Các chỉ số đánh giá sự ổn định của cán cân thanh toán quốc tế
Hiện nay rất nhiều độc giả quan tâm đến cán cân thanh toán quốc tế và cách thức đánh giá sự ổn định của cán cân thanh toán quốc tế trong mối quan hệ với tiềm lực kinh tế của nước sở tại. Để giúp độc giả phân tích cán cân thanh toán quốc tế và đánh giá vị thế đối ngoại của Việt Nam, bài viết này sẽ trình bày một vài chỉ số được các tổ chức quốc tế và các nước khác trên thế giới sử dụng.
Cán cân thanh toán là bức tranh tổng thể về các giao dịch kinh tế đối ngoại của một nền kinh tế với phần còn lại của thế giới. Để phân tích, đánh giá cán cân thanh toán, các nhà kinh tế, hoạch định chính sách thường xem xét lần lượt từng cán cân chính như cán cân vãng lai, cán cân tài chính, cán cân thanh toán tổng thể hay dự trữ ngoại hối.
Việc phân tích cán cân vãng lai rất quan trọng và được quan tâm khi đánh giá rủi ro của cán cân thanh toán. Cán cân vãng lai được phân tích dựa trên các chỉ số, yếu tố như sau: Thứ nhất, cán cân vãng lai được đánh giá trên cơ sở quy mô so với GDP. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thường áp dụng tỷ lệ thâm hụt 5% làm ngưỡng cảnh báo sự bất ổn của cán cân vãng lai. Đây là chỉ số đầu tiên cần xem xét khi phân tích cán cân vãng lai; Thứ hai, nhà phân tích cần xác định các hạng mục chính dẫn đến thâm hụt cán cân vãng lai. Nếu cán cân vãng lai thâm hụt do nhập khẩu hàng hóa vốn hoặc do nhập khẩu dịch vụ sản xuất phục vụ sản xuất kinh doanh thì thâm hụt đó không đáng lo ngại. Trong tương lai hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ góp phần tăng xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho nền kinh tế. Nhưng nếu cán cân vãng lai thâm hụt do nhập khẩu hàng tiêu dùng tăng mạnh, khi đó mức thâm hụt đó sẽ thực sự đáng quan ngại và cần đưa ra cảnh báo từ các nhà hoạch định chính sách; Thứ ba, cần xem xét các luồng vốn tương ứng trên cán cân tài chính có liên quan đến thâm hụt hạng mục nào đó trên cán cân vãng lai, vì việc phân tích luồng vốn này sẽ cho biết mức thâm hụt hoặc thặng dư là tốt hay xấu. Trong trường hợp thâm hụt cán cân vãng lai do nhập khẩu hàng hóa vốn được tài trợ bởi những luồng vốn ổn định, có hiệu quả trên cán cân tài chính như FDI, khi đó mức thâm hụt sẽ không đáng quan ngại.
Như đã đề cập ở trên, cán cân vãng lai có mối liên hệ với cán cân tài chính, do đó phân tích đồng thời cán cân vãng lai và cán cân tài chính sẽ cho thấy góc nhìn chính xác hơn về các giao dịch kinh tế đối ngoại của nền kinh tế. Khi phân tích cán cân tài chính cần quan tâm đến thời hạn, tính chất, đặc điểm của các luồng vốn, cụ thể như sau: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hạng mục quan trọng trên cán cân tài chính, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam. FDI thường rất ổn định do các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cam kết đầu tư lâu dài tại nước sở tại. Vốn FDI chiếm tỷ trọng lớn trên cán cân tài chính sẽ giúp cho cán cân thanh toán bền vững hơn. Việc tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần chuyển giao công nghệ hiện đại cho nước tiếp nhận đầu tư, thu hút các chuyên gia có kinh nghiệm quản lý từ nước ngoài, thúc đẩy sản xuất trong nước hướng về xuất khẩu. Tuy nhiên, vốn FDI vào thường đi kèm với nhập khẩu hàng hóa vốn và nhập khẩu dịch vụ kinh doanh tăng mạnh, khiến cán cân vãng lai có thể chuyển sang thâm hụt. Ngược với vốn FDI, vốn đầu tư gián tiếp thường mang tính ngắn hạn và không cam kết đầu tư lâu dài như đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vốn đầu tư gián tiếp thường dễ biến động và đảo chiều nên cần được theo dõi sát trên cán cân tài chính. Tiếp theo là nợ nước ngoài, đây là hạng mục quan trọng, chiếm cấu phần lớn trên cán cân tài chính nên việc phân tích bền vững nợ được các nhà hoạch định chính sách rất quan tâm. Việc phân tích nợ nước ngoài thường được dựa trên các chỉ số khác nhau, quan trọng nhất là tỷ lệ dư nợ so với GDP. Tỷ lệ này là tiêu chí đầu tiên khi đánh giá nợ nước ngoài do phản ánh tính bền vững dài hạn của nợ nước ngoài. Tuy nhiên, các nhà phân tích cần xem xét thêm các chỉ số khác như tỷ lệ giữa trả nợ gốc và lãi so với tổng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ: Tỷ lệ này đo lường tác động của việc trả nợ gốc và lãi đối với các luồng ngoại tệ thu được của nền kinh tế và khả năng trả nợ bằng chính thực lực của mình. Kế đến là tỷ lệ trả lãi nợ đến hạn so với tổng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ. Chỉ số này cho biết chi phí của các khoản nợ cần trả lãi hàng năm. Đây là chỉ số tham khảo bổ sung để đánh giá tính bền vững của nợ nước ngoài. Ngoài ra, các nhà phân tích có thể sử dụng giá trị hiện tại của nợ so với xuất khẩu. Chỉ số khá hiệu quả đánh giá tính bền vững nợ nước ngoài và ngưỡng 200-220% được coi là tốt. Tuy nhiên cách tính toán chỉ số này không dễ dàng do khó có thể xác định được lãi suất chiết khấu trong công thức tính giá trị hiện tại của nợ.
