Tái cơ cấu đầu tư công
mạnh mẽ hơn nữa
Ngọc Linh
Tái cơ cấu đầu tư công thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định. Vốn đầu tư công tập trung cho các công trình, dự án quan trọng, cấp thiết. Đầu tư trong những lĩnh vực trực tiếp kinh doanh như ngân hàng, bảo hiểm; bất động sản và vận tải đã có xu hướng giảm. Hiệu quả đầu tư dần được cải thiện.
Việt Nam đã tiến hành lập Kế hoạch Đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020 theo quy định của Luật Đầu tư công. Đây được coi là một đổi mới quan trọng về quản lý Nhà nước, với kỳ vọng giải quyết một số tồn tại, hạn chế của đầu tư công. Khi thực hiện đầu tư công theo kế hoạch đầu tư trung hạn sẽ giúp các bộ, ngành và địa phương chủ động hơn trong việc quản lý, sử dụng nguồn vốn được giao; việc phân bổ đã hướng tới công khai, minh bạch hơn so với trước.
Nhưng bên cạnh những thành công thì nhiều chuyên gia cho rằng “tái cơ cấu đầu tư công còn mang nặng tính hình thức và chưa thật sự hiệu quả”, chưa có những thay đổi về bản chất. Bởi vì, tái cơ cấu đầu tư công mới chỉ dừng lại ở việc siết chặt kỷ luật, chưa tập trung vào các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí.
Bên cạnh đó, những kỳ vọng định hướng đầu tư công như dồn vốn cho KHCN, nông, lâm thủy sản và hành chính, dịch vụ công chưa đạt được, bởi vốn cho những ngành này còn thấp. Cùng lúc, những ngành có thể huy động vốn đầu tư từ tư nhân như ngân hàng tài chính, dịch vụ kho bãi, vận tải, điện nước, thông tin viễn thông… thì đầu tư công còn chiếm tỷ trọng lớn. Các ngành mang tính xã hội như y tế, giáo dục chưa đa dạng hóa được nguồn vốn đầu tư. Việc mở rộng phạm vi và cơ hội cho đầu tư tư nhân còn hạn chế. Trong khi đó, cân đối nguồn lực NSNN ngày càng khó khăn, nợ công tăng nhanh và đầu tư công vẫn dựa chủ yếu vào nguồn vay nợ.
“Đầu tư công hiện vẫn còn tồn tại những “căn bệnh mãn tính” như: dàn trải, dự án chậm triển khai, chậm tiến độ, đầu tư theo phong trào, hiệu quả thấp”, như nhận xét của GS-TS.Trần Thọ Đạt (Trường đại học Kinh tế Quốc dân). Có thể thấy, thứ tự ưu tiên trong định hướng đầu tư công chưa rõ ràng, do cùng lúc có quá nhiều mũi nhọn, trọng tâm, trọng điểm, đã khiến đầu tư tràn lan, làm phân tán nguồn lực, kéo dài thời gian thực hiện dự án và giảm hiệu quả đầu tư. Nợ đọng XDCB chưa được xử lý triệt để, vốn ứng trước chưa có, nguồn hoàn trả còn lớn. Công tác quản lý đầu tư công còn nhiều bất cập, đặc biệt thể chế quản lý chưa phù hợp với quốc tế, chưa có một bộ tiêu chí thống nhất và có tính khả thi để đánh giá, so sánh mức độ cần thiết, tính hiệu quả và khả năng triển khai giữa các dự án.
Việc Thủ tướng Chính phủ trong giai đoạn từ 2013 đến nay phải liên tục ra 5 chỉ thị về xử lý nợ đọng XDCB là bằng chứng cho thấy sự thiếu nghiêm minh trong hoạt động đầu tư công. Chúng ta chưa hình thành nguyên tắc ngân sách cứng trong các hoạt động đầu tư công.
