Tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế
PGS.,TS. Đỗ Thị Kim Hảo,
ThS. Đinh Thị Thanh Long1
Trong những năm gần đây, kiều hối ngày càng thể hiện nguồn thu ngoại tệ quan trọng ở các nước đang phát triển. Những đóng góp của kiều hối trong nền kinh tế đã khiến cho các nước thay đổi chính sách thu hút, quản lý kiều hối. Bài viết này tập trung phân tích tác động của kiều hối tới tăng trưởng kinh tế ở giác độ vĩ mô trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực.
1. Những tác động tích cực của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế
Mặc dù có nhiều nghiên cứu và thảo luận từ các cách tiếp cận khác nhau, nhưng không thể phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận kiều hối (Flore Gubert, 2005). Mức độ tác động của kiều hối lên tăng trưởng kinh tế là khác nhau ở các quốc gia, phụ thuộc vào hiện trạng nền kinh tế, quy mô dòng kiều hối nhận được, tập quán thói quen tiêu dùng, chính sách thu hút và sử dụng kiều hối… Nhưng tựu trung lại, những tác động của kiều hối góp phần tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo được thể hiện cụ thể như sau:
a) Kiều hối là một nguồn thu nhập của hộ gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo, giúp tăng trưởng kinh tế
Kiều hối là một nguồn thu nhập của hộ gia đình, giúp duy trì cuộc sống hàng ngày và nâng cao mức sống của người nhận kiều hối: Nhiều khảo sát và những nghiên cứu thực nghiệm đều có kết luận giống nhau về các hạng mục chi tiêu từ nguồn kiều hối, được xếp theo thứ tự ưu tiên như sau:
Chi trả chi phí cho cuộc sống hàng ngày, cụ thể là cho các loại hàng hóa tiêu dùng để nâng cao mức sống.
Chi trả chi phí liên quan đến sức khỏe và giáo dục;
Hỗ trợ hoặc mua nhà đất, trang trại để sản xuất;
Chi cho các hoạt động mang tính văn hóa, xã hội: sinh nhật, ma chay, cưới hỏi;
Trả nợ các khoản vay liên quan tới hoạt động xuất khẩu lao động.
Tiết kiệm và đầu tư vào các hoạt động khởi nghiệp sau này khi kiều dân trở về.
Bản chất của việc di cư hay xuất khẩu lao động là người lao động mong muốn có mức thu nhập cao hơn ở trong nước. Nên một tỷ trọng lớn của kiều hối được coi là nhân tố trực tiếp tác động tới thu nhập khả dụng của hộ gia đình nhận kiều hối. Mức sống của hộ gia đình càng thấp, lượng kiều hối nhận về sẽ được coi có giá trị tuyệt đối tương đối lớn so với mức thu nhập. Vai trò của kiều hối càng quan trọng hơn trong trường hợp người xuất khẩu lao động có trách nhiệm nuôi dưỡng, chu cấp với bố mẹ già hoặc con nhỏ, những người khó hoặc không có khả năng lao động với mức sống thấp (Dilip Ratha và các cộng sự, 2007).
Kiều hối giúp xóa đói giảm nghèo: kiều hối vốn dĩ là khoản thu nhập trực tiếp của đa số người lao động ở nước đang phát triển, nước đói nghèo, nên nó có tác động hỗ trợ gia đình thoát nghèo. Cụ thể, với các nước đang phát triển khu vực châu Á Thái Bình Dương nếu kiều hối tăng 10%, sẽ làm giảm đói nghèo 2,8% (Ravallion và Chen, 1997). Với nghiên cứu áp dụng cho 74 quốc gia đang phát triển có mức thu nhập thấp và trung bình, cho thấy 10% số lượng người di cư thì sẽ làm giảm đi 1,9% số lượng người sống với mức thu nhập thấp hơn 1 USD/ một ngày (Adams và Page, 2005). Tác động của di dân với vấn đề đói nghèo thay đổi với từng nhóm nước, có tầm quan trọng đối với nhóm nước Đông Nam Á và các nước Mỹ La tinh, nhưng không có ý nghĩa nhiều đối với các nước thuộc khu vực phát triển. Nếu coi kiều hối là một biến ngoại sinh được tính vào thu nhập hiện hành của hộ gia đình, và kiều hối được coi là nguồn bổ sung cho thu nhập của người lao động ở nhà nếu anh ta không di cư. Nếu thay thế thu nhập từ nguồn kiều hối bằng thu nhập của người lao động ở nhà, thì kiều hối sẽ có tác động giảm đói nghèo bởi dòng kiều hối rõ ràng thể hiện thu nhập cao hơn so với thu nhập ở nhà và còn góp phần làm tăng thu nhập tính theo đầu người của hộ gia đình nhận kiều hối.
