Trong bối cảnh phục hồi của kinh tế thế giới sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, kể từ năm 2013 đến nay, nhiều quốc gia trong khu vực Châu Á đã điều chỉnh lại định hướng phát triển kinh tế, theo đó việc điều hành chính sách không chỉ hướng đến thúc đẩy tăng trưởng mà còn ưu tiên cho mục tiêu ổn định vĩ mô, tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong dài hạn.
Trên cơ sở đó, bước sang năm 2014, chính sách tiền tệ - CSTT của NHTW phần lớn các nước phát triển trong khu vực đã có những điều chỉnh đáng chú ý hơn so với đầu năm 2013. Sự ổn định mang tính thích ứng của CSTT kéo dài trong những năm sau khủng hoảng có khả năng sẽ sớm chấm dứt, NHTW các nước ngày càng thể hiện rõ hơn quan điểm điều hành CSTT theo hướng thắt chặt hay nới lỏng nhưng không quên đề cao yếu tố ổn định trong công tác điều hành với những bước điều chỉnh chính sách đáng chú ý như sau:
1/ Ấn Độ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt đảm bảo kiểm soát được áp lực trên thị trường ngoại hối và theo sát lộ trình giảm lạm phát đến năm 2016
Từ năm 2013 đến nay, NHTW Ấn Độ đã thực hiện khá nhiều chính sách để giảm thiểu rủi ro ảnh hưởng đến sự ổn định vĩ mô, tạo ra một tấm chắn bảo vệ vững chắc cho Ấn Độ tránh khỏi những tác động lan tỏa của việc thu hẹp các gói hỗ trợ QE của Mỹ và cuộc khủng hoảng tại Ukraine, trong đó đáng chú ý là động thái của CSTT nhằm giảm áp lực trên thị trường ngoại hối và kiểm soát lạm phát theo xu hướng giảm dần.
Diễn biến tỷ giá tại Ấn Độ
Nguồn: RBI
Từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 9/2013, tỷ giá đồng Rupee so với đồng USD giao động mạnh theo chiều hướng mất giá của đồng bản tệ, tạo áp lực lớn trên thị trường ngoại hối. Quan ngại những rủi ro bất ổn trên thị trường ngoại hối ngày càng tăng lên, có thể ảnh hưởng tới lộ trình kiểm soát lạm phát của nền kinh tế, NHTW đã quyết định giữ nguyên lãi suất chính sách và thực hiện một số chính sách ngoại lệ để kiểm soát áp lực trên thị trường ngoại hối. Trước hết, đó là việc tăng tỷ lệ lãi suất trên thị trường tiền tệ và thắt chặt việc tiếp cận hỗ trợ thanh khoản từ NHTW. Bên cạnh đó, NHTW cũng thực hiện một số biện pháp hành chính mang tính hỗ trợ như các hoạt động can thiệp thị trường ngoại hối, thiết lập cơ chế swap để hỗ trợ cho dự trữ ngoại hối và các thỏa thuận swap đặc biệt đối với các công ty bán và phân phối dầu khí, sửa đổi các quy định hướng dẫn việc nhập khẩu vàng. Và tình trạng căng thẳng của thị trường ngoại hối đã dịu xuống và đi vào ổn định vào tháng 9/2013. Ngay khi căng thẳng của thị trường ngoại hối giảm xuống, nhưng áp lực lạm phát từ phía giá cả lương thực thực phẩm, nhiên liệu tiếp tục gia tăng, NHTW đã quyết định truyền dẫn tín hiệu thắt chặt chính sách với mục tiêu rõ ràng là hạn chế những ảnh hưởng bất lợi từ việc tăng lương và ổn định kỳ vọng của lạm phát. Trên cơ sở đó, khi lạm phát tiếp tục có dấu hiệu tăng (lớn hơn 9%) ngay cả khi đã loại trừ yếu tố mùa vụ, NHTW đã thực hiện các hành động chính sách nhằm phá vỡ vòng xoáy của lạm phát, đảm bảo một môi trường thuận lợi cho tăng trưởng, cụ thể là lãi suất chính sách chủ đạo đã được điều chỉnh tăng liên tiếp 3 lần mỗi lần là 25 điểm cơ bản từ mức 7,25% lên 8% từ cuối tháng 9/2013 đến đầu tháng 1/2014 và được giữ nguyên ở mức 8% đến thời điểm hiện nay. Theo đó, lãi suất huy động vốn trên thị trường ở mức > 7,7%/năm và lãi suất cho vay giao động từ 11 – 12%/năm.
