a) Tên Đề tài: Xử lý và củng cố các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam - mã số DTNH.18/2015
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: TS. Hoàng Thị Thanh Hằng - Giảng viên, Trường Đại học ngân hàng TP.HCM.
- Thư ký: PGS.TS. Đoàn Thanh Hà - Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM.
- Các thành viên tham gia:
d) Mục tiêu của nhiệm vụ:
Nghiên cứu thực trạng hoạt động CTTC ở Việt Nam, hoạt động của các công ty CTTC nước ngoài tại Việt Nam và tiềm năng phát triển hoạt động CTTC ở Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020; Đề xuất cơ chế hoạt động cho công ty CTTC ở Việt Nam, trọng tâm là các hoạt động CTTC của ngân hàng, mối quan hệ giữa ngân hàng mẹ và công ty CTTC thuộc sở hữu của ngân hàng.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 02/2015.
- Thời gian kết thúc: Tháng 07/2016.
e) Kinh phí thực hiện: 200 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện:
Trong thời gian qua, hoạt động CTTC ở Việt Nam đã phát triển, bổ sung vào thị trường dịch vụ tài chính ngân hàng, tạo ra cho khách hàng, doanh nghiệp có nhiều lựa chọn trong việc tiếp cận dịch vụ, tiếp cận vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, thực trạng hoạt động CTTC thời gian qua đã bộ lộ một số vấn đề cần nghiên cứu xử lý nhằm nâng cao hiệu quả và tính an toàn trong hoạt động CTTC. Do vậy, đề tài DTNH.18/2015 được triển khai nghiên cứu nhằm tìm kiếm các giải pháp xử lý và củng cố các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam. Đề tài được kết cấu thành 03 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1 nghiên cứu các vấn đề cơ sở về xử lý và củng cố các công ty cho thuê tài chính, bao gồm tổng quan về hoạt động CTTC; quan điểm, lý do, nội dung xử lý, củng cố các công ty CTTC, Vai trò của NHTW và những khó khăn, rủi ro của quá trình thực hiện xử lý và củng cố các công ty CTTC. Bên cạnh đó, đề tài đã đề cập đến kinh nghiệm quốc tế về xử lý và củng cố các TCTD. Qua nghiên cứu tại chương 1, nhóm tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
- Nhận thức đúng tính cấp thiết của hoạt động xử lý và củng cố hệ thống TCTD là nhân tố quan trọng giúp cho quá trình xử lý và củng cố thành công.
- Nên kết hợp quá trình tự xử lý và củng cố và quá trình hỗ trợ của chính phủ.
- Cần kết hợp nhiều biện pháp xử lý, củng cố và thực thi một cách tổng thể, linh hoạt các giải pháp.
- Cần tính tới tác động từ các cấu phần của thị trường tài chính và nền kinh tế đối với hệ thống TCTD cũng như tác động từ quá trình xử lý và củng cố TCTD đối với các thực thể kinh tế đó.
- Cần đánh giá đúng thực trạng, bản chất và mức độ nghiêm trọng của những yếu kém trong hệ thống TCTD, xác định đúng nguyên nhân và đưa ra chương trình xử lý và củng cố tổng thể. Đồng thời tiến hành rà soát và thực hiện phân loại TCTD để có biện pháp thực hiện cụ thể.
- Chi phí cho xử lý và củng cố cần được hạn chế ở mức thấp nhất.
- Ổn định hệ thống tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng đối với khả năng quản lý kinh tế, ổn định vĩ mô của Chính phủ.
- Cần có sự can thiệp trên cả hệ thống bao gồm tất cả các ĐCTC có vấn đề bất kể hình thức sở hữu và mô hình hoạt động.
- Xử lý và củng cố hệ thống TCTD không thể tách rời với xử lý và củng cố hệ thống doanh nghiệp.
Chương 2 của đề tài tập trung làm rõ thực trạng hoạt động của công ty và môi trường pháp lý cho hoạt động CTTC tại Việt Nam. Đăc biệt, nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu điển hình tại ALCII để có cái nhìn toàn diện về thực trạng và những nguyên nhân gây ra sự đổ vở của ALC II và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho quá trình xử lý và củng cố các công ty cho thuê tài chính.
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cho thấy những hạn chế của hoạt động CTTC trong thời gian qua như sau:
- Quy mô vốn và năng lực tài chính của các công ty CTTC ở Việt Nam còn rất thấp;
- Dịch vụ cung ứng của các công ty CTTC còn hạn chế;
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao;
- Trình độ công nghệ của các công ty CTTC còn thấp;
- CTTC vẫn còn xa lạ với bộ phận không nhỏ DNVVN;
- Tài sản cho thuê chưa đa dạng;
- Dư nợ và thị phần CTTC còn thấp.
