* Diễn biến lạm phát trong quý I
Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát tiếp tục là một trong những mục tiêu điều hành quan trọng của Chính phủ trong năm 2014. Ngày 02/1/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014. Theo đó, mục tiêu lạm phát trong năm 2014 là khoảng 7%, tổng sản phẩm trong nước GDP tăng khoảng 5,8%. Trên cơ sở định hướng đề ra, kết thúc quý I, diễn biến kinh tế vĩ mô tiếp tục có những chuyển biến, lạm phát ở mức thấp, giá cả thị trường ổn định, cung cầu hàng hóa được đảm bảo.
Kết thúc tháng 3, chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 0,8% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,39% so với cùng kỳ. Mức tăng CPI của quý I/2014 là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ những năm gần đây (năm 2011 tăng 13,89%, năm 2012 14,15% và năm 2013 là 6,64%).
Trong 3 tháng đầu năm, giá các mặt hàng thiết yếu chiếm quyền số lớn trong rổ hàng hóa như lương thực thực phẩm; thuốc, dịch vụ tế và một số nhóm hàng hóa khác tăng chậm, thậm chí CPI của nhóm nhà ở vật liệu xây dựng còn có xu hướng giảm so với đầu năm.
Diễn biến giá một số nhóm hàng
|
Tỷ trọng đóng góp các nhóm hàng trong quý I/2014
Nguồn: TCTK |
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng CPI
Nguồn: TCTK
Lạm phát thấp trong quý I một phần bắt nguồn từ việc tổng cầu, tổng cung chưa thực sự phục hồi; cũng như sức ép từ phía chi phí đẩy chưa lớn.
Từ phía tổng cầu: Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ tổng cầu cụ thể được các Bộ, ngành chủ động ban hành và triển khai thực hiện từ đầu năm 2014, song cũng chưa có tác động đáng kể làm thay đổi cục diện của tổng cầu, thể hiện ở đầu tư vẫn tiếp tục xu hướng sụt giảm mạnh xét trên tổng lượng vốn đầu tư toàn xã hội và hoạt động tiêu dùng vẫn chưa có nhiều khởi sắc.
Trong những tháng đầu năm 2014, tỷ lệ vốn đầu tư xã hội/GDP không có nhiều cải thiện khi tiếp tục đà suy giảm từ mức xấp xỉ 30% cuối năm 2013 xuống còn 28,4% thời điểm hết quý I. Đây cũng là mức đầu tư rất thấp so với cùng kỳ những năm trước (quý I năm 2013 đạt 29,6%, năm 2012 đạt 36,2%).
Mối quan hệ giữa vốn đầu tư toàn XH/GDP với tốc độ tăng GDP và CPI
Nguồn: Tổng cục thống kê
Ngoài ra, trong quý I, vốn tín dụng đưa ra nền kinh tế cũng có mức tăng trưởng thấp. Sau hai tháng tăng trưởng âm (tháng 1 giảm 0,55%, tháng 2 giảm 0,65%), đến tháng 3, tín dụng đã tăng trưởng trở lại 1,21%, nhờ đó tăng trưởng tín dụng trong quý I đạt khoảng 0,01%.
Tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2012 đến hết quý I 2014
Nguồn: NHNN
Trong lĩnh vực tiêu dùng, chỉ số doanh thu hàng hóa bán lẻ vẫn chưa thực sự khởi sắc khi mức tăng trưởng qua các tháng khá thấp, thậm chí tháng 2 còn rơi vào mức tăng trưởng âm. Tính hết quý I, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính chỉ tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 12,53% quý cuối năm 2013, đồng thời thấp hơn mức tăng 11,33% của quý I năm 2013.
Doanh thu bán lẻ hàng hóa giai đoạn T1/2012 đến T3/2014
Nguồn: TCTK
Xuất khẩu tiếp tục xu hướng suy giảm kể từ năm 2013 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu quý I năm 2014 chỉ đạt 14,6% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng trưởng 19,67% của quý I năm 2013. Trong thời gian qua, xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh chủ yếu là từ khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (thường chiếm trên 60% tổng kim ngạch xuất khẩu), với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực điển hình là điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện; hàng dệt may, giày dép... là các mặt hàng thuộc nhóm hàng xuất khẩu có tỷ trọng gia công cao.
Nhập khẩu quý I/2014 tăng 12,2%, thấp hơn mức tăng 19,1% cùng kỳ năm 2013. Trong đó, đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng nhóm hàng tư liệu dùng cho sản xuất đạt 12,6% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 15,4% của năm 2013. Tương tự, nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng tốc độ tăng trưởng sụt giảm mạnh, chỉ đạt 5% so với cùng kỳ, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng 15,6% của cùng kỳ năm 2013. Điều này phản ánh nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho hoạt động sản xuất lẫn tiêu dùng trong nước vẫn còn ở mức thấp.
