Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Nguyễn Trọng Trường - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh.
Câu hỏi
1. Năm 2011 và những tháng đầu năm 2012, lãi suất ngân hàng ở mức cao, ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thống đốc đã có nhiều giải pháp để hạ lãi suất đến mức như hiện nay. Xin đề nghị Thống đốc cho biết:
- Giải pháp kiểm soát thực chất lãi suất;
- Giải pháp đột phá mà ngành ngân hàng đã triển khai để tháo dỡ khó khăn cho doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 13/CP.
2. Theo đánh giá của các chuyên gia và báo chí đã nêu: Lượng vàng trong dân còn rất lớn, đây là nguồn lực rất quan trọng của đất nước không thể bỏ qua. Đề nghị Thống đốc cho biết:
- Có giải pháp gì để huy động lượng vàng rất lớn trong dân để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội?
- Theo quy định của NHNN, từ ngày 25/11/2012 không cho phép ngân hàng thương mại huy động tín dụng bằng vàng miếng của dân. Vậy sau thời gian trên, người dân sở hữu vàng có thể làm gì với số vàng của mình?
- Thống đốc cho biết chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và quốc tế trong thời gian qua do nguyên nhân nào? Trách nhiệm và giải pháp khắc phục của Thống đốc như thế nào?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Nguyễn Trọng Trường như sau:
1. Về vấn đề giảm lãi suất và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp:
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường, kể từ tháng 3/2012, Ngân hàng Nhà nước đã liên tục điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành của NHNN và trần lãi suất huy động VND của các TCTD phù hợp với diễn biến chỉ số giá tiêu dùng và cung cầu vốn trên thị trường1 nhằm tạo điều kiện cho các TCTD giảm dần lãi suất cho vay.
Đồng thời, NHNN cũng chỉ đạo các TCTD tiết kiệm chi phí kinh doanh để giảm lãi suất cho vay và chủ động rà soát, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng với lãi suất hợp lý xem xét, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng đã ký trước đây xuống mức lãi suất cho vay hiện hành. Riêng đối với 4 lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ), NHNN đã quy định lãi suất cho vay tối đa VND kể từ tháng 5/2012 và từng bước điều chỉnh giảm phù hợp với mức giảm lãi suất huy động VND2.
Để thực hiện quyết liệt hơn chủ trương giảm mặt bằng lãi suất cho vay, tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng 6 tháng cuối năm 2012, Thống đốc NHNN đã đề nghị các TCTD điều chỉnh giảm lãi suất đối với các khoản vay cũ xuống mức tối đa là 15%/năm kể từ ngày 15/7/2012.
Thực hiện chỉ đạo của NHNN, các tổ chức tín dụng đã và đang tích cực triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn, mở rộng thêm nhiều loại hình tín dụng và triển khai nhiều chương trình cho vay lãi suất thấp đối với các lĩnh vực ưu tiên; áp dụng lãi suất hợp lý đối với những khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, phương án kinh doanh khả thi.
Nhờ đó, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm mạnh so với cuối năm 2011 với mức giảm từ 3-8%/năm; trong đó, lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 9-13%/năm (một số ngân hàng áp dụng lãi suất dưới 9%/năm đối với các khách hàng vay vốn xuất khẩu kèm theo cam kết bán ngoại tệ cho ngân hàng), đối với lĩnh vực kinh doanh khác và tiêu dùng phổ biến ở mức 13-14%, các khoản vay thuộc lĩnh vực không ưu tiên phổ biến ở mức 15%/năm. Tính đến ngày 15/11/2012, tỷ trọng dư nợ cho vay với lãi suất trên 15%/năm trong tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng đã giảm từ mức 65% (trước ngày 15/7/2012) xuống còn 19,5%; trong đó, ở nhóm 5 NHTM nhà nước tỷ trọng này giảm từ 61% xuống 4,5%.
Bên cạnh đó, NHNN đã phối hợp với tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức Hội nghị kết nối ngân hàng và doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quan hệ tín dụng giữa TCTD và doanh nghiệp trên địa bàn; Chủ động phối hợp, làm việc trực tiếp với một số Bộ, ngành (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng...) nhằm nắm bắt khó khăn, vướng mắc và đề xuất các giải pháp tháo gỡ, hỗ trợ cụ thể, phù hợp đối với từng lĩnh vực, đặc biệt là xử lý vấn đề hàng tồn kho để có cơ sở mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp; Đề nghị Bộ Tài chính triển khai có hiệu quả các giải pháp phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp để tạo thêm kênh hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp bên cạnh nguồn vốn tín dụng ngân hàng; hoàn thiện phương thức và thúc đẩy hiệu quả hoạt động của Quỹ bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa (qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam), cùng với các tổ chức tín dụng tạo kênh cung ứng vốn có hiệu quả cho doanh nghiệp nhỏ và vừa...
2. Về vấn đề huy động vàng trong dân và chênh lệch giá vàng:
- Về giải pháp huy động vàng trong dân phục vụ phát triển kinh tế, xã hội:
Từ năm 2000, thực hiện chủ trương khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong dân để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển, NHNN đã ban hành Quyết định 432/2000/QĐ-NHNN cho phép các TCTD được huy động và cho vay vốn bằng vàng. Tuy nhiên kể từ năm 2008, khi giá vàng thế giới biến động tăng mạnh, hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng tạo ra rủi ro lớn cho các TCTD và người vay vốn bằng vàng. Bản thân các TCTD trong thời gian gần đây cũng nhận thấy rõ rủi ro từ hoạt động này; nhiều TCTD đã phải tập trung mua vàng để chi trả cho người gửi khi giá vàng thế giới tăng cao.
Để thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc xóa bỏ tình trạng ”đôla hóa, vàng hóa” trong nền kinh tế, tiến tới chuyển hóa quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua, bán vàng, kể từ năm 2011 đến nay, NHNN đã ban hành các văn bản chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng (Thông tư 11/2011/TT-NHNN và Thông tư 12/2012/TT-NHNN cho phép TCTD phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng đến ngày 25/11/2012). Đây là biện pháp cần thiết để phòng tránh rủi ro cho TCTD cũng như cho người vay vốn bằng vàng. Đồng thời, theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước còn chế độ quản lý ngoại hối như Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay đều không có quy định cho phép thực hiện hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng.
Sau khi chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng, thị trường vàng chỉ còn quan hệ mua, bán vàng, từ đó giảm nhu cầu cất trữ vàng và giảm tâm lý nắm giữ vàng trong dân, là cơ sở để Nhà nước huy động nguồn lực vàng vào phát triển kinh tế đất nước.
Để tận dụng nguồn lực vàng trong nền kinh tế, dự kiến NHNN sẽ tham gia thị trường với vai trò là người mua bán cuối cùng trên thị trường vàng miếng với các tổ chức được phép kinh doanh vàng miếng nhằm đảm bảo sự lưu thông của thị trường và tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước bằng vàng, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Do đó, đây là kênh chính để huy động nguồn lực vàng trong nền kinh tế nhằm mục tiêu chuyển hóa nguồn lực vàng, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Đồng thời, cùng với việc áp dụng các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định, tăng vị thế của đồng Việt Nam, chính sách của Nhà nước về việc xóa bỏ ”vàng hóa, đôla hóa” trong nền kinh tế sẽ đạt được mục tiêu đề ra.
- Về quyền của người dân sở hữu vàng sau ngày 25/11/2012:
Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 quy định: (i) quyền sở hữu vàng hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; (ii) quyền mua bán vàng miếng của người dân tại các TCTD, doanh nghiệp được Nhà nước cấp phép.
Sau ngày 25/11/2012, các TCTD chấm dứt việc phát hành chứng chỉ huy động vàng ngắn hạn, người dân sở hữu vàng có thể: (i) Nắm giữ, tích trữ số vàng hợp pháp của mình; quyền sở hữu vàng hợp pháp của người dân được pháp luật bảo vệ; (ii) Sử dụng dịch vụ giữ hộ vàng tại các TCTD để đảm bảo an toàn tài sản hoặc (iii) Bán vàng cho các TCTD và doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Để đảm bảo các quyền hợp pháp của người dân đối với vàng miếng như mua bán, nắm giữ và việc mua, bán vàng miếng được diễn ra trên thị trường có tổ chức, NHNN đang khẩn trương tổ chức lại mạng lưới mua, bán vàng miếng thông qua việc cấp phép cho các doanh nghiệp và TCTD đáp ứng đủ các điều kiện thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng trên thị trường theo quy định tại Nghị định 24 và Thông tư 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012.
- Về chênh lệch giá vàng trong nước so với giá vàng thế giới và trách nhiệm của NHNN:
Hiện nay, giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới là do hai nguyên nhân sau: (i) Các TCTD có huy động và cho vay vốn bằng vàng gia tăng mua vàng để giảm số dư huy động vàng đã sử dụng và (ii) NHNN không cấp phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng. Mặc dù vẫn còn chênh lệch cao giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới nhưng do NHNN đã triển khai thực hiện các biện pháp quản lý thị trường vàng theo Nghị định 24 nên không có hiện tượng thu gom ngoại tệ để nhập lậu vàng, do đó không gây bất ổn tới tỷ giá, thị trường ngoại tệ và kinh tế vĩ mô.
Mặt khác, với việc giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới, có thể khẳng định người nắm giữ vàng, bán vàng thời gian qua là có lợi. Trong khi đó, TCTD trước đây đã hưởng lợi từ việc sử dụng vàng huy động và đã hạch toán lãi vào các năm trước, đến nay phải chấp nhận chi phí khi mua lại vàng trên thị trường để chi trả.
Tuy nhiên, NHNN cũng nhận thấy thực trạng chênh lệch giá vàng nêu trên có phần do hạn chế của cơ quan quản lý ở 2 khía cạnh: Một là, NHNN chưa thực hiện tốt công tác truyền thông về định hướng, chính sách quản lý thị trường vàng. Hai là, do bất cập của chính sách cho phép các TCTD huy động và cho vay vốn bằng vàng, đặc biệt trong bối cảnh giá vàng biến động mạnh trong thời gian gần đây.
Để khắc phục các hạn chế trên, trong thời gian vừa qua, NHNN đã tích cực tuyên truyền, giải thích các chính sách của Nhà nước về quản lý hoạt động kinh doanh vàng để người dân hiểu rõ hơn, tạo sự đồng thuận với chính sách của Nhà nước. Đồng thời, như đã đề cập ở phần trên, để thực hiện chủ trương xóa bỏ tình trạng “đôla hóa, vàng hóa” trong nền kinh tế, tiến tới chuyển hóa quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua, bán vàng, kể từ năm 2011 đến nay, NHNN đã ban hành các văn bản chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng và triển khai các biện pháp kiên quyết để chấm dứt hoạt động này.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Trọng Trường. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.