NHTW Ấn Độ đã tăng lãi suất chính sách chủ đạo trong 2 tháng liên tiếp trong tháng 9 và tháng 10/2013 và dừng đợt điều chỉnh lại cho đến tháng 1/2014 để ngăn chặn những hành động chính sách quá mức và để có đủ thời gian thu thập số liệu tính toán xu hướng của lạm phát. Và chỉ đến khi Ủy ban sửa đổi và tăng cường khuôn khổ CSTT NHTW công bố mục tiêu phấn đấu giảm lạm phát cho 2015 – 2016 lần lượt ở mức 8% và 6% thì lãi suất chính sách mới tiếp tục được điều chỉnh tăng và đây cũng là đợt tăng cuối cùng của lãi suất tính đến thời điểm hiện nay. Trên cơ sở xu hướng đi xuống của lạm phát, mục tiêu dự kiến của lạm phát và tăng trưởng (5 và 6%) cho giai đoạn 2015 – 2016, NHTW đã quyết định không thay đổi chính sách lãi suất chủ đạo.
Đồng thời, tại thời điểm cuối tháng 1/2014, Ủy ban sửa đổi và tăng cường chính sách cũng công bố việc đánh giá lại CSTT sẽ được thực hiện theo chu kỳ 2 tháng một lần. Theo đó, báo cáo đánh giá lần 1 vào tháng 4/2014 đã tái khẳng định rằng CSTT sẽ tập trung giữ cho nền kinh tế phát triển theo hướng chống lạm phát và báo cáo lần 2 và lần 3 vào tháng 6 và tháng 8 cũng duy trì quan điểm chính sách của báo cáo lần 1. Tuy nhiên để đảm bảo cho các ngân hàng có đủ nguồn lực mở rộng cung ứng tín dụng cho khu vực phi Chính phủ, tỷ lệ thanh khoản quy định điều chỉnh 50 điểm cơ bản trong tháng 6 và tháng 8/2014.
Bên cạnh đó, trước áp lực thâm hụt của cán cân vãng lai và xu hướng đảo chiều mạnh của dòng vốn trong năm 2013, từ giữa năm 2013 trở lại đây Ấn Độ đã tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối, và hiện tại lượng dự trữ ngoại hối của Ấn Độ đã lên mức xấp xỉ 9 tháng nhập khẩu.
Thống kê diễn biến cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối của Ấn Độ
Nguồn: RBI
2/ Indonesia điều chỉnh CSTT theo hướng chặt chẽ với nhiều giải pháp đi trước để đảm bảo sự ổn định của kinh tế vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng cân bằng.
Nếu như trong nửa đầu năm 2013, trước biến động xấu của một số chỉ số vĩ mô, BI đã phải phải chịu áp lực thắt chặt CSTT, thì kể từ nửa cuối năm, áp lực này đã chuyển thành hành động cụ thể. NHTW Indonesia - BI quyết định tăng lãi suất chính sách thêm 1,75% lên mức 7,5% để chống lại áp lực gia tăng của lạm phát và sự mất giá của đồng bản tệ. Động thái tăng lãi suất chính sách đã có những tín hiệu truyền dẫn ngay lập tức đến thị trường, khiến các mức lãi suất thị trường có sự gia tăng trong những tháng đầu năm 20141.
