thể, mặc dù NSFR trung bình giảm nhẹ từ 123,2% xuống 123,0% vào cuối tháng 6/2014.
• Trong kỳ báo cáo này, cả LCR và NSFR đều cao hơn mức trước đại dịch.
LCR và NSFR tăng tại các ngân hàng nhóm 2
• Các ngân hàng G2 đều báo cáo đã đáp ứng đầy đủ LCR theo yêu cầu và không thiếu hụt LCR kể từ tháng 6/2017. LCR trung bình tại các ngân hàng trong mẫu điều tra tăng 2,1% lên 194,0% trong tháng 6/2024, chủ yếu là do dòng vốn ra ròng giảm đáng kể so với kỳ báo cáo trước.
• Trong bảng cân đối kế toán của các ngân hàng G2, thiếu hụt NSFR tổng thể tiếp tục đứng ở mức không. NSFR trung bình tại các ngân hàng trong mẫu điều tra tăng nhẹ 1,6% lên 133,3% vào tháng 6/2024.
Đối với G1, NSFRs tương đối ổn định, riêng LCRs giảm tại châu Âu
• Từ năm 2020, LCRs bình quân gia quyền của hầu hết các ngân hàng G1 tại châu Âu và phần còn lại trên thế giới đều vượt tỷ lệ 140%, cao hơn LCR trung bình 120% tại Mỹ. Ban đầu, LCRs trung bình của các ngân hàng Mỹ và châu Âu thấp hơn so với phần còn lại trên thế giới, nhưng LCRs tại châu Âu và phần còn lại trên thế giới có xu hướng đồng quy trước khi xảy ra đại dịch.
• Cuối tháng 6/2024, NSFR bình quân gia quyền của các ngân hàng nhóm 1 tại tất cả ba khu vực đều vượt tỷ lệ 100%. Trong đó, NSFR trung bình tại châu Âu giảm từ tỷ lệ 120,5% vào cuối tháng 12/2023 xuống tỷ lệ 119,3% vào cuối tháng 6/2024. Sau khi giảm đáng kể trong sáu tháng đầu năm 2022, NSFR của các ngân hàng tại Mỹ tiếp tục giảm sâu, xuống tỷ lệ 120,7% vào cuối tháng 6/2024.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: BIS tháng 3/2025