Lopez và Molina (2006) với mẫu nghiên cứu là các hộ gia đình nghèo ở các quốc gia khác nhau, nghiên cứu với nhóm hộ gia đình trước và sau khi nhận kiều hối, với các nhóm hộ gia đình có cùng mức thu nhập song có thêm nguồn kiều hối… đều có kết luận chung kiều hối giúp giảm đói nghèo qua các tiêu chí: tăng thu nhập, tăng chi tiêu cho thức ăn, học tập, y tế… thậm chí cả cân nặng của trẻ con khi
sinh ra.
Dòng kiều hối còn có tác dụng gián tiếp xóa giảm đói nghèo thông qua việc phát triển nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế, là hai kênh quan trọng thoát nghèo. Nghiên cứu của Taylor và các cộng sự (2005) cho vùng nông thôn của Mexico với dữ liệu được khảo sát năm 2002 cho thấy mối quan hệ giữa kiều hối và khoảng cách đói nghèo là ngược chiều trong dài hạn. Trong dài hạn, kiều hối là dòng vốn giúp tích lũy các tài sản sinh lời, làm tăng sức sản xuất trong nông nghiệp, giảm đói nghèo.
Nếu coi kiều hối không đơn thuần chỉ là dòng tiền và tăng thu nhập khả dụng, mà coi kiều hối là dòng tích lũy tài sản chống các cú sốc do thiếu hụt tài chính của gia đình nhận kiều hối, từ đó tăng khả năng tiếp cận giáo dục và y tế đảm bảo cuộc sống an toàn và ổn định (Hulme và các cộng sự, 2001). Do đó, tác động trong trung và dài hạn là phải đánh giá phạm vi ảnh hưởng của kiều hối tới quá trình thoát nghèo, hơn là chỉ sử dụng mô hình đơn giản chi tiêu. Theo cách tiếp cận này, tác động của kiều hối tới người nhận sẽ là khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội. Khi người nghèo có tiền từ kiều hối tham gia hoạt động đào tạo để phát triển nguồn nhân lực thì người nghèo có cơ hội tăng thu nhập (Berg và Krueger, 2003).
Kiều hối giúp tăng trưởng kinh tế thông qua mô hình số nhân chi tiêu: Theo mô hình số nhân chi tiêu, một đô la nhận được từ kiều hối hộ gia đình thêm sẽ thúc đẩy thị trường bán lẻ, tăng thêm nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm (Dillip Ratha, 2005). Điều đáng nói là, nguồn kiều hối dành cho chi tiêu là nguồn tương đối ổn định, tức là có một lượng chi tiêu thường xuyên tác động lên tổng cầu. Điều này đặc biệt đúng với những quốc gia có thu nhập thấp, nơi mà nhiều gia đình sinh sống dựa vào nguồn kiều hối gửi từ nước ngoài về và họ có mức sống gần như nghèo khổ, chỉ đủ trang trải cho những nhu cầu thiết yếu nhất. Thêm vào nữa, khi thu nhập của hộ gia đình tăng, nhu cầu chi tiêu tăng, tạo ra nhu cầu về nhiều loại hàng hóa, nhiều ngành nghề sản xuất ra đời, tạo nên sự thay đổi diện mạo mới cho địa phương. Xu hướng tiêu dùng tăng góp phần bù đắp sản lượng giảm sút do thiếu nhân lực ở nước nhận kiều hối. Các nhà kinh tế sử dụng khái niệm “phúc lợi xã hội ròng” đo lường tác động của hiệu ứng chi tiêu làm tăng GDP và tác động của thiếu hụt nhân công làm giảm GDP. Nếu người di cư và người xuất khẩu lao động là những lao động có trình độ thấp, phúc lợi xã hội ròng thu được là một số dương. Nếu lao động là người có trình độ cao, sự ra đi của họ đổi bằng nguồn vốn chảy vào trong nước, cũng khiến cho phúc lợi xã hội ròng tăng lên đối với những lao động trong nước, khi mà tỷ lệ vốn lao động được duy trì không đổi hoặc tăng.