Sau khi phân tích cán cân vãng lai và cán cân tài chính, chúng ta sẽ xem xét đến kết quả của cả hai cán cân này thể hiện ở cán cân thanh toán tổng thể. Cán cân thanh toán tổng thể được đo bằng thay đổi dự trữ ngoại hối trong kỳ báo cáo và cần được quan sát liên tục trong khoảng 4-5 năm. Nếu dự trữ ngoại hối quốc gia không quá cao, cán cân thanh toán cần ít nhất là cân bằng hoặc không thâm hụt để đảm bảo dự trữ ngoại hối không bị sụt giảm. Nhưng nếu dự trữ ở mức rất thấp, cán cân thanh toán rất cần có mức thặng dư khá để góp phần gia tăng dự trữ ngoại hối. Hiện nay chưa xác định được quy mô dự trữ bao nhiêu là đủ, tuy nhiên IMF thường gợi ý mức 13 tuần nhập khẩu hàng hóa để đánh giá quy mô dự trữ ngoại hối. Nếu dự trữ ngoại hối của một nước thấp hơn mức 13 tuần nhập khẩu hàng hóa, khi đó nước đó bị đánh giá là có mức dự trữ ngoại hối thấp và ngược lại. Ngoài ra, khi đánh giá mức độ dự trữ ngoại hối hay tình trạng cán cân thanh toán, các nhà phân tích còn quan tâm đến độ mở của nền kinh tế, khả năng tiếp cận các tài trợ tài chính ngắn hạn, tỷ trọng của các tài sản nợ có tính lỏng cao, tính mùa vụ của cán cân hàng hóa, tính đa dạng của các giao dịch ngoại hối. Ví dụ như một nước có độ mở kinh tế lớn sẽ cần duy trì lượng dự trữ ngoại hối nhiều hơn nước có nền kinh tế đóng do có nguy cơ đối mặt với những thay đổi lớn của dự trữ ngoại hối. Một nước có khả năng dễ dàng tiếp cận tài sản nợ tài chính ngắn hạn sẽ không cần phải duy trì lượng dự trữ ngoại hối lớn như các nước gặp khó khăn khi tiếp cận tài chính quốc tế. Một nước có tỷ lệ lớn là tài sản nợ có tính lỏng cao sẽ cần phải có dự trữ ngoại hối lớn hơn do nhiều khả năng chịu rủi ro đảo chiều của các luồng vốn. Tương tự, một nước có tính mùa vụ cao thể hiện ở xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa sẽ cần nhiều dự trữ ngoại hối hơn. Một nước có sự đa dạng về các giao dịch ngoại hối, nước đó cần phải có dự trữ ngoại hối cao hơn để đảm bảo khả năng ứng phó với những thay đổi khó lường của các giao dịch ngoại hối.
Như vậy, việc phân tích sự ổn định và tính bền vững của cán cân thanh toán quốc tế là vấn đề không đơn giản do các nhà hoạch định chính sách cần dựa trên rất nhiều các chỉ số, chỉ tiêu như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên việc phân tích đúng đắn, đầy đủ các hạng mục chính trên cán cân thanh toán sẽ giúp độc giả có góc nhìn tổng quan về các hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong mối liên hệ kinh tế vĩ mô trong nước và vị thế đối ngoại của Việt Nam so với các nước trên thế giới.
Vụ Dự báo thống kê