Tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của Đại biểu Huỳnh Thành Lập, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh.
Câu hỏi:
Qua làm việc với doanh nghiệp, có ý kiến cho rằng: toàn hệ thống ngân hàng chưa thực sự có một ngân hàng công nghiệp đúng nghĩa. Chỉ riêng Ngân hàng công thương do Nhà nước kiểm soát mới chỉ chú trọng đến “thương” mà chưa quan tâm đến “công”; ít khi doanh nghiệp vay được vốn mua máy móc, thiết bị mà chỉ được tài trợ phần “thương”, tức sản phẩm cuối cùng ra thị trường. Nếu doanh nghiệp có vay được vốn mua máy móc thiết bị với lãi suất trung hạn, dài hạn thì lãi suất cũng rất cao. Điều này hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đề nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết quan điểm và giải pháp về vấn đề này.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Huỳnh Thành Lập như sau:
Năm 1988, theo định hướng cơ bản của Nghị định 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng là “chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh” trên cơ sở chuyển và tách ra từ Ngân hàng Nhà nước nhằm phát triển các ngành, lĩnh vực theo mục tiêu hoạt động của từng ngân hàng, bao gồm: Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng công thương Việt Nam và Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam.
Tuy nhiên, ngày 14/11/1990, Hội đồng Bộ trưởng đã có quyết định chuyển 4 ngân hàng từ mô hình ngân hàng chuyên doanh hoạt động ở một số lĩnh vực chuyên biệt sang mô hình ngân hàng thương mại nhà nước hoạt động đa năng1. Theo đó, các ngân hàng thương mại này đã phát triển từ mô hình chuyên doanh sang mô hình đa năng, hiện đại, cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng, đáp ứng các nhu cầu đa dạng về vốn của khách hàng trong mọi lĩnh vực, thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước.
Đến nay, các ngân hàng thương mại nhà nước2 vẫn kế thừa tên gọi do lịch sử để lại nhưng không còn chỉ phục vụ một số ngành, lĩnh vực nhất định như giai đoạn 1988-1990 mà trong xu thế hội nhập, hiện đại hóa ngành Ngân hàng, hoạt động của các ngân hàng đòi hỏi đa dạng, thực hiện hoạt động ngân hàng3 cho mọi lĩnh vực, tuy nhiên vẫn có lợi thế nhất định trong các lĩnh vực, ngành nghề đã là thế mạnh của từng ngân hàng trong lịch sử (như Ngân hàng Công thương Việt Nam với thế mạnh là khách hàng truyền thống trong lĩnh vực công thương).
Về việc cho vay các dự án mua sắm máy móc, thiết bị, hiện nay hầu hết các tổ chức tín dụng (với hơn 100 tổ chức tín dụng) đều thực hiện nghiệp vụ cho vay mua máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh với mức cho vay tối đa 70% chi phí đầu tư và giá trị tài sản thế chấp (nhiều trường hợp tổ chức tín dụng cho vay trên mức 70%). Việc xem xét, quyết định cấp tín dụng của các ngân hàng dựa trên cơ sở thẩm định tính khả thi, hiệu quả của dự án cụ thể; đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng theo cơ chế tín dụng và các quy định pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng đang phải đối mặt với rủi ro kỳ hạn do nhu cầu vay vốn phục vụ đầu tư, phát triển, sản xuất (trong đó có vay mua sắm phục vụ sản xuất ban đầu như máy móc, thiết bị) với kỳ hạn trung và dài hạn là rất lớn trong khi phần lớn nguồn vốn huy động là ngắn hạn. Bên cạnh đó, với kỳ hạn dài thì rủi ro tín dụng của khách hàng cũng cao hơn. Vì vậy, lãi suất các khoản cho vay trung và dài hạn này thường cao hơn so với các khoản vay khác.
Thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt đối với lĩnh vực ưu tiên là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vay vốn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng một cách hiệu quả, trong đó có giải pháp về lãi suất; đồng thời chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung vốn cho vay đối với các lĩnh vực khuyến khích ưu tiên là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mặt bằng lãi suất cho vay hiện nay đã giảm mạnh và ở mức thấp, chỉ bằng 50% lãi suất năm 2011, tương đương với mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006 (trong đó, so với cuối năm 2012 đã giảm 3-5%/năm). Hiện nay, lãi suất cho vay các lĩnh vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đã ở mức thấp 7-8%/năm, thấp hơn lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất thông thường khác từ 1-2%/năm4; thậm chí một số tổ chức tín dụng còn cho vay các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ưu tiên có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, có phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả với lãi suất chỉ 6,5-7%/năm.
Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay đối với các khoản vay cũ của khách hàng. Đến 15/5/2014, dư nợ cho vay bằng VND có lãi suất trên 15%/năm chiếm 5% tổng dư nợ cho vay bằng VND, giảm mạnh so với tỷ trọng 65,8% trước thời điểm 15/7/2012, dư nợ cho vay bằng VND có lãi suất trên 13%/năm chiếm 15% tổng dư nợ cho vay bằng VND, giảm so với tỷ trọng 31% vào tháng 6/2013. Qua đó cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay của ngành ngân hàng (trong đó bao gồm cả lãi suất cho vay trung dài hạn đầu tư máy móc, thiết bị) đã giảm mạnh góp phần tạo điều kiện giảm bớt khó khăn, hỗ trợ sản xuất cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng.
Để tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản gửi Lãnh đạo các cấp ủy, chính quyền địa phương trên toàn quốc cùng với ngành Ngân hàng chỉ đạo triển khai Chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp nhằm chủ động, tích cực giải quyết những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp. Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp dưới hình thức “Ký kết hỗ trợ vốn vay tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp” là sự gắn kết giữa cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp và ngân hàng thương mại. Chương trình kết nối có ý nghĩa thiết thực và mang lại những kết quả cụ thể đối với cộng đồng doanh nghiệp và hiệu ứng lan tỏa cao trong xã hội; trong đó, doanh nghiệp được tạo điều kiện hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất hợp lý để duy trì, phục hồi, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh; giảm bớt những khó khăn về vốn và chi phí lãi vay cho doanh nghiệp, từ đó giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tính đến 31/3/2014, dư nợ tín dụng đối với ngành công nghiệp tăng 2,11% so với cuối năm 2013, chiếm tỷ trọng 28% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế; dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng 0,34% so với cuối năm 2013 (thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung toàn nền kinh tế 0,5%), chiếm tỷ trọng 25% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Bên cạnh khó khăn chung của nền kinh tế, nguyên nhân chính dẫn đến việc doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng là do bản thân các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn một số tồn tại như: (i) Năng lực quản lý, tài chính còn nhiều hạn chế; (ii) Phương án sản xuất kinh doanh đề nghị vay vốn, báo cáo tài chính của doanh nghiệp chưa rõ ràng, minh bạch để chứng minh được khả năng trả nợ, ảnh hưởng đến việc tổ chức tín dụng đưa ra quyết định cho vay cũng như chất lượng khoản vay; (iii) Năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn hạn chế do quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ, thị trường tiêu thụ chưa ổn định; (iv) Tài sản đảm bảo của các doanh nghiệp chưa đáp ứng được các yêu cầu của TCTD (tính pháp lý của tài sản chưa rõ ràng, tài sản không có khả năng phát mãi, giá trị đảm bảo thấp)...
Vì vậy để tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngoài các giải pháp chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, bản thân doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động của mình, nâng cao khả năng tài chính, khả năng trả nợ, xây dựng phương án, dự án sử dụng vốn vay hiệu quả, tạo niềm tin đối với các tổ chức tín dụng yên tâm cấp tín dụng. Đồng thời, cần có sự phối hợp đồng bộ của các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các giải pháp về tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ như: Đẩy mạnh triển khai Kế hoạch phát triển DNNVV; tăng cường năng lực cho các đơn vị thực hiện trợ giúp phát triển loại hình DNNVV; rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục hành chính và thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi trong các lĩnh vực tiếp cận vốn, đất đai, đầu tư xây dựng...
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Huỳnh Thành Lập. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đại biểu đối với hoạt động của hệ thống Ngân hàng. Nhờ đó, các cơ chế, chính sách về tiền tệ, ngân hàng đã phát huy hiệu quả cao hơn, có sức lan tỏa rộng lớn hơn, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ hơn nữa của Đại biểu đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.
1 Ngân hàng Công thương có chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng đối với các thành phần kinh tế, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp và dịch vụ.
2 Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
3 Hoạt động ngân hàng theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Cấp tín dụng; (iii) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
4 Lãi suất cho vay phổ biến của các khoản vay mới đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thông thường ở mức 9-10%/năm đối với ngắn hạn; 10,5-12%/năm đối với trung và dài hạn.