b) Kiều hối là một nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ phát triển kinh tế
Mặc dù không phải là nguồn vốn chính thức thể hiện trên cán cân tài chính, so với các dòng vốn khác, dòng kiều hối ít chịu tác động bởi bất ổn vĩ mô hay tỷ suất sinh lời, ngay cả khi dòng vốn được coi là ổn định như FDI, ODA giảm, đầu tư tư nhân tháo lui, thì dòng kiều hối vẫn ổn định, thậm chí có xu hướng tăng (Dilip Ratha, 2007). Kiều hối càng là nguồn ngoại tệ quan trọng với những nước đang phát triển, nơi mà nguồn ngoại tệ khan hiếm, thị trường tài chính chưa phát triển, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng bị hạn chế. (Đồ thị 1)
Đồ thị 1: Kiều hối và các dòng vốn đầu tư khác ở các nước đang phát triển
(Nguồn: UNCTAD 2016)
Dòng kiều hối được coi là một bộ phận trực tiếp góp phần tăng trưởng kinh tế qua các kênh: (i) làm tăng tích lũy vốn (qua đó tăng khả năng tiếp cận công nghệ, quyết định tới vị trí đường giới hạn khả năng sản xuất tại mỗi mức vốn nhất định); (ii) làm thay đổi phân bổ nguồn lực vốn mới (Chami và các cộng sự, 2008). Bên cạnh đó, kiều hối cũng gián tiếp là nguồn vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực như: (i) dòng kiều hối giành cho chi tiêu phát triển giáo dục, y tế, sức khỏe; (ii) kiều hối làm giảm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, tăng thu nhập tính theo đầu người (Sawada, (2003); Hanson, (2002); Cox - Edwards and Ureta (2003)). Nhìn chung, kiều hối thực hiện vai trò tăng trưởng vốn đầu tư cả chất và lượng (Samagan Aitymbetov, 2006).
Với vai trò tăng tích lũy vốn trong nước, kiều hối trực tiếp tác động tới nguồn vốn tích lũy trong nước; làm giảm chi phí vốn vì nguồn cung quỹ cho vay từ nguồn kiều hối tăng lên, góp phần ổn định mức lãi suất cho vay và giảm thiểu bất ổn kinh tế do thiếu hụt vốn đầu tư trong nước. Các nền kinh tế mới nổi sử dụng kiều hối như là khoản thế chấp đối với các khoản vay trên thị trường vốn quốc tế theo những điều khoản thuận lợi hơn so với trường hợp các nước không thu hút được
kiều hối.
c) Di dân và kiều hối giúp thay đổi tư duy của lực lượng sản xuất
Bên cạnh nguồn thu nhập tương đối ở nước ngoài, những người dân đi lao động ở nước ngoài có cơ hội tiếp cận phương thức sản xuất mới, tích lũy được vốn, được đào tạo nghề, có kinh nghiệm, kỹ năng làm việc và kỷ luật lao động khi quay trở lại đất nước. Đây được coi là những nhân tố quan trọng thay đổi lực lượng sản xuất trong nước. Với nguồn kiều hối thu hút vào trong nước, giúp quốc gia nhận kiều hối dần chuyển từ chiến lược phát triển kinh tế dựa vào lao động sang chiến lược phát triển kinh tế dựa vào vốn. Ngay cả với ngành nông nghiệp, vốn được coi là ngành nghề truyền thống của hộ gia đình, khi trở về, người lao động cũng có những thay đổi trong ngành nghề sản xuất, áp dụng kỹ năng, kiến thức, công nghệ tăng năng suất lao động. Trong dài hạn, chất lượng nguồn lao động thay đổi, tạo ra cơ hội cho thế hệ sau tiếp cận các công việc đòi hỏi kỹ năng nhiều hơn với mức lương cao hơn (Hoddinott và Francis, 1993), góp phần dịch chuyển cơ cấu sản xuất và lao động trong nền kinh tế.
