VẤN ĐỀ XỬ LÝ NỢ XẤU, TÁI CƠ CẤU, HÀNH LANG PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA TCTD
I. Vấn đề xử lý nợ xấu, tái cơ cấu:
1. Cử tri lo lắng về tình trạng nợ xấu cao như hiện nay. Kiến nghị Chính phủ cần có biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này; cần kiểm tra, giám sát, xác định trách nhiệm cụ thể cho cá nhân, tổ chức nếu có sai phạm. (Cử tri TP.Hồ Chí Minh, Nghệ An)
Xác định xử lý nợ xấu của các TCTD là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, góp phần thực hiện thành công mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 và tạo nền tảng cho sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống đến năm 2020, NHNN đã chủ động xây dựng và báo cáo Bộ Chính trị, trình Chính phủ phê duyệt Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” (Quyết định 843/QĐ-TTg ngày 31/05/2013) với 5 nhóm giải pháp tổng thể xử lý nợ xấu và phòng ngừa, hạn chế nợ xấu gia tăng cần triển khai đến năm 2015, gồm: nhóm giải pháp đối với TCTD, nhóm giải pháp đối với khách hàng của TCTD, nhóm giải pháp về cơ chế chính sách, nhóm giải pháp về thanh tra, giám sát và giải pháp thành lập VAMC.
Ngay sau đó, NHNN đã có văn bản đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai các nội dung và trách nhiệm được giao tại Quyết định số 843/QĐ-TTg để xử lý nợ xấu một cách đồng bộ và có hiệu quả.
Về phía ngành Ngân hàng, Thống đốc NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng triển khai thực hiện Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng”, trong đó phân công trách nhiệm với thời hạn, lộ trình thực hiện cụ thể cho từng đơn vị thuộc NHNN, các TCTD. Đồng thời, yêu cầu các TCTD xây dựng kế hoạch xử lý nợ xấu và nâng cao chất lượng tín dụng, báo cáo tình hình nợ xấu và xử lý nợ xấu định kỳ hàng tháng.
Một số giải pháp đẩy nhanh xử lý nợ xấu đã được ngành Ngân hàng phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai mạnh mẽ, quyết liệt trong thời gian qua như sau:
- Quyết tâm thực hiện Thông tư số 02/2013/TT-NHNN về phân loại tài sản, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro từ ngày 01/6/2014 với các tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ, phù hợp với thông lệ quốc tế song cũng có những điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Triển khai thanh tra, kiểm toán độc lập về chất lượng tín dụng đối với các NHTM theo chuẩn mực phân loại nợ mới để đánh giá chính xác hơn nợ xấu và có giải pháp xử lý phù hợp.
- Căn cứ vào số liệu và thực trạng tình hình, NHNN đã làm việc trực tiếp và có văn bản chỉ đạo đến từng TCTD yêu cầu xây dựng và triển khai phương án, kế hoạch xử lý nợ xấu theo hướng đẩy mạnh các biện pháp tự xử lý nợ xấu và bán nợ xấu cho VAMC. Thường xuyên giám sát kết quả thực hiện phương án xử lý nợ xấu của từng TCTD. Trường hợp TCTD không tích cực xử lý nợ xấu có thể bị NHNN hạn chế tăng trưởng tín dụng, mở chi nhánh, phòng giao dịch và cung ứng dịch vụ ngân hàng mới.
- Kiểm soát chặt chẽ tình hình tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng của từng TCTD để hạn chế phát sinh nợ xấu mới. Đẩy mạnh hoạt động cơ cấu lại và mua, bán nợ xấu qua VAMC một cách công khai, minh bạch. Báo cáo các cơ quan của Đảng, Quốc hội và Chính phủ kết quả thực hiện Đề án xử lý nợ xấu và Đề án cơ cấu lại các TCTD, qua đó đã kịp thời đề xuất, kiến nghị các giải pháp cụ thể tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cản trở quá trình cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu.
- Trình Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 về tổ chức và hoạt động của VAMC theo hướng: (i) Tăng cường quyền hạn và chủ động cho VAMC trong việc xử lý nợ xấu; (ii) Từng bước triển khai phương thức mua bán nợ xấu theo cơ chế thị trường; (iii) Nghiên cứu bổ sung nguồn lực tài chính cho VAMC để thực hiện mua, bán nợ xấu theo cơ chế thị trường và triển khai các hoạt động bảo lãnh, đầu tư, hỗ trợ tài chính cho khách hàng vay hoàn thiện dự án đầu tư có tính khả thi;
Nhờ đó, tốc độ gia tăng nợ xấu đã chậm lại trong thời gian gần đây làm cho tỷ lệ nợ xấu giảm liên tục từ 4,11% (cuối tháng 7/2014) về mức khoảng 3,25% (cuối năm 2014). Đây là sự cố gắng rất lớn của hệ thống các TCTD, trong điều kiện không có sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước; cơ chế, chính sách còn nhiều hạn chế, bất cập và nền kinh tế còn nhiều khó khăn.
Trong năm 2015, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương triển khai mạnh mẽ các giải pháp xử lý nợ xấu tại Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng” để đưa tỷ lệ nợ xấu về mức dưới 3% như mục tiêu đề ra. Một số giải pháp trọng tâm cụ thể như sau:
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để thường xuyên đánh giá đúng thực trạng nợ xấu của toàn hệ thống và từng TCTD, từ đó có các giải pháp xử lý phù hợp.
- Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo thuận lợi cho việc xử lý nợ xấu với trọng tâm là ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (Hiện nay, dự thảo đang được Văn phòng Chính phủ lấy ý kiến các thành viên Chính phủ để sớm ban hành) và các thông tư hướng dẫn; Tăng cường năng lực tài chính và chuyên môn, nghiệp vụ xử lý nợ xấu của VAMC; triển khai việc mua bán nợ theo cơ chế thị trường; Khuyến khích, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia mua, bán nợ xấu.
- Tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương trong xử lý các khó khăn, vướng mắc về pháp lý liên quan đến xử lý nợ xấu và hỗ trợ TCTD, VAMC trong việc hoàn thiện hồ sơ pháp lý, thu hồi nợ và xử lý tài sản bảo đảm. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã giao: Các Bộ, Ngành nghiên cứu, rà soát và chủ động xử lý những khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền của Chính phủ và các Bộ, Ngành hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trong quý I/2015; Thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ báo cáo Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo các khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền của Chính phủ; Giao Thống đốc NHNN làm việc, báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của VAMC và hoạt động xử lý nợ xấu để đẩy nhanh tiến độ xử lý; Giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thị trường mua bán nợ.
- Yêu cầu các TCTD thực hiện đúng quy định của pháp luật về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro; xây dựng kế hoạch, biện pháp xử lý nợ xấu trong năm 2015, đảm bảo cuối năm 2015 đưa nợ xấu về mức dưới 3%, trong đó, phải đảm bảo đến ngày 30/6/2015 xử lý được tối thiểu 60% tổng số nợ xấu phải xử lý trong năm 2015.
- Kiên quyết xử lý những TCTD có nợ xấu lớn không tích cực xử lý nợ xấu, TCTD không thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ theo quy định của pháp luật, trong đó có biện pháp hạn chế phân phối lợi nhuận.
Với kết quả xử lý nợ xấu trong thời gian qua, sự quan tâm, quyết tâm của toàn hệ thống chính trị hiện nay cũng như sự quyết liệt trong triển khai thực hiện của hệ thống ngân hàng, NHNN tin tưởng rằng, đến cuối năm 2015 nợ xấu sẽ được đưa về mức an toàn như mục tiêu đề ra.
1.2. Về kiểm tra, giám sát, xác định trách nhiệm cụ thể cho cá nhân, tổ chức nếu có sai phạm:
Nợ xấu, nợ quá hạn của TCTD phát sinh do các nguyên nhân khách quan và chủ quan của TCTD hoặc khách hàng vay vốn. Nếu nợ xấu phát sinh từ nguyên nhân khách quan ngoài tầm kiểm soát của TCTD và khách hàng được pháp luật quy định xử lý bằng các biện pháp, như: sử dụng dự phòng rủi ro, cơ cấu lại nợ, xử lý tài sản đảm bảo... Những khoản nợ xấu do các nguyên nhân chủ quan của TCTD hoặc khách hàng gây ra sẽ được xác định trách nhiệm rõ ràng để xử lý. NHNN đã chỉ đạo các TCTD phối hợp chặt chẽ với cơ quan có thẩm quyền trong việc điều tra, xem xét để xử lý nghiêm những trường hợp lừa đảo, vi phạm pháp luật của khách hàng theo đúng quy định của pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật sẽ được áp dụng các biện pháp xử lý về hành chính, kinh tế, dân sự và hình sự với nguyên tắc phải bảo đảm thu hồi tối đa tài sản cho TCTD, Nhà nước và nhân dân. Qua công tác thanh tra, NHNN đã phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật nhiều trường hợp vi phạm pháp luật dẫn đến nợ xấu.
Để hạn chế những sai phạm trong hoạt động tín dụng ngân hàng nói chung và xử lý nợ xấu, nợ quá hạn nói riêng, NHNN đã thường xuyên hoàn thiện các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động tín dụng của TCTD; chỉ đạo các TCTD tăng cường công tác kiểm toán, kiểm soát nội bộ, áp dụng nhiều biện pháp tích cực để ngăn ngừa, phát hiện các vi phạm pháp luật; tăng cường công tác thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi sai phạm; chủ động phối hợp chặt chẽ với các Cơ quan pháp luật trong việc chuyển giao hồ sơ, vụ việc có dấu hiệu vi phạm để kịp thời ngăn chặn và xử lý; tích cực phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu cho các cơ quan chức năng khi có đề nghị,...
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín dụng của các TCTD để hạn chế, phát hiện và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật dẫn đến nợ xấu, nợ quá hạn.
2. Vấn đề nợ xấu, cử tri cho rằng các biện pháp chế tài chưa đủ sức răn đe, đề nghị làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm có hay không có tiêu cực của cán bộ tín dụng trong vấn đề này. (Cử tri tỉnh Tây Ninh)
Nợ xấu của hệ thống ngân hàng hiện nay phần lớn được tích tụ từ những năm trước đây, khi kinh tế thế giới bước vào giai đoạn khủng hoảng, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, nợ xấu của hệ thống TCTD phát sinh do một số nguyên nhân chủ quan của TCTD và khách hàng, như:
- Năng lực quản trị của các TCTD còn nhiều bất cập so với quy mô, tốc độ tăng trưởng tín dụng và mức độ rủi ro. Năng lực đánh giá, thẩm định, quản lý tín dụng và giám sát sử dụng vốn vay của các TCTD còn nhiều yếu kém dẫn đến sơ hở trong quản lý, điều hành, chưa phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời, chậm hoặc không phát hiện được các hành vi vi phạm trong hoạt động tín dụng. Một bộ phận không nhỏ vốn tín dụng và nhiều TCTD tập trung đầu tư vào các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro như bất động sản, nên khi giá bất động sản giảm sâu kéo theo nợ xấu của các TCTD tăng nhanh.
