Ngày 08/12 /2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 24/2015/TT-NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú (Thông tư 24/2015/TT-NHNN). Thông tư 24/2015/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 và thay thế Thông tư 43/2014/TT-NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú (Thông tư 43). Với việc ban hành Thông tư 24/2015/TT-NHNN, cơ chế cho vay ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng sẽ tiếp tục được thực hiện trong năm 2016. Bài viết dưới đây xin được giới thiệu những thay đổi cơ bản của cơ chế cho vay ngoại tệ năm 2016 vừa được ban hành.
1. Về đối tượng vay và cho vay bằng ngoại tệ
Kế thừa quy định tại Thông tư 43, Thông tư 24/2015/TT-NHNN quy định các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây gọi tắt là TCTD) được phép hoạt động ngoại hối được cho vay bằng ngoại tệ đối với khách hàng vay là người cư trú1.
2. Về nhu cầu được vay vốn bằng ngoại tệ
2.1. Về trường hợp cho vay không cần chấp thuận của NHNN
So với quy định tại Thông tư 43, nhu cầu được vay vốn bằng ngoại tệ không cần chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước theo Thông tư 24/2015/TT-NHNN đã có một số thay đổi, cụ thể:
Thứ nhất, cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khi khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay;
Thứ hai, cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu được Bộ Công thương giao hạn mức nhập khẩu xăng dầu để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu xăng dầu khi khách hàng vay không có hoặc không có đủ nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay. Thông tư 24/2015/TT-NHNN không giới hạn thời hạn thực hiện việc cho vay này như quy định tại Thông tư 43. Như vậy, việc cho vay bằng ngoại tệ đối với nhu cầu này của các TCTD được thực hiện thường xuyên.
Thứ ba, cho vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu vốn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay. Đối với trường hợp này, Thông tư 24/2015/TT-NHNN yêu cầu khi được TCTD giải ngân vốn cho vay, khách hàng vay phải bán số ngoại tệ vay đó cho TCTD cho vay theo hình thức giao dịch hối đoái giao ngay (spot), trừ trường hợp nhu cầu vay vốn của khách hàng để thực hiện giao dịch thanh toán mà pháp luật quy định đồng tiền giao dịch phải bằng ngoại tệ. Đồng thời, Thông tư 24/2015/TT-NHNN quy định việc cho vay bằng ngoại tệ đối với các nhu cầu được thực hiện đến hết ngày 31/3 /2016. Như vậy, việc cho vay bằng ngoại tệ đối với nhu cầu vay chỉ được gia hạn thêm 03 tháng so với thời hạn tại Thông tư 43/2014/TT-NHNN ;
Thứ tư, cho vay để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các dự án, công trình quan trọng quốc gia được Quốc hội, Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư và đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài.
2.2. Về trường hợp cho vay ngoại tệ phải có chấp thuận của NHNN
Kế thừa quy định tại Thông tư 43/2014/TT-NHNN, Thông tư 24/2015/TT-NHNN quy định trường hợp cho vay bằng ngoại tệ phải có chấp thuận trước bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước là trường hợp cho vay bằng ngoại tệ đối với các nhu cầu vốn thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh theo quy định tại các Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị và các văn bản khác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
3. Về hồ sơ, trình tự, thủ tục xem xét chấp thuận cho vay bằng ngoại tệ đối với nhu cầu thuộc lĩnh vực ưu tiên
Kế thừa quy định tại Thông tư 43/2014/TT-NHNN, các quy định tại Thông tư 24/2015/TT-NHNN quy định cụ thể về hồ sơ xin chấp thuận, trình tự, thời hạn, đơn vị đầu mối xem xét chấp thuận cho vay bằng ngoại tệ2 đối với nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ thuộc lĩnh vực ưu tiên.
4. Về xử lý trường hợp không có ngoại tệ trả nợ
Kế thừa quy định tại Thông tư 43/2014/TT-NHNN và khắc phục bất cập về cách hiểu quy định về xử lý trường hợp không có ngoại tệ trả nợ, Thông tư 24/2015/TT-NHNN đã quy định về xử lý trường hợp không có ngoại tệ trả nợ, đồng tiền trả nợ như sau:
Thứ nhất, đối với khoản vay bằng ngoại tệ để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ hoặc để đáp ứng các nhu cầu vốn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới hoặc để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài3 hoặc khoản vay cho nhu cầu thuộc lĩnh vực ưu tiên4 mà khách hàng vay có đủ nguồn thu bằng ngoại tệ để trả nợ vay, thì khách hàng vay bằng ngoại tệ nào thì phải trả nợ gốc và lãi vốn vay bằng ngoại tệ đó; trường hợp có thỏa thuận trả nợ bằng ngoại tệ khác giữa TCTD và khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật liên quan.