Những hạn chế này bắt nguồn từ một số nguyên nhân như sau:
- Phần lớn các công ty CTTC trực thuộc các NHTM, do đó, hoạt động CTTC như là một mảng hoạt động của NHTM, chiến lược kinh doanh của công ty CTTC phụ thuộc vào chiến lược của NHTM mình trực thuộc;
- Do trình độ nhân viên của công ty CTTC chủ yếu được điều động từ NHTM sang nên hạn chế về mặt kỹ thuật. Đối với hoạt động CTTC có đặc trưng là gắn với tài sản nên tính chuyên nghiệp trong kinh doanh của các công ty CTTC được thành lập dưới hình thức này không cao;
- Chi phí sử dụng vốn của các công ty CTTC cao;
- Công tác thẩm định tài trợ CTTC còn hạn chế;
- Đối tượng khách hàng là DNNVV nên ý thức chấp hành luật pháp vẫn chưa nghiêm, sổ sách không minh bạch;
- Công tác tiếp thị, quảng cáo tại các công ty dường như bỏ ngỏ, tự phát manh mún, chưa đưa ra một định hướng chiến lược phát triển dài hạn và hướng tiếp cận với các dự án lớn, hiệu quả.
- Cơ chế pháp lý cần xem xét và quy định cụ thể các tài sản cho thuê thay vì tài sản sẽ được xem xét theo từng thời kỳ. Ngoài ra, các quy định về giới hạn CTTC đối với khách hàng cần phải chi tiết hơn và có chế tài cụ thể đối với việc vi phạm hợp đồng CTTC.
Chương 3 của đề tài tập trung đề xuất các giải pháp xử lý và củng cố các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam, cụ thể như sau:
(i) Nâng cao năng lực tài chính, bao gồm: Đa dạng hóa nguồn vốn hoạt động thông qua các biện pháp như tăng vốn điều lệ, đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn dài hạn, phát hành trái phiếu, tận dụng nguồn vốn từ các định chế tài chính ở nước ngoài, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, tận dụng nguồn vốn trả chậm trong thanh toán với nhà cung ứng, cổ phần hóa các công ty cho thuê tài chính ... Đồng thời thực hiện các biện pháp phòng chống rủi ro, thực hiện tốt công tác kiểm tra theo dõi hoạt động của tài sản thuê, xây dựng các mẫu hợp đồng chặt chẽ về mặt pháp lý
(ii) Phát triển nguồn nhân lực: các công ty CTTC cần chú trọng các công tác sau:
+ Tiêu chuẩn hóa cán bộ các cấp trong các công ty CTTC
+ Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực
+ Bố trí và sử dụng nhân sự hợp lý
+ Tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp.
(iii) Chú trọng đến năng lực quản trị điều hành
(iv) Gia tăng năng lực phát triển sản phẩm thông qua đa dạng hóa các sản phẩm cho thuê tài chính; phát triển các dịch vụ tư vấn; nâng cao chất lượng dịch vụ.
(v) Đẩy mạnh năng lực phát triển mạng lưới
(vi) Tăng cường sức cạnh tranh uy tín, thương hiệu
(vii) Nâng cao năng lực marketing
(viii) Gia tăng năng lực cạnh tranh về giá.
Bên cạnh những giải pháp thì đề tài cũng đưa ra một số kiến nghị sau:
(i) Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Trước mắt cần hoàn thiện các văn bản pháp lý hiện hành và tiến tới xây dựng luật CTTC tại Việt Nam. Nội dung của luật CTTC sẽ khắc phục những khoảng trống pháp lý trong các văn bản điều chỉnh hoạt động CTTC hiện nay đồng thời thể hiện sự nhất quán trong nội dung so với luật các TCTD.
(ii) Thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển hoạt động CTTC
(iii) Nâng cao vai trò thanh tra, giám sát của NHNN
(iv) Minh bạch hoá thông tin: NHNN phải đưa ra các quy định về yêu cầu các công ty CTTC công bố tài chính một cách trung thực, đầy đủ, chính xác và kịp thời theo các chuẩn mực quốc tế. Việc làm này nhằm giảm thiểu sự lệch lạc thông tin về các công ty CTTC và hỗ trợ việc cho vay tới những khách hàng không truyền thống của công ty.
Đề tài được Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại Khá.