- Vi phạm quy định pháp luật về hoạt động cấp tín dụng và an toàn hoạt động ngân hàng trong thời gian trước đây dẫn đến nợ xấu lớn ở nhiều TCTD, như: (i) Vi phạm giới hạn cho vay một khách hàng và người có liên quan, dẫn đến nhiều cổ đông lớn và người có liên quan không trả được nợ cho ngân hàng; (ii) Nhiều đơn vị ngân hàng đã nới lỏng tín dụng, bỏ qua một số trình tự, thủ tục, quy định để cho vay; cho vay không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đảm bảo không đủ thủ tục pháp lý; thông tin thẩm định không chính xác dẫn đến việc thẩm định và đề xuất cấp tín dụng vượt khả năng trả nợ của khách hàng...
Đối với những khoản nợ xấu phát sinh từ nguyên nhân khách quan ngoài tầm kiểm soát của TCTD và khách hàng được pháp luật quy định xử lý bằng các biện pháp, như: sử dụng dự phòng rủi ro, cơ cấu lại nợ, xử lý tài sản đảm bảo... Những khoản nợ xấu do các nguyên nhân chủ quan của TCTD hoặc khách hàng gây ra sẽ được xác định trách nhiệm rõ ràng để xử lý. NHNN đã chỉ đạo các TCTD phối hợp chặt chẽ với cơ quan có thẩm quyền trong việc điều tra, xem xét để xử lý nghiêm những trường hợp lừa đảo, vi phạm pháp luật của khách hàng theo đúng quy định của pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật sẽ được áp dụng các biện pháp xử lý về hành chính, kinh tế, dân sự và hình sự với nguyên tắc phải bảo đảm thu hồi tối đa tài sản cho TCTD, Nhà nước và nhân dân. Thực tế, qua công tác thanh tra, NHNN đã phát hiện và xử lý nghiêm nhiều trường hợp vi phạm hoặc chuyển hồ sơ, tài liệu sang cơ quan điều tra Bộ Công an để xử lý theo quy định của pháp luật.
Để hạn chế những sai phạm trong hoạt động tín dụng ngân hàng nói chung và xử lý nợ xấu nói riêng, NHNN đã thường xuyên hoàn thiện các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động tín dụng của TCTD; chỉ đạo các TCTD tăng cường công tác kiểm toán, kiểm soát nội bộ, áp dụng nhiều biện pháp tích cực để ngăn ngừa, phát hiện các vi phạm pháp luật; tăng cường công tác thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi sai phạm; chủ động phối hợp chặt chẽ với các Cơ quan pháp luật trong việc chuyển giao hồ sơ, vụ việc có dấu hiệu vi phạm để kịp thời ngăn chặn và xử lý; tích cực phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu cho các cơ quan chức năng khi có đề nghị,...
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín dụng của các TCTD để hạn chế, phát hiện và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật dẫn đến nợ xấu, nợ quá hạn.
3. Đề nghị đánh giá tình trạng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng nước ta hiện nay (Cử tri tỉnh Long An)
Nợ xấu của hệ thống ngân hàng hiện nay phần lớn được tích tụ từ những năm trước đây, khi kinh tế thế giới bước vào giai đoạn khủng hoảng, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn. Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD) tại Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 31/5/2013, đưa ra các nhóm giải pháp lớn nhằm từng bước kiềm chế, xử lý và đưa nợ xấu về ngưỡng an toàn. Bám sát lộ trình, mục tiêu, giải pháp nêu tại Đề án, toàn ngành Ngân hàng đã tích cực, chủ động triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu. Đến nay, trong bối cảnh nền kinh tế còn trì trệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, song nợ xấu đã từng bước được kiềm chế và xử lý một cách hiệu quả.
Có thể nói, thời gian qua, trong phạm vi trách nhiệm và khả năng của ngành ngân hàng, NHNN và các TCTD đã rất nỗ lực và quyết tâm, chủ động thực hiện các biện pháp xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng như ban hành cơ chế, chính sách về xử lý nợ xấu, an toàn hoạt động tín dụng, xử lý nợ xấu bằng dự phòng rủi ro, phát mại tài sản, bán nợ... Theo báo cáo của các TCTD đến cuối năm 2014, tỷ lệ nợ xấu của các TCTD là 3,25%, giảm dần so với mức 4,17% vào tháng 6/2014. Kết quả xử lý nợ xấu đạt được đến nay ghi nhận sự cố gắng của hệ thống các TCTD, nhất là trong điều kiện không có sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước, cơ chế, chính sách còn nhiều hạn chế, bất cập và nền kinh tế còn nhiều khó khăn.
Từ kết quả xử lý nợ xấu đạt được cùng với việc tiếp tục quyết liệt triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng và sự phối hợp đồng bộ, tích cực của các Bộ ngành, địa phương, NHNN tin tưởng rằng nợ xấu sẽ được đưa về mức dưới 3% vào cuối năm 2015 như mục tiêu đã đề ra tại Nghị quyết số 77/2014/QH13 ngày 10/11/2014 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2015.
4. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo Công ty Quản lý tài sản (VAMC) tích cực thực hiện bán nợ song song với việc mua nợ xấu của các TCTD trong thời gian tới. (Cử tri tỉnh Ninh Thuận)
Theo quy định tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC (Nghị định 53) và Thông tư số 19/2013/TT-NHNN của NHNN về mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC, VAMC được thành lập với mục tiêu: (i) Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD bằng cơ chế phân bổ dần chi phí trích lập dự phòng rủi ro giúp các TCTD cân đối năng lực tài chính xử lý các tổn thất về nợ xấu; (ii) Hỗ trợ khách hàng vay thông qua việc cơ cấu lại khoản nợ, hỗ trợ tài chính cho khách hàng vay, chuyển nợ thành vốn góp,... (iii) Với một số quyền hạn đặc thù, VAMC sẽ phối hợp các cơ quan liên quan trong việc đẩy nhanh tiến độ bán, xử lý nợ và tài sản bảo đảm. Sau khi bán nợ xấu cho VAMC, trên bảng cân đối kế toán của TCTD bán nợ, khoản nợ xấu bán cho VAMC được thay thế bằng các trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành. Đây là một trong các giải pháp chủ yếu trong tổng thể nhiều giải pháp xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD trong điều kiện sử dụng nội lực của hệ thống TCTD là chính, không dùng tiền từ ngân sách nhà nước.
Từ khi thành lập đến nay, VAMC đã thực hiện mua 133.555 tỷ đồng nợ xấu, giá mua 108.652 tỷ đồng; đã bán 69 khoản nợ của 11 khách hàng với tổng giá trị nợ gốc là 2.085 tỷ đồng, giá bán nợ là 1.789 tỷ đồng; bán tài sản bảo đảm của 12 khách hàng với giá bán 501 tỷ đồng. Kết quả này đã bước đầu đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, tạo nền tảng đẩy nhanh việc xử lý nợ xấu trong thời gian tới, tạo niềm tin về tính khả thi của công cụ xử lý nợ xấu rất đặc thù này.
Tuy nhiên, việc xử lý nợ xấu VAMC đã mua còn gặp nhiều khó khăn do: (i) thị trường bất động sản phục hồi chậm; (ii) khuôn khổ pháp lý về mua bán, xử lý tài sản bảo đảm còn nhiều bất cập; (iii) thiếu các cơ chế, chính sách khuyến khích các nhà đầu tư mua nợ, tài sản bảo đảm; (iv) thị trường tài chính, thị trường mua bán nợ chưa phát triển.
Để tạo điều kiện cho VAMC xử lý nhanh hơn nợ xấu đã mua, NHNN đã tổng hợp, báo cáo và đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan thực hiện một số giải pháp hỗ trợ cho hoạt động của VAMC, như: (i) Tăng cường năng lực tài chính cho VAMC; (ii) Tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về pháp lý liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm, tạo cơ chế khuyến khích cho nhà đầu tư mua nợ xấu, tài sản bảo đảm; (iii) phát triển thị trường bất động sản và thị trường mua bán nợ. Cuối tháng 10/2014, NHNN đã trình Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013, trong đó bổ sung quy định về việc bán nợ cho tổ chức, cá nhân là người không cư trú nhằm hỗ trợ cho việc bán nợ của VAMC cho tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Tiếp thu kiến nghị của Đoàn ĐBQH, NHNN sẽ tiếp tục tăng cường chỉ đạo, giám sát chặt chẽ hoạt động của VAMC, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến hoạt động của VAMC và thị trường mua bán nợ để VAMC có điều kiện đẩy mạnh việc bán nợ và thực sự là công cụ hữu hiệu trong việc xử lý nợ xấu.
5. Quan tâm, giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động của các TCTD, chú trọng về nợ xấu và công tác xử lý nợ xấu. (Cử tri TP.Hồ Chí Minh)
Công tác quản lý, thanh tra, giám sát hoạt động của các TCTD là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của NHNN. Kể từ năm 2012, hoạt động quản lý, thanh tra, giám sát các TCTD được đổi mới và tăng cường mạnh mẽ, kết hợp thanh tra, đánh giá mức độ rủi ro với thanh tra chấp hành pháp luật, thanh tra pháp nhân với thanh tra chuyên đề có trọng tâm, trọng điểm, trong đó vấn đề xử lý nợ xấu luôn là một trong các nội dung trọng tâm của hoạt động thanh tra, giám sát. Qua đó, thực trạng hoạt động và nợ xấu của các TCTD đã được xác định tương đối rõ ràng, làm cơ sở để ngành Ngân hàng triển khai các giải pháp tái cơ cấu, xử lý nợ xấu phù hợp với thực trạng của từng TCTD và toàn hệ thống các TCTD.
Để đảm bảo hoàn thành mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn (dưới 3%) vào cuối năm 2015, ngay từ đầu năm NHNN đã ban hành Chỉ thị 02/CT-NHNN ngày 27/01/2015 về tăng cường xử lý nợ xấu của TCTD và nhiều văn bản chỉ đạo liên quan đến xử lý nợ xấu, trong đó yêu cầu các đơn vị thuộc NHNN, các TCTD, Công ty VAMC triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm xử lý nhanh, hiệu quả nợ xấu.
Tiếp thu ý kiến của cử tri, trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác quản lý, thanh tra, giám sát các TCTD, trong đó đặc biệt chú trọng đến vấn đề nợ xấu và xử lý nợ xấu để phấn đấu hoàn thành mục tiêu xử lý nợ xấu đã đề ra tại Nghị quyết số 77/2014/QH13 ngày 10/11/2014 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2015.