Lãi suất chính sách được giữ nguyên ở mức 7,5% trong suốt hơn một năm và đến ngày 18/11/2014, BI quyết định tăng lãi suất chính sách thêm 0,25 điểm % lên mức 7,75%. Động thái tăng lãi suất chính sách này được cho là để tiếp tục kiểm soát kỳ vọng lạm phát và hướng lạm phát quay về mức mục tiêu 4±1% vào năm 2015, đồng thời giúp BI có thể thu hẹp lại mức thâm hụt cán cân vãng lai. Với lãi suất chính sách gia tăng, các mức lãi suất thị trường cũng có sự điều chỉnh, lãi suất cho vay tăng thêm 0,5% lên mức 8% trong khi lãi suất huy động vẫn giữ nguyên ở mức 5,75%.
Thống kê biến động các loại lãi suất của Indonesia
Nguồn: BI
Sự gia tăng của các mức lãi suất từ nửa cuối năm 2013 đến nay đã phát đi tín hiệu thắt chặt CSTT từ phía NHTW, giúp hạ nhiệt tình trạng tăng trưởng tín dụng nóng của năm 2013. Nếu như trong năm 2013, có những thời điểm tăng trưởng tín dụng lên mức xấp xỉ 30% thì đến ba quý đầu năm 2014 tăng trưởng tín dụng giảm xuống lần lượt còn 19,1%; 16,6% và 13,4%.
Diễn biến tăng trưởng tín dụng
Nguồn: BI
Ngoài ra, để đảm bảo sự ổn định lâu dài của đồng nội tệ và giữ lạm phát ở mức mục tiêu đề ra, BI đã có sự phối hợp với Chính phủ trong việc thực hiện các biện pháp nhằm ổn định giá trị đồng rupiah và giảm tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai. Kể từ giữa năm 2013, BI đã phối hợp với Chính phủ trong việc đưa ra các công cụ bảo hiểm rủi ro biến động tỷ giá đồng thời phối hợp thực hiện các phiên đấu giá trái phiếu định danh bằng đồng USD để có thể thu hút nguồn USD nhằm giảm sức ép đối với nguồn cung ngoại tệ. Đồng thời, dự trữ ngoại hối cũng được củng cố từ giữa năm 2013 trở lại đây và hiện đang ở mức trên 6 tháng nhập khẩu. Đây cũng là các biện pháp để giảm bớt sức ép đối với tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai đang ở mức cao, và đối phó với tình trạng dòng vốn nước ngoài có xu hướng thoái lui mạnh mẽ tại Indonesia trong nửa cuối năm 2013.
Thống kê diễn biến cán cân và dự trữ ngoại hối của Indonesia
Nguồn: BI
3/ Malaysia đã từng bước điều chỉnh CSTT theo hướng thắt chặt để ngăn chặn và giảm thiểu rủi ro bắt nguồn từ sự tích tụ của những bất cân đối tài chính và kinh tế không làm cản trở triển vọng phát triển của kinh tế
Trước nguy cơ rủi ro cảnh báo của năm 2014 có thể bắt nguồn từ những yếu kém của khu vực bên ngoài2 và từ một số khu vực bên trong3 của nền kinh tế, để thực hiện được nhiệm vụ kép là đảm bảo tăng trưởng và ổn định lạm phát ở mức thấp trong trung hạn, NHTW Malaysia - BNM đã quyết định điều chỉnh quan điểm chính sách vào tháng 7/2014. Theo đó, BNM đã tăng lãi suất OPR (overnigh policy rate) thêm 25 điểm cơ bản vào ngày 10/7. Hiện OPR đang ở mức 3,25%, khung lãi suất được điều chỉnh lần lượt là 3,5% và 2%. Động thái chính sách này của BNM được xem là sự khởi đầu cho việc bình thường hóa các quyết sách tiền tệ đã được duy trì ổn định suốt 3 năm vừa qua và để đảm bảo chống lại lạm phát và khả năng xảy ra mất cân đối tài chính – finance imbalance4 trong tương lai. Bên cạnh đó, để kiểm soát mức độ tăng trưởng tín dụng đối với hộ gia đình, đặc biệt là các khoản vay để đầu tư, mua bất động sản, BNM đã buộc các tổ chức cung cấp tín dụng phải áp dụng các quy định minh bạch, thu ngắn thời gian tối đa dành các khoản vay mua bất động sản của tổ chức và cá nhân xuống mức tương ứng là 35 năm và 10 năm, đồng thời tiến hành đánh giá phê duyệt các khoản vay trên quan điểm thận trọng.