d) Kiều hối góp phần hỗ trợ cán cân thanh toán quốc tế
Kiều hối là nguồn thu ngoại tệ cho đất nước: Hoạt động di dân và xuất khẩu lao động từ nước kém phát triển sang nước phát triển tạo điều kiện cho dòng hàng hóa và dịch vụ đi kèm phục vụ hai đối tượng người cư trú và người không cư trú. Có thể thấy đơn giản nhất về hàng loạt các dịch vụ kéo theo phục vụ cho nhu cầu liên lạc, từ đi lại, thăm viếng, các phương tiện liên lạc… làm phát triển các dịch vụ du lịch, bưu chính viễn thông ở các nước. Các dịch vụ ăn theo như các chuyến đi du lịch, giải trí, tư vấn bất động sản, quà tặng… cũng tăng vọt. Những chuyến thăm viếng, du lịch thường là dài ngày, kèm theo nhu cầu chi tiêu trong nước, thường là do kiều dân và người lao động ở nước ngoài chi trả, là một nguồn thu lớn trong cán cân dịch vụ ở các nước đang phát triển.
Kiều hối góp phần bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai: Với quốc gia có cán cân thương mại thâm hụt, vốn đầu tư nước ngoài khan hiếm và nguồn viện trợ nước ngoài hạn chế, trong tình huống đó, kiều hối trở thành khoản thu bù đắp trực tiếp thâm hụt cán cân. Cần chú ý là, kiều hối với tư cách biến ngoại sinh, không phụ thuộc vào tình hình kinh tế trong nước, không phải trả lãi suất, nên sẽ là nguồn tương đối ổn định hỗ trợ cán cân thanh toán (Buch et al., 2002; Buch and Kuckulenz, 2004).
Kiều hối góp phần làm tăng dự trữ ngoại hối quốc gia ở các nước đang phát triển: dữ liệu thống kê của các nước không hề chỉ ra kiều hối đóng góp tỷ lệ bao nhiêu vào dự trữ ngoại hối. Nhưng một thực tế không thể phủ nhận là, ở các nước đang phát triển, dòng kiều hối được chuyển về theo mùa vụ (dịp cuối năm, Giáng sinh…) và NHTW các nước thường có chính sách can thiệp mua lượng ngoại tệ này vào để tăng dự trữ ngoại hối.
e) Kiều hối và sự phát triển của thị trường tài chính
Mức độ phát triển tài chính hay độ sâu tài chính của một quốc gia được coi là một trong những nhân tố quan trọng để thu hút đầu tư cũng như thúc đầy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển. Nghiên cứu của Orozco và Fedewa (2005) cho thấy mối liên hệ thuận chiều giữa kiều hối và phát triển tài chính ở những nước đang phát triển qua các hình thức:
Kiều hối tạo nên nhu cầu cho các dịch vụ, sản phẩm mới của hệ thống tài chính: hoạt động chuyển tiền và nhận tiền giữa các quốc gia đã kéo theo sự ra đời và phát triển của các dịch vụ ngân hàng khác. MasterCard’s MoneySend, Debit Card, Foreign exchange account… được sử dụng rộng rãi qua hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM), giúp việc chuyển tiền được nhanh chóng và thuận lợi. Các ngân hàng cũng có xu hướng cấp tín dụng nhiều hơn cho những người luôn được nhận kiều hối với giá trị lớn. Bên cạnh đó, người nhận kiều hối có cơ hội tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính khác như các công ty bảo hiểm mở rộng hệ thống cung cấp dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tài chính khác thu hút nguồn phí từ người nhận tiền. Hoặc với số tiền sẵn có, người gửi tiền có thể tự mình đầu tư hoặc đầu tư thông qua hình thức quỹ ủy thác đầu tư. Các dịch vụ tài chính góp phần mở rộng và phát triển thị trường tài chính trong nước. Người dân ở các nước nghèo, không hoặc hiếm khi tiếp cận với dịch vụ tài chính, nay đã trở thành đối tượng được phục vụ và hưởng lợi từ các tổ chức tài chính.