6. Đề nghị thực hiện tốt việc tái cấu trúc các TCTD và hệ thống các ngân hàng thương mại theo hướng tập trung quy mô, hoạt động theo chức năng chuyên ngành. (cử tri TP.Hồ Chí Minh)
Một trong các mục tiêu của Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 – 2015” là: Phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình có khả năng cạnh tranh lớn hơn và dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về dịch vụ tài chính, ngân hàng của nền kinh tế, phấn đấu đến cuối năm 2015 hình thành được ít nhất 1- 2 ngân hàng thương mại có quy mô và trình độ tương đương với các ngân hàng trong khu vực.
Thực hiện mục tiêu này, từ cuối năm 2011 đến nay, Chính phủ và NHNN đã khuyến khích việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD theo nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ kinh tế của các bên có liên quan theo quy định của pháp luật.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sáp nhập, hợp nhất, mua lại là giải pháp phổ biến, hiệu quả để xử lý các TCTD yếu kém. Giải pháp này có nhiều lợi thế so với các biện pháp khác, đặc biệt là biện pháp can thiệp của Nhà nước do không làm gián đoạn hoạt động của các TCTD, bảo toàn được quyền và lợi ích của cổ đông, khách hàng, tiết kiệm chi phí, thời gian, nguồn nhân lực. Đây là chiến lược phát triển bình thường của mỗi định chế tài chính và toàn hệ thống nói chung nhằm hình thành những định chế hoặc những tổ hợp tài chính lớn mạnh hơn thông qua việc tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh nhằm gia tăng thị phần hoạt động.
Thực tế, thời gian qua các hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại tại Việt Nam đã diễn ra mạnh mẽ, an toàn không chỉ giữa TCTD yếu kém với TCTD bình thường mà còn diễn ra giữa các TCTD bình thường với nhau hoặc giữa TCTD trong nước với TCTD nước ngoài trên nguyên tắc tự nguyện và đúng pháp luật. Nhờ đó, số lượng các TCTD đã giảm dần1, đặc biệt là các TCTD yếu kém. Các NHTM sau khi tham gia sáp nhập, hợp nhất đều có sự tăng trưởng đáng kể về nguồn vốn và tài sản; thanh khoản được cải thiện, bộ máy quản trị, điều hành được đổi mới và tăng cường.
Thực hiện lộ trình cơ cấu lại hệ thống TCTD giai đoạn 2011 – 2015, trong năm 2015, NHNN dự kiến sẽ phê duyệt và chỉ đạo các TCTD hoàn thành kế hoạch hợp nhất, sáp nhập khoảng 6-8 TCTD với sự tham gia tích cực của các NHTM có vốn của Nhà nước và một số ngân hàng thương mại cổ phần lớn. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc tổ chức thực hiện phương án hợp nhất, sáp nhập của từng TCTD để đảm bảo các tổ chức sau hợp nhất, sáp nhập hoạt động an toàn, ổn định hơn.
Với xu hướng ngày càng nhiều TCTD tự nguyện sáp nhập, hợp nhất với nhau, các TCTD sẽ được tái cấu trúc theo hướng tập trung tăng quy mô, năng lực cạnh tranh, góp phần hoàn thành mục tiêu của Đề án cơ cấu lại thống các TCTD nói riêng và tái cấu trúc nên kinh tế của cả nước nói chung.
II. Vấn đề hành lang pháp lý liên quan đến hoạt động của TCTD:
1. Đề nghị tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý ở lĩnh vực hoạt động ngân hàng, đảm bảo tính công khai, minh bạch nhằm tạo cho các ngân hàng thương mại được bình đẳng trong cạnh tranh và bảo đảm an toàn hệ thống; áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn đối với hoạt động tiền tệ, ngân hàng, nhằm hình thành môi trường lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng. (Cử tri tỉnh Trà Vinh)
Xác định hoàn thiện thể chế về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thời gian qua, cùng với sự phát triển vượt bậc về quy mô, đa dạng về hoạt động nghiệp vụ của hệ thống các tổ chức tín dụng, NHNN đã không ngừng phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tham mưu cho Quốc hội, Chính phủ và chủ động củng cố, hoàn thiện, đổi mới toàn diện hành lang pháp lý, từng bước áp dụng chuẩn mực quốc tế nhằm tạo môi trường hoạt động bình đẳng, lành mạnh, an toàn và ổn định cho toàn hệ thống. Trong đó, năm 2010, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã trình Quốc hội ban hành mới Luật NHNN và Luật các TCTD (thay thế Luật NHNN và Luật các TCTD năm 1997 và sửa đổi năm 2004), tạo khung pháp lý tương đối đồng bộ cho hoạt động an toàn và hiệu quả của các TCTD.
Trên cơ sở hai Luật ngân hàng, NHNN đã chủ động ban hành và trình các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn nhằm đưa các quy định của hai Luật vào cuộc sống.
Tính đến nay, khung khổ pháp lý về các chuẩn mực an toàn, lành mạnh, minh bạch của hệ thống các TCTD đã được cải thiện mạnh mẽ, tiến gần hơn các thông lệ, chuẩn mực ngân hàng quốc tế, tạo nền tảng cho các TCTD hoạt động an toàn hơn và thúc đẩy cơ cấu lại theo các mục tiêu, định hướng đề ra, tập trung vào một số lĩnh vực trọng yếu sau: (i) Quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của TCTD; (ii) Quy định về giới hạn, tỷ lệ an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; (iii) Quy định về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tại TCTD Việt Nam; (iv) Tăng cường khuôn khổ pháp lý về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra, giám sát ngành ngân hàng; (v) Các quy định pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Trong đó, Thông tư số 36/2014/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được NHNN ban hành vào ngày 20/11/2014 đã tạo lập chuẩn mực mới cao hơn về an toàn và quản lý rủi ro, thanh tra, giám sát, tiếp cận sát hơn với thông lệ quốc tế về quản trị ngân hàng và quản lý, giám sát ngân hàng.