Diễn biến các loại lãi suất tại Malaysia
Nguồn: BNM
Ngoài ra, trước xu hướng dòng vốn có xu hướng biến động và rút mạnh khỏi nền kinh tế, Malaysia cũng tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối để giảm áp lực đối với nguồn cung ngoại tệ, hiện tại dự trữ ngoại hối của Malaysia đạt mức tương đương 7,6 tháng nhập khẩu.
Thống kê diễn biến cán cân và dự trữ ngoại hối của Malaysia
Nguồn: BNM
4/ Philippin điều hành CSTT dựa trên quan điểm thắt chặt để đảm bảo đạt được mục tiêu ưu tiên là ổn định giá cả và sự phục hồi của hệ thống tài chính nhưng không ảnh hưởng đến tăng trưởng.
Trước những diễn biến tiếp tục thuận lợi của môi trường kinh tế trong nước, ngoài việc tiếp tục theo đuổi mục tiêu chính là ổn định giá cả và đảm bảo cho sự phục hồi mạnh mẽ của hệ thống tài chính, NHTW Philippin – BPS còn sẵn sàng áp dụng các biện pháp thích hợp để đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững, không lạm phát. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm, BPS đã quyết định thực hiện một số hành động chính sách đi trước trong khi diễn biến kinh tế, tiền tệ trong nước và quốc tế đang ở trong điều kiện bình thường.
Trước hết là việc BPS quyết định giữ nguyên các mức lãi suất chính sách (lãi suất mua lại đảo ngược, RRP ở mức 3,5% và lãi suất mua lại – RP ở mức 5,5%) nhưng điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc khoảng 1% để ngăn chặn rủi ro bắt nguồn từ việc tín dụng sẽ được mở rộng nhanh chóng khi thanh khoản trong nền kinh tế gia tăng mạnh mẽ, có thể ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính.
Xu hướng diễn biến lãi suất chính sách tại Philippin
Nguồn: BPS
Tiếp đến, vào cuối tháng 7/2014, Ủy ban tiền tệ - MB quyết định không thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhưng đã điều chỉnh tăng 25 điểm cơ bản đối với lãi suất chính sách được duy trì suốt từ tháng 10/2012 ở mức 3,5% lên mức 3,75%. Động thái chính sách này được đưa ra trên cơ sở diễn biến kinh tế vĩ mô trong quý II/20145. Đồng thời, tăng trưởng tín dụng và mức độ thanh khoản trong nền kinh tế vẫn tiếp tục mạnh mẽ có thể tác động tới áp lực lạm phát và làm gia tăng rủi ro ổn định tài chính.
Thống kê tốc độ tăng M2 (yoy) của NHTW Phillippin theo quý giai đoạn 2013 - 2014
Nguồn: BPS
Bên cạnh đó, trước áp lực dòng vốn đổ ra mạnh kể từ nửa cuối năm 2013, Phillippin cũng tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối để giảm áp lực đối với nguồn cung ngoại tệ, hiện tại dự trữ ngoại hối của quốc gia này đạt mức rất cao, tương đương 15 tháng nhập khẩu.
Thống kê diễn biến cán cân và dự trữ ngoại hối của Phillippin
Nguồn: BPS
5/ Thái Lan thực hiện CSTT nới lỏng thận trọng để hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn phục hồi và áp lực lạm phát được kiểm soát.