Xuất nhập khẩu giai đoạn T1/2012 đến T3/2014
Nguồn: TCTK
Từ phía tổng cung: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong quý I vẫn chưa có sự chuyển biến mạnh mẽ. Cụ thể, kết thúc quý I, tăng trưởng GDP ước đạt 4,96%, không cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng 4,76% của cùng kỳ năm 2013.
Sự chuyển biến chậm này thể hiện trên cả 3 lĩnh vực của nền kinh tế: Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,37%; Công nghiệp xây dựng tăng 4,69%; Dịch vụ tăng 5,95% (quý I/2013, tăng trưởng 3 khu vực này lần lượt đạt 2,24%; 4,61% và 5,65%). Trong đó, khu vực nông nghiệp và công nghiệp chỉ đóng góp 2,2 điểm phần trăm cho tăng trưởng quý I, thấp hơn mức 2,3% của cùng kỳ năm 2013 và mức xấp xỉ 4% trong giai đoạn 2005-2011.
Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011- QI/2014 Tăng trưởng theo đóng góp của các cấu phần tổng cung
Nguồn: TCTK
Tốc độ tăng trưởng chậm lại của khu vực sản xuất còn được thể hiện qua chỉ số IPP, PMI và chỉ số tồn kho. Xu hướng diễn biến chỉ số IPP có nhiều nét tương đồng so với 2 năm trước, IPP thường tăng mạnh trong những tháng đầu năm, song lại có xu hướng giảm và không có sức bật vào những tháng cuối năm.
Tương tự như vậy, chỉ số PMI trong quý I mặc dù liên tục đạt mức trên 50 điểm nhưng vẫn còn cách khá xa mốc tăng trưởng tốt 55 điểm theo tính toán của HSBC. Không những thế, nếu so với thời điểm cuối năm 2013, chỉ số này còn có xu hướng sụt giảm, chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.
Ngoài ra, lượng hàng tồn kho mặc dù đã giảm so cùng kỳ các năm trước (hiện ở mức 113,4 so với mức 116,5 năm 2013 và 134,9 năm 2012) nhưng cũng vẫn còn ở mức cao, cho thấy đầu ra của khu vực doanh nghiệp cũng vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiêu thụ.
Chỉ số sản xuất CN giai đoạn 2012-Quý I/2014 |
Chỉ số tồn kho |
Chỉ số PMI
Nguồn: TCTK, HSBC
Nhóm nhân tố chi phí đẩy
Trong 3 tháng đầu năm, giá hàng hóa thế giới và giá các mặt hàng thiết yếu trong nước nhìn chung ổn định và có xu hướng giảm. Cụ thể, theo thống kê mới nhất của IMF tại Báo cáo hàng hóa thế giới (tháng 3/2014), chỉ số giá hàng hóa trong quý I/2014 không có nhiều biến động so với cuối năm 2013. Chỉ số giá hàng hóa chung thời điểm tháng 2 đạt mức 183,4 tương đương với mức trung bình của cả năm 2013, và thấp hơn mức 187,3 của cùng kỳ năm 2013. Trong đó, hai nhóm hàng quan trọng là LTTP và năng lượng có mức gia tăng nhẹ, từ đó tác động khiến giá LTTP và giá xăng dầu trong nước tăng nhẹ trong quý I.
Đối với các mặt hàng thiết yếu trong nước, ngay từ đầu năm, Bộ Tài chính đã tổ chức các đoàn công tác liên ngành kiểm tra tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địa phương. Đáng chú ý, để giữ ổn định chỉ số giá trong 3 tháng đầu năm, Nhà nước tiếp tục tiến hành trợ giá đối với giá điện, giá than bán cho sản xuất điện, giá nước sạch, giá cước xe buýt… Đối với các mặt hàng khác, Chính phủ cũng chỉ đạo các Bộ, ngành thực hiện kiểm soát chặt chẽ yếu tố hình thành giá thông qua việc kiểm soát chặt chẽ phương án giá, đăng ký giá, kê khai giá của doanh nghiệp; kiên quyết dừng các trường hợp tăng giá bất hợp lý so với biến động tăng của các yếu tố đầu vào. Nhờ đó giá các mặt hàng thiết yếu trong nước cơ bản giữ được ổn định trong quý I.