Song song với việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng, NHNN cũng đang từng bước triển khai áp dụng chuẩn mực an toàn vốn theo Basel II trong hệ thống các TCTD với mục tiêu là đến hết năm 2015 có ít nhất 10 ngân hàng thương mại trong nước triển khai áp dụng Chuẩn mực vốn Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn và đến trước năm 2019, các ngân hàng này sẽ thực hiện theo phương pháp nâng cao.
Có thể khẳng định, bằng sự nỗ lực và quyết tâm của NHNN, trên cơ sở bám sát thực tiễn, đến nay, hệ thống văn bản cho hoạt động ngân hàng về cơ bản đã được ban hành, sửa đổi, hoàn thiện, tạo cơ sở và môi trường hoạt động an toàn, hiệu quả, bình đẳng cho các TCTD, giúp các TCTD đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng và phục vụ tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của NHNN trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng và phát triển hệ thống ngân hàng theo hướng ổn định, bền vững đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Trong năm 2015 và các năm tiếp theo, NHNN tiếp tục xác định việc hoàn thiện thể chế là nhiệm vụ trọng tâm với một số giải pháp chủ yếu cần triển khai, như: (i) Rà soát, phát hiện bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật về ngân hàng hiện hành, các quy định khác của pháp luật liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng để xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật; (ii) Thực hiện tốt công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, theo dõi thi hành pháp luật để phát hiện và xử lý kịp thời các bất cập, lỗ hổng của pháp luật về ngân hàng.
2. Cử tri phản ánh tình trạng thành lập quá nhiều ngân hàng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ gây khó khăn trong công tác quản lý trong khi có nhiều ngân hàng yếu kém vẫn tồn tại. Đề nghị NHNN thanh tra, kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các ngân hàng; tiếp tục chỉ đạo thực hiện tái cơ cấu ngành ngân hàng, tạo điều kiện để thực hiện sáp nhập các ngân hàng yếu kém với các ngân hàng lớn để giảm thiểu rủi ro, tái cơ cấu lại doanh nghiệp. (Cử tri TP.Hải Phòng)
Kể từ khi Việt Nam đẩy mạnh mở cửa và hội nhập quốc tế, nền kinh tế và hệ thống tài chính toàn cầu diễn biến hết sức phức tạp, tác động lớn đến kinh tế và hệ thống tài chính trong nước. Tuy hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam vẫn giữ được sự ổn định, an toàn, nhưng cùng với sự phát triển nhanh về quy mô, hoạt động của các TCTD cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro; Chất lượng, hiệu quả hoạt động của một bộ phận TCTD chậm được cải thiện, nhiều yếu kém không được xử lý kịp thời, triệt để, gây ảnh hưởng nhất định đến ổn định kinh tế vĩ mô, hệ thống tài chính và sự phát triển của nền kinh tế. Nhận thức rõ vấn đề này, từ năm 2008 đến nay, NHNN không cấp phép thành lập mới NHTM cổ phần, đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch để tập trung tái cơ cấu, chấn chỉnh, củng cố những tồn tại, yếu kém của hệ thống TCTD.
Để hỗ trợ đắc lực cho quá trình tái cơ cấu hệ thống các TCTD, NHNN đặc biệt quan tâm đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng, như: Thực hiện thanh tra, giám sát pháp nhân, kết hợp giữa thanh tra, giám sát tuân thủ với thanh tra, giám sát rủi ro; nội dung thanh tra, giám sát tập trung phát hiện những sai phạm, rủi ro trọng yếu, làm rõ được thực trạng tình hình hoạt động của hệ thống TCTD...
Thực hiện chủ trương tái cơ cấu hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 đã được phê duyệt tại quyết định số 254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở kết quả thanh tra, giám sát, từ cuối năm 2011, NHNN đã xác định được một số NHTM cổ phần yếu kém có nguy cơ đổ vỡ cần cơ cấu lại và chỉ đạo triển khai quyết liệt việc cơ cấu lại các ngân hàng này thông qua các hình thức hợp nhất, sáp nhập vào các ngân hàng lớn hoặc tự cơ cấu lại. Quá trình cơ cấu lại các ngân hàng này được NHNN phối hợp với các Bộ, ngành, chính quyền địa phương giám sát toàn diện, chặt chẽ và hỗ trợ kịp thời, đảm bảo khả năng chi trả, nâng cao sự an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD, đồng thời, bảo vệ tài sản của nhà nước và nhân dân tại các ngân hàng này. Đến nay, về cơ bản các ngân hàng yếu kém được cơ cấu lại đều có tình hình hoạt động ổn định và cải thiện hơn so với thời điểm bắt đầu thực hiện cơ cấu lại; Các tỷ lệ an toàn hoạt động, khả năng chi trả được cải thiện về cơ bản đảm bảo theo quy định của NHNN; huy động vốn từ dân cư tiếp tục tăng khá, nợ xấu đã tích cực được xử lý và thu hồi; hệ thống quản trị và tổ chức bộ máy, mạng lưới đã được củng cố, chấn chỉnh một bước quan trọng,...