Để hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế đang trên đà suy giảm, ngày 12/3/2014, BoT đã tiếp tục cắt giảm lãi suất chính sách 0,25 điểm phần trăm xuống còn 2%. Đây là lần cắt giảm lãi suất thứ 3 của BoT kể từ tháng 6/2013, và điều này thể hiện xu hướng nới lỏng CSTT rõ rệt của BoT trong vòng 2 năm qua. Lãi suất chính sách được cắt giảm đã định hướng lãi suất thị trường giảm xuống so với đầu năm, giúp kích thích hoạt động cho vay và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cho nền kinh tế.
Diễn biến lãi suất tại Thái Lan
Nguồn: BoT
Tuy nhiên, bước sang quý II, trước áp lực lạm phát có dấu hiệu gia tăng6, BoT đã quyết định giữ nguyên lãi suất chính sách ổn định ở mức 2%. Bên cạnh đó, BoT sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Tài chính trong việc thực hiện các biện pháp kiểm soát tăng giá, đặc biệt đối với hai mặt hàng năng lượng và lương thực thực phẩm, vốn là hai đối tượng chính dẫn đến tốc độ tăng mạnh của chỉ số giá trong những tháng đầu năm. BoT cho rằng CSTT hiện tại đang thúc đẩy niềm tin khu vực tư nhân, hỗ trợ cầu nội địa để phục hồi tăng trưởng. Tuy nhiên, BOT sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ các rủi ro ổn định tài chính có thể xảy ra từ việc gia tăng tín dụng, nợ cá nhân và sự biến động của dòng vốn. Đồng thời, BoT sẽ tiếp tục có các biện pháp củng cố dự trữ ngoại hối để giúp giảm bớt rủi ro dòng vốn có thể đảo chiều trong tương lai.
Thống kê diễn biến cán cân và dự trữ ngoại hối của Thái Lan
Nguồn: BoT
6/ Trung Quốc điều hành CSTT theo hướng nới lỏng đảm bảo sự cân bằng giữa tăng trưởng và cải cách
Để hỗ trợ tăng trưởng, trong năm 2014 PBC đã hai lần hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với một số nhóm NHTM cụ thể, đồng thời thực hiện cắt giảm lãi suất cơ bản vào cuối tháng 11
Trong bối cảnh tăng trưởng sụt giảm vào quý I7, để hỗ trợ tăng trưởng, PBC đã hai lần giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong quý II nhằm khuyến khích hoạt động cho vay của hệ thống ngân hàng đối với khu vực tư nhân. Cụ thể, vào tháng 4 PBC đã hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc 2 điểm % đối với một số NHTM nông thôn để khuyến khích dòng tín dụng khu vực nông nghiệp nông thôn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tiếp đến, đến giữa tháng 6, PBC tiếp tục thông báo giảm 0,5 điểm phần trăm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho một số ngân hàng đã tăng lượng tín dụng cho người vay tiền ở khu vực nông thôn và các công ty quy mô nhỏ, bao gồm 2/3 số ngân hàng thương mại khu vực thành phố, 8% số ngân hàng thương mại tại nông thôn và 90% ngân hàng hợp tác xã nông thôn.
Nhìn chung, động thái hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Trung Quốc mang tính thận trọng không bao phủ hết toàn bộ hệ thống ngân hàng, mà chỉ hướng tới một nhóm ngân hàng nhất định để đảm bảo vừa hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn đảm bảo ổn định hệ thống tài chính, tránh tình trạng cung ứng tín dụng dư thừa quá mức.
Mặc dù đã thực hiện khá nhiều các biện pháp tích cực để hỗ trợ tăng trưởng, đà tăng trưởng của Trung Quốc vẫn có xu hướng sụt giảm khi tăng trưởng đã giảm liên tục từ mức 7,5% quý I xuống 7,4% và 7,3% trong quý II, III. Trước tình hình đó, ngày 21/11/2014, PBOC đã hạ lãi suất cho vay kỳ hạn một năm thêm 0,4% xuống 5,6% và lãi suất tiết kiệm giảm 0,25% về 2,75%. Đây là lần giảm lãi suất đầu tiên của Trung Quốc kể từ tháng 7/2012, và điều này phản ánh rõ xu hướng điều hành CSTT để hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh tăng trưởng đang rơi vào mức tăng trưởng chậm nhất kể từ năm 2009 trở lại đây.