Mối quan hệ giữa giá xăng dầu thế giới và giá xăng trong nước Nguồn: IMF, BTC |
Mối quan hệ giữa giá LTTP thế giới và giá LTTP trong nước (%mom) Nguồn: IMF, TCTK |
Nhận định xu hướng lạm phát
1. Xu hướng lạm phát năm 2014
Trước diễn biến thuận lợi của lạm phát và diễn biến các nhân tố ảnh hưởng tới xu hướng của lạm phát trong Quý I/2014 như đã phân tích ở trên, phần lớn các dự báo đã đưa ra những nhận định lạc quan hơn về diễn biến của lạm phát năm 2014:
+ Kết quả thăm dò công chúng về kỳ vọng lạm phát của các tổ chức trong và ngoài nước và căn cứ các báo cáo vĩ mô của các tổ chức có uy tín đều cho thấy kỳ vọng lạm phát trong công chúng vẫn tiếp tục xu hướng giảm. Báo cáo điều tra kỳ vọng lạm phát vào tháng 3/2014 của Vụ Dự báo Thống kê Tiền tệ thuộc NHNN cho thấy kỳ vọng lạm phát của các TCTD đang có xu hướng giảm. Cụ thể, CPI cả năm 2014 được kỳ vọng tăng trung bình 6,5%; thấp hơn mức kỳ vọng đưa ra đầu năm là 6,79%.
+ Theo báo cáo triển vọng kinh tế vĩ mô tháng 3 của HSBC, áp lực lạm phát trong năm 2014 giảm đáng kể, chủ yếu nhờ chỉ số giá lương thực thực phẩm và chỉ số lạm phát cơ bản có xu hướng giảm kể từ giữa năm 2013. Theo HSBC, hiện tại kỳ vọng lạm phát năm 2014 giảm xuống còn 6,5%, so với mức kỳ vọng đưa ra từ đầu năm là 7,3%.
+ Các tổ chức quốc tế khác như ADB, WB cũng thống nhất đưa ra mức dự báo lạc quan đối với lạm phát Việt Nam năm 2014 ở mức dưới 7%.
Tóm lại, trong quý I/2014, việc chỉ số CPI tăng nhẹ so với các năm trước sẽ là một tín hiệu tốt cho công tác kiểm soát lạm phát trong năm 2014. Tuy nhiên, trong diễn biến khả quan đó, nhìn lại quá khứ, diễn biến lạm phát trong thời điểm này có phần tương đồng với giai đoạn 200 – 2001, điều đó có thể làm nảy sinh những quan ngại về khả năng phục hồi của tăng trưởng kinh tế.
Mặc dù, quan sát số liệu thống kê trong Quý I/2014 của kinh tế vĩ mô so với tháng 12/2013 cho thấy mọi việc đều có vẻ như đang tốt lên: lạm phát được kiềm chế, GDP tăng cao hơn cùng kỳ 2 năm trước; xuất khẩu tăng cao, nhập khẩu giảm, xuất siêu ước đạt 1 tỷ USD; mức tiêu dùng có tăng, thậm chí là tăng cao hơn so với diễn biến cùng kỳ của hai năm gần đây. Nhưng các con số thống kê này phản ánh sự tăng trưởng rất nhỏ và có phần “ì ạch” so với các năm trước. Động lực cho tăng trưởng vẫn còn rất yếu: khu vực sản xuất trong nước vẫn đang gặp phải rất nhiều khó khăn, chỉ số hàng tồn kho vẫn ở mức cao, số lượng doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động trong 3 tháng đầu năm liên tục tăng (khoảng 16.745 doanh nghiệp, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước); tín dụng ngân hàng tăng rất thấp trong quý I; nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm đầu ra của sản phẩm, không mặn mà với việc mở rộng sản xuất kinh doanh; hoạt động thương mại khởi sắc chủ yếu nhờ vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Chính vì vậy, bên cạnh diễn biến đáng mừng của chỉ số CPI trong quý I/2013 thì việc làm thế nào để kích hoạt nhanh sự tăng trưởng có dấu hiệu trì trệ của nền kinh tế đã thật sự trở thành vấn đề lớn cần tập trung giải quyết trong những quý tiếp theo của năm.
Thực tế đó đòi hỏi trong thời gian tới, các Bộ, ngành, địa phương phải tiếp tục bám sát các chỉ đạo của Chính phủ, nhất là Nghị quyết 01/NQ-CP. Trong đó, cần tập trung vào việc:
1. Xác định rõ những yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất tới diễn biến của lạm phát trong giai đoạn hiện nay để đưa ra các quyết sách kinh tế phù hợp, tránh tình trạng các chính sách điều hành rơi vào thế quá thận trọng, không tạo được lực đẩy đối với tăng trưởng kinh tế;
2. Đẩy mạnh việc tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh về vốn, về thị trường tiêu thụ sản phẩm, về môi trường đầu tư;
3. Tiếp tục duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô; kiểm soát tốt giá cả thị trường; nhân rộng mô hình bình ổn giá. Trong điều kiện CPI có xu hướng tăng chậm, song việc điều chỉnh giá các mặt hàng thiết yếu như xăng, điện, nước… cần được tính toán cẩn trọng để không tạo thêm những khó khăn cho doanh nghiệp khi các chi phí đầu vào có biến động. Đồng thời tiếp tục tập trung quản lý giá của những nhân tố có tác động mạnh lên diễn biến của lạm phát.
Ths. Nguyễn Thị Minh Ngọc
Ths. Trần Ngọc Lan