Ngoài các ngân hàng yếu kém được xác định và xử lý từ cuối năm 2011, NHNN cũng đã xác định thêm được một số NHTMCP yếu kém cần phải cơ cấu lại trong thời gian tới. Hiện nay, NHNN đang áp dụng các biện pháp giám sát chặt chẽ và chỉ đạo xây dựng phương án cơ cấu lại các ngân hàng này theo hướng sáp nhập vào các ngân hàng lớn. Bên cạnh đó, NHNN cũng tích cực chỉ đạo triển khai các giải pháp đẩy mạnh hoạt động mua, bán, hợp nhất, sáp nhập giữa các TCTD để vừa xử lý dứt điểm TCTD yếu kém, vừa nâng cao quy mô, năng lực cạnh tranh của các TCTD.
Tính từ cuối năm 2011 đến nay, đã có 03 NHTMCP hợp nhất với nhau, 3 ngân hàng sáp nhập vào các ngân hàng khác; NHNN cũng đã phê duyệt chủ trương sáp nhập thêm 2 ngân hàng vào 2 ngân hàng khác. Qua đó, số lượng các TCTD giảm đi là 7 tổ chức (05 NHTM cổ phần và 02 TCTD phi ngân hàng) thông qua sáp nhập, hợp nhất, giải thể.
Tiếp thu ý kiến, kiến nghị của cử tri, trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, giám sát ngân hàng và phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành và chính quyền địa phương chỉ đạo, kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện phương án cơ cấu lại của các ngân hàng yếu kém nói riêng và quá trình cơ cấu lại của các TCTD nói chung theo đúng nội dung và lộ trình của Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 đã được phê duyệt để khắc phục những bất cập, biểu hiện tiêu cực và lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, góp phần phục vụ tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
3. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan sớm ban hành văn bản liên bộ về kiểm soát sở hữu chéo để tạo điều kiện cho NHNN thuận lợi hơn trong quản lý. (Cử tri tỉnh Ninh Thuận)
Nhận thức rõ vấn đề sở hữu chéo giữa các ngân hàng làm gia tăng rủi ro hệ thống, tạo điều kiện cho các hành vi chuyển vốn lòng vòng, tăng vốn điều lệ không thực chất của các ngân hàng, ngày 20/11/2014, NHNN đã ban hành Thông tư số 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thay thế Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của NHNN, trong đó đưa ra các quy định nhằm hạn chế tình trạng sở hữu chéo, đầu tư chéo, cụ thể:
+ Về vấn đề quản trị rủi ro: TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải lập, cập nhật danh sách cổ đông sáng lập, cổ đông lớn, thành viên góp vốn, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, người điều hành và các chức danh quản lý và những người có liên quan của những người này; danh sách này phải được công khai trong toàn hệ thống của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đồng thời TCTD phải báo cáo Đại hội cổ đông, Đại hội thành viên các khoản cấp tín dụng cho các đối tượng quản lý, tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại TCTD, công ty con, công ty liên kết của TCTD hoặc doanh nghiệp TCTD nắm quyền kiểm soát.
+ Về các điều kiện, giới hạn cấp tín dụng: không cho phép các TCTD góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, TCTD khác là cổ đông, thành viên góp vốn của chính TCTD đó và không cho phép công ty con, công ty liên kết của một TCTD không được góp vốn, mua cổ phần của chính TCTD đó; đồng thời, quy định về giới hạn sở hữu của cổ đông và nhóm cổ đông tại TCTD; không cho phép TCTD cấp tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán mà TCTD nắm quyền kiểm soát. Ngoài ra, Thông tư có quy định mức cấp tín dụng đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan; quy định các điều kiện, giới hạn cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, theo đó tổng mức dư nợ cấp tín dụng của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu không vượt quá 5% vốn điều lệ, vốn được cấp. Thông tư quy định cụ thể về điều kiện để NHTM mua, nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác; quy định về mức góp vốn, mua cổ phần của NHTM, công ty tài chính và các công ty con, công ty liên kết vào lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó và tổng mức góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp kể cả công ty con, công ty liên kết không được vượt quá 40% (đối với NHTM) và 60% (đối với công ty tài chính) vốn điều lệ và quỹ dự trữ của NHTM/công ty tài chính.
Bên cạnh đó, ngày 15/9/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 51/2014/QĐ-TTg về một số nội dung thoái vốn, bán cổ phần và đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán của doanh nghiệp nhà nước, trong đó có quy định về việc các doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện thoái vốn đầu tư tại các TCTD.
Các quy định nêu trên sẽ góp phần hạn chế, xử lý sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng và tạo ra một sân chơi bình đẳng, minh bạch, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của hệ thống các TCTD Việt Nam và tạo điều kiện cho NHNN thuận lợi hơn trong quản lý, giám sát các TCTD trong thời gian tới.
4. Đề nghị Chính phủ sớm có văn bản thay thế Nghị định số 202/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực Ngân hàng. (Cử tri tỉnh Ninh Thuận)
Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng, NHNN đã trình và được Chính phủ ban hành Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 12/12/2014) thay thế Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 và Nghị định số 95/2011/NĐ-CP ngày 20/10/2011 của Chính phủ. Nghị định số 96/2014/NĐ-CP đã khắc phục những bất cập trong Nghị định số 202/2004/NĐ-CP và đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong việc phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm hành chính về tiền tệ và ngân hàng. Nghị định bổ sung thêm nhiều hành vi vi phạm vào diện xử phạt cũng như tăng mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm, trong đó, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng của tổ chức là 2 tỷ đồng và cá nhân là 1 tỷ đồng.
5. Đề nghị tăng cường sử phối hợp đồng bộ trong việc phổ biến các quy định của Thông tư 16/2014/TTLT/BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/06/2014 và Thông tư 01/2014/TTLT/NHNN-BXD-BTP-BTNMT ngày 25/04/2014, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng doanh nghiệp và các TCTD trên địa bàn trong quan hệ tín dụng, trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm nợ vay cũng như thế chấp tài sản hình thành trong tương lai. (Cử tri TP.Hồ Chí Minh)
Để Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT/BTP-BTNMT-NHNN (Thông tư 16) ngày 06/6/2014 và Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT/NHNN-BXD-BTP-BTNMT (Thông tư 01) ngày 25/4/2014 nhanh chóng đi vào cuộc sống, ngay sau khi 02 Thông tư được ban hành, với vai trò là đơn vị đầu mối trong việc triển khai 02 Thông tư, ngày 02/7/2014, Bộ Tư pháp đã có văn bản gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đề nghị chỉ đạo Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước trên địa bàn nghiên cứu, triển khai đầy đủ, nghiêm túc các quy định của Thông tư liên tịch số 01, Thông tư liên tịch số 16, trong đó có nội dung tổ chức tập huấn, tuyên truyền, giới thiệu các quy định tại 02 Thông tư cho đối tượng là các Văn phòng đăng ký đất đai, các tổ chức hành nghề công chứng, các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, các tổ chức tín dụng và các cá nhân, tổ chức khác có liên quan.
Về phía ngành Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tích cực phổ biến các quy định của Thông tư 01, Thông tư 16 thông qua các hình thức: (i) Đăng tải nội dung 02 Thông tư trên Website NHNN nhằm quán triệt, phổ biến rộng rãi đến các đơn vị trong ngành Ngân hàng và các tổ chức tín dụng, đồng thời, thông tin đến các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân; (ii) Phối hợp với Bộ Tư pháp, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam và các bộ, ngành liên quan tổ chức họp triển khai Thông tư 01 và Thông tư 16 tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (ngày 19 và 22/8/2014) nhằm kịp thời hướng dẫn và giải đáp vướng mắc trong quá trình thực hiện.
6. Đề nghị sớm có cơ chế cho các ngân hàng được đơn phương bán tài sản thế chấp khi khách hàng vi phạm hợp đồng. (Cử tri tỉnh Cà Mau)
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 58 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm (đã sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 11/2012/NĐ-CP) “Người xử lý tài sản bảo đảm (sau đây gọi chung là người xử lý tài sản) là bên nhận bảo đảm hoặc người được bên nhận bảo đảm ủy quyền, trừ trường hợp các bên tham gia giao dịch bảo đảm có thỏa thuận khác. Người xử lý tài sản căn cứ nội dung đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm để tiến hành xử lý tài sản bảo đảm mà không cần phải có văn bản ủy quyền xử lý tài sản của bên bảo đảm”.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Thông tư liên tịch 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm (Thông tư liên tịch 16) “Trong trường hợp bên bảo đảm không tự nguyện ký hợp đồng, giấy tờ, tài liệu chứng minh việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thì bên nhận bảo đảm được quyền ký hợp đồng, giấy tờ, tài liệu đó nhưng trong hồ sơ đề nghị chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản phải bổ sung một (01) bản chính hợp đồng bảo đảm đã được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật hoặc một (01) bản sao hợp đồng bảo đảm được Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực, tổ chức hành nghề công chứng cấp từ bản chính hoặc văn bản khác chứng minh có thỏa thuận về việc bên nhận bảo đảm được quyền ký hợp đồng, giấy tờ, tài liệu chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm”.
Theo các quy định nêu trên, người xử lý tài sản bảo đảm được chủ động xử lý tài sản bảo đảm khi khách hàng vi phạm hợp đồng, cụ thể: (i) Người xử lý tài sản căn cứ nội dung đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm để tiến hành xử lý tài sản bảo đảm mà không cần phải có văn bản ủy quyền xử lý tài sản của bên bảo đảm; (ii) Bên nhận bảo đảm được quyền ký hợp đồng, giấy tờ, tài liệu chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp bên bảo đảm không tự nguyện ký hợp đồng, giấy tờ, tài liệu này.
Như vậy, cơ chế cho phép người xử lý tài sản bảo đảm được chủ động xử lý tài sản bảo đảm khi khách hàng vi phạm hợp đồng đã được pháp luật quy định rõ.
7. Đề nghị NHNN nghiên cứu, xem xét và sớm cho khôi phục lại hoạt động của Phòng giao dịch Cảm Nhân thuộc ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. (Cử tri tỉnh Yên Bái)
Tiếp thu ý kiến của cử tri, tháng 10/2014, NHNN đã đồng ý cho phép duy trì hoạt động của Phòng giao dịch Cảm Nhân thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Yên Bình và giao NHNN chi nhánh tỉnh Yên Bái theo dõi, giám sát chặt chẽ hoạt động của Phòng giao dịch, đảm bảo Phòng giao dịch hoạt động an toàn, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
1 Đến nay, thông qua hình thức tự nguyện sáp nhập, hợp nhất hệ thống TCTD đã giảm 07 đơn vị, gồm 05 ngân hàng thương mại và 02 TCTD phi ngân hàng. Bên cạnh đó, NHNN đã thu hồi Giấy phép 04 chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở đề nghị của ngân hàng mẹ.