Kiều hối góp phần phát triển thị trường tài chính và quy mô của hệ thống ngân hàng trong nước: tiền tiết kiệm từ kiều hối sẽ được chuyển qua những chủ thể thiếu vốn trong nền kinh tế. Kiều hối làm tăng giá trị của vốn huy động của hệ thống ngân hàng, phát triển thị trường vốn địa phương.
Chuyển tiền kiều hối tạo nên sự cạnh tranh trong hệ thống NHTM, giữa hệ thống chuyển tiền chính thức và chuyển tiền phi chính thức. Ngày càng nhiều các NHTM tham gia hệ thống chuyển tiền Western Union, Money Gram, trong các NHTM đã có sự cạnh tranh về chất lượng dịch vụ chuyển tiền. Hệ thống chuyển tiền phi chính thức cũng nở rộ ở các nước, tốc độ chuyển tiền nhanh hơn, thủ tục dễ dàng hơn so với chuyển tiền chính thức mà không chịu sự kiểm soát của Chính phủ. Vì vậy, các NHTM trong hệ thống chuyển tiền chính thức cũng có những cải cách về chất lượng để cạnh tranh với các đối thủ trong cùng hệ thống và với hệ thống chuyển tiền phi chính thức.
Kết luận của Orozco và Fedewa (2005) được khẳng định qua các nghiên cứu sau này của Giuliano và Ruiz-Arranz (2009), Munduca (2009), Gupta và cộng sự (2009). Theo đó, Giuliano và Ruiz-Arranz (2009) khẳng định dòng kiều hối giúp phát triển hệ thống tài chính của các quốc gia có hệ thống tài chính kém phát triển, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Aggarwal và cộng sự (2011) cho rằng khi dòng kiều hối tăng lên sẽ làm tăng lượng tiền gửi cũng như tín dụng tại các tổ chức tín dụng, qua đó giúp hệ thống tài chính phát triển. Một vấn đề nữa cần xem xét, là liệu kiều hối có góp phần tăng trưởng tài chính thông qua việc đo lường độ sâu của thị trường tài chính. Giả thuyết chúng ta muốn kiểm tra là liệu độ sâu của thị trường tài chính của nước nhận kiều hối có thể ảnh hưởng tới tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế hay không. Các nghiên cứu cũng chỉ ra hiệu ứng tăng trưởng của kiều hối được tăng cường trong một hệ thống tài chính có độ sâu, hỗ trợ sự bổ sung lẫn nhau giữa kiều hối và các dòng chảy tài chính khác.
f) Tác động của kiều hối lên thị trường bất động sản
Kiều hối là nguồn tiền giúp cho người lao động nâng cao điều kiện ăn ở của kiều dân: Với những quốc gia mà xuất khẩu lao động hoặc di dân chiếm hơn 10% dân số, lý do duy nhất người ta rời bỏ đất nước là kiếm tìm cuộc sống tốt hơn ở những nước thiếu hụt lao động. Khảo sát lý do di cư và xuất khẩu lao động của Philippines, người lao động có ba ước muốn lớn nhất, xếp theo trình tự ưu tiên với số tiền họ kiếm được: 1) có đủ thức ăn ở trên bàn ăn; 2) có đủ chi phí cho con đi học, và 3) có đủ tiền để xây nhà cho gia đình (OECD, 2005). Nhu cầu thành lập doanh nghiệp và tham gia các dự án kinh tế không được xếp trong thứ tự ưu tiên của người lao động, có lẽ do bản thân người lao động sinh ra không phải để làm ông chủ, mà những gì họ mong muốn chỉ là đáp ứng ba nhu cầu đơn giản, cơ bản nhất của loài người là ăn, mặc, ở. Với thu nhập họ có được, họ có thể giúp đỡ gia đình mình chuyển từ tình trạng đang ở nhà thuê, sang sống trong ngôi nhà của chính họ. Nếu họ đã có nhà riêng, khoản tiền đó sẽ được dùng để sửa chữa, xây mới căn nhà, hoặc mua thêm bất động sản. Nhu cầu về nhà ở thường rất cao ở vùng nông thôn và ở các khu vực đói nghèo. Với nỗ lực tự giúp mình, kiều hối giúp cho người lao động và gia đình họ có cuộc sống của họ tiện nghi hơn, nhất là