Bên cạnh đó, việc các dự án đầu tư công sau khi được phê duyệt đội chi phí lên nhiều lần được xem là chuyện bình thường. Điều này vô hiệu hóa hiệu quả hoạt động đấu thầu và do đó, làm méo mó nguyên tắc thị trường. Các nhà thầu có thể bỏ thầu với giá rất thấp để thắng thầu nhưng lại không thực hiện với giá bỏ thầu đó mà luôn tìm cách tăng chi phí đầu tư và rất đáng ngạc nhiên là lần nào nhà thầu cũng được chủ đầu tư phê duyệt tăng phí đầu tư.
PGS-TS. Trần Kim Chung - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương lưu ý, tái cơ cấu đầu tư công ở Việt Nam trong giai đoạn 2017-2020 cần được thực hiện mạnh mẽ hơn, cần điều chỉnh cơ cấu đầu tư bằng cả cơ chế, chính sách.
Khuyến nghị về vấn đề này, TS.Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Ngân hàng - Tài chính (Trường đại học Kinh tế quốc dân) cho rằng, trước hết, cần tái cơ cấu chi tiêu ngân sách theo hướng giảm bớt chức năng Nhà nước kinh doanh và tăng cường chức năng Nhà nước kiến tạo; đầu tư công theo hướng thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ công, chứ không phải đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh kiếm lời. Cần xác định rõ chức năng nhiệm vụ kinh tế của Nhà nước trong kinh tế thị trường. Vốn đầu tư công không đổ vào những ngành nghề mà khu vực tư nhân làm tốt hơn, hiệu quả hơn.
Các giảng viên Trường đại học Kinh tế quốc dân cho rằng, muốn đạt hiệu quả cao, thì cần làm rõ hơn nữa nội dung của tái cơ cấu đầu tư công trong các ngành, lĩnh vực, vùng. Điều này đòi hỏi định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như của từng địa phương cần phải xác định rõ ngành, lĩnh vực, nội dung ưu tiên phát triển để định hướng đầu tư. Từ đó, xây dựng đề án toàn diện về tái cơ cấu đầu tư công gắn với quá trình cơ cấu lại và đổi mới tài chính công. Trong đó, tập trung vốn cho các công trình trọng điểm, cấp thiết, vốn đối ứng ODA, vốn giải phóng mặt bằng và vốn tham gia các dự án PPP; tăng đầu tư cho nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, y tế, giáo dục và vùng đặc biệt khó khăn.
Trong thời gian tới, cần tăng khả năng tự bảo đảm nguồn vốn thông qua các biện pháp tăng thu NSNN một cách có hiệu quả, bền vững và tăng lợi nhuận của các DN; đồng thời hạn chế sự gia tăng các nguồn vốn có tính chất đi vay (TPCP, công trái, tín dụng Nhà nước...). Bên cạnh đó, phải kiên quyết áp dụng nguyên tắc ngân sách cứng đối với các dự án đấu thầu đầu tư công. Cương quyết không chấp nhận bất kỳ hình thức điều chỉnh chi phí đầu tư nào. Đây là điều kiện bắt buộc để áp dụng nguyên tắc phân bổ vốn theo cơ chế thị trường.
Cùng với đó, chỉ tập trung vốn đầu tư công vào những ngành, lĩnh vực đem lại lợi ích cho xã hội mà khu vực tư nhân trong nước và khu vực FDI không tham gia hoặc tham gia có hiệu quả thấp. Coi nguồn đầu tư công là nguồn lực chính, đồng thời là nguồn “vốn mồi” trong việc thu hút các nguồn lực khác trong xã hội cho đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội. Ưu tiên vốn đầu tư công cho các vùng nghèo, vùng khó khăn, đồng thời bố trí vốn đầu tư công các vùng có điều kiện thuận lợi để tiếp tục duy trì và phát huy các thế mạnh, tạo sự phát triển lan tỏa đến các vùng khó khăn.
Và, chỉ có nâng cao sự minh bạch, quyền gắn với giải trình, hiệu quả đi liền với trách nhiệm thì mới nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và mới thực sự tái cơ cấu đầu tư công đúng bản chất, đạt kỳ vọng.