Về xử lý khi không có nguồn ngoại tệ để trả nợ, Thông tư 24/2015/TT-NHNN quy định trường hợp khi đến hạn trả nợ vay bằng ngoại tệ, do nguyên nhân khách quan dẫn đến nguồn ngoại tệ từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng vay bị chậm thanh toán, khách hàng vay chưa có đủ ngoại tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nguồn thu ngoại tệ hợp pháp khác để trả nợ vay và được TCTD thẩm định, xác nhận bằng văn bản, thì TCTD cho vay đảm bảo cân đối được nguồn vốn bằng ngoại tệ hợp pháp để bán cho khách hàng để trả nợ vay và khách hàng vay cam kết khi nhận được ngoại tệ từ hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ bán số ngoại tệ đó cho TCTD.
Thứ hai, đối với khoản vay ngắn hạn bằng ngoại tệ đối với doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu hoặc khoản vay cho nhu cầu thuộc lĩnh vực ưu tiên5 mà khách hàng vay không có hoặc không đủ nguồn thu ngoại tệ hợp pháp để trả nợ vay, thì TCTD cho vay đảm bảo cân đối được nguồn vốn bằng ngoại tệ hợp pháp để bán cho khách hàng để trả nợ gốc và lãi vốn vay.
Đồng thời, để tránh rủi ro thanh khoản về ngoại tệ, Thông tư 24/2015/TT-NHNN yêu cầu TCTD đảm bảo cân đối được nguồn vốn bằng ngoại tệ hợp pháp để bán cho khách hàng để trả nợ gốc và lãi vốn vay trong trường hợp khách hàng vay không có hoặc không đủ nguồn thu ngoại tệ hợp pháp để trả nợ vay.
Như vậy, Thông tư 24/2015/TT-NHNN đã quy định rõ rách nhiệm bán ngoại tệ cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không có ngoại tệ để trả nợ là trách nhiệm của TCTD cho vay.
5, Về áp dụng pháp luật cho vay
Thông tư 24/2015/TT-NHNN quy định việc cho vay bằng ngoại tệ của TCTD đối với khách hàng vay được thực hiện theo quy định tại Thông tư 24/2015/TT-NHNN, quy định về cho vay6, quản lý ngoại hối7, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quy định của pháp luật có liên quan. Trong trường hợp có quy định khác nhau giữa Thông tư 24/2015/TT-NHNN và các văn bản khác của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc cho vay bằng ngoại tệ, thì quy định tại Thông tư 24/2015/TT-NHNN được ưu tiên áp dụng.
6. Về xử lý chuyển tiếp đối với các hợp đồng ký trước ngày 01/01/2016
Thông tư 24/2015/TT-NHNN quy định rõ nguyên tắc xử lý đối với các hợp đồng cho vay ngoại tệ ký trước ngày Thông tư 24/2015/TT-NHNN có hiệu lực (01/01/2016) như sau: (i) Đối với khoản vay áp dụng phương thức cho vay từng lần, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn theo hợp đồng tín dụng đã được ký kết trước ngày 01/01/2016, thì các bên tiếp tục thực hiện các nội dung trong hợp đồng tín dụng đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng hoặc được quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã ký kết phù hợp với quy định tại Thông tư 24/2015/TT-NHNN; (ii) Đối với khoản vay áp dụng phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng theo hợp đồng đã ký kết trước ngày 01/01/2016 được giải ngân kể từ ngày 01/01/2016 trở đi, thì TCTD và khách hàng vay thực hiện theo quy định tại Thông tư 24/2015/TT-NHNN./.
Đoàn Thái Sơn - PC
1 “Người cư trú” được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013)
2 Xem Điều 4 Thông tư 24/2015/TT-NHNN
3 Quy định tại điểm a, c, d khoản 1 Điều 3 Thông tư 24/2015/TT-NHNN
4 Quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư 24/2015/TT-NHNN
5 Quy định tại điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Thông tư 24/2015/TT-NHNN
6 Hiện hành là Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN và các văn bản sửa đổi, bổ sung
7 Hiện hành là Pháp lệnh Ngoại hối, Nghị định 70/2014/NĐ-CP và Thông tư 10/2009/TT-NHNN