Tiếp tục sử dụng công công cụ dự trữ bắt buộc phụ trội linh hoạt để điều chỉnh tăng trưởng tín dụng trên thị trường ở mức hợp lý
Để kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý, ngăn ngừa tín dụng tăng trưởng quá nóng, từ cuối năm 2011, NHTW Trung Quốc không cấp hạn mức tín dụng (lending quota) cho từng ngân hàng như các năm trước mà sử dụng công cụ “tỷ lệ dự trữ bắt buộc phụ trội linh hoạt” (Dynamic Differentiated Require Reserve Ratio – DDRRR). Đây được coi là một trong những công cụ CSTT chủ chốt (primary monetary policy tool) của NHTW Trung Quốc thời gian gần đây. Công cụ này cho phép NHTW điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho từng ngân hàng. Ngân hàng nào có tỷ lệ an toàn vốn (CAR) thấp sẽ phải chịu mức dự trữ bắt buộc cao, và ngược lại. Mức dự trữ bắt buộc phụ trội sẽ được tính cho từng ngân hàng và sẽ được điều chỉnh thường xuyên (tháng, quý) theo diễn biến thị trường.
Tiếp tục đưa ra các quy định hạn chế liên quan đến tăng trưởng tín dụng để lành mạnh hóa cơ cấu tín dụng trong nền kinh tế
Tiếp nối những biện pháp đã được thực hiện từ năm 2013, trong những tháng đầu năm 2014, PBC tiếp tục yêu cầu các NHTM hạn chế cho vay trên thị trường liên ngân hàng, theo đó quy định dư nợ cho vay liên ngân hàng không được vượt quá 1/3 tổng các khoản nợ của ngân hàng hoặc không vượt quá ½ vốn cấp 1 của ngân hàng. Quy định này được đưa ra nhằm hạn chế tình trạng mở rộng tín dụng đen (shadow banking), vốn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn tín dụng liên ngân hàng kỳ hạn ngắn. Theo thống kê của PBC lượng tín dụng liên ngân hàng đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Theo đó dư nợ cho vay liên ngân hàng đã tăng từ mức 6.2 nghìn tỷ yuan năm 2009 lên gần gấp gấp 4 đạt 21.5 nghìn tỷ yuan vào cuối năm 2013. Quy định trên của PBC đã giúp giảm thiểu rủi ro bùng nổ tín dụng đen tuy nhiên ở một khía cạnh khác cũng đã khiến tăng trưởng tín dụng giảm sút.
Thống kê lượng giao dịch trên thị trường liên ngân hàng |
Thống kê tốc độ tăng M2 (yoy) của PBC theo quý giai đoạn 2013 - 2014 |
Nguồn: PBC
Như vậy có thể thấy rằng, CSTT của một số nền kinh tế phát triển trong khu vực Châu Á trong năm 2014 đã có những bước chuyển động rõ nét nhằm ngăn chặn những tác động không tích cực từ những quyết sách tiền tệ của NHTW các nước phát triển trên thế giới (đặc biệt là xu hướng rút dần các gói nới lỏng định lượng của FED), ngăn chặn những áp lực làm gia tăng lạm phát hoặc có thể hiểu là để ngăn chặn những bất ổn có thể xảy ra do rủi ro của CSTT thích ứng kéo dài mang lại8. Nếu như Malaysia, Philippin, Indonesia và Ấn Độ điều hành CSTT theo hướng thắt chặt thông qua việc điều chỉnh tăng tỷ lệ lãi suất chính sách, kiểm soát áp lực của thị trường ngoại hối và sự tăng trưởng nóng của tín dụng thì Trung Quốc và Thái Lan lại điều chỉnh CSTT theo hướng nới lỏng thông qua việc điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoặc giảm lãi suất điều hành,…. Đồng thời tất cả các nước đều chủ động nâng cao dự trữ ngoại hối hàng năm để sẵn sàng đối phó với sự biến động của dòng vốn khi kinh tế toàn cầu phục hồi. Các giải pháp tiền tệ đó cho thấy dư địa để duy trì một CSTT ổn định mang tính thích ứng kéo dài trong khi nền kinh tế đã bắt đầu khởi sắc với các điều kiện kinh tế vĩ mô khá ổn định là không còn hiệu quả nữa, CSTT cần phải vận động cùng với sự chuyển động của nền kinh tế và luôn phải đề cao mục tiêu ổn định để hướng tới sự phát triển bền vững trong dài hạn.
----------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
Phòng Nghiên cứu Phát triển Ngân hàng Trung Ương
Viện Chiến lược Ngân hàng
1 Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng gia tăng trong quý đầu trong khi lãi suất huy động và cho vay lại có xu hướng gia tăng liên tục trong cả hai quý. Lãi suất liên ngân hàng đã gia tăng từ mức 5,83% quý IV/2013 lên mức 5,88% quý I/2014 và được giữ ổn định ở mức 5,86% quý II/2014. Trong khi đó, lãi suất huy động kỳ hạn ngắn tăng liên tục từ mức 7,92% cuối năm 2013 lên 7,99% cuối quý I và 8,3% cuối quý II; lãi suất cho vay đầu tư tăng từ 12,39% cuối năm 2013 lên 12,56% cuối quý I và 12,76% cuối quý II; lãi suất cho vay tiêu dùng tăng từ 12% lên 13,21% và 13,3%.
2 Sự giảm sút nhu cầu bên ngoài, nguy cơ bị rút vốn, các cú sốc về giá
3 Nợ công cao gần chạm ngưỡng 55%/GDP, các rủi ro liên quan đến chương trình cải cách tổng thể của nền kinh tế, những yếu kém của khu vực ngân hàng liên quan đến thị trường bất động sản, rủi ro lãi suất tăng cao và các điều kiện tài chính bị thắt chặt để đối phó với tác động của các chính sách tiền tệ bất thường của các nền kinh tế phát triển, rủi ro gia tăng lạm phát và kỳ vọng lạm phát do sự điều chỉnh giá nhiên liệu, các mặt hàng được trợ cấp, lương, thuế,…
4Thuật ngữ này phản ánh rủi ro xuất phát từ việc tỷ lệ lãi suất thực âm kéo dài có thể hình thành bóng bóng tài sản, phân bố không hiệu quả nguồn lực, đánh giá rủi ro không chính xác và hiện tượng bán tháo chứng khoán có giá của nhà đầu tư nước ngoài.
5 Tăng trưởng vẫn diễn biến khả quan, nhưng diễn biễn của lạm phát và kỳ vọng lạm phát có xu hướng đi lên, rủi ro tác động tới lạm phát ngày càng lớn (điều chỉnh giá cả của một số mặt hàng thiết yếu, giá thực phẩm và nhiên liệu có nhiều khả năng gia tăng)
6 Áp lực này càng trở nên rõ ràng với xu hướng tăng giá của các mặt hàng thiết yếu như năng lượng, lương thực thực phẩm được dự báo tiếp tục duy trì trong những tháng sắp tới.
7 Kết thúc quý I, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 7,4%, thấp hơn 0,3% so với cùng kỳ 2013, và là mức tăng trưởng thấp nhất trong vòng 6 quý trở lại đây
8 Tỷ lệ lãi suất thấp kéo dài tại các nền kinh tế lớn tạo ra rủi ro bất cân đối tài chính; áp lực lên tỷ giá và làm gia tăng tính không ổn định của dòng vốn vào các nền kinh mới nổi và các nền kinh tế phát triển với quy mô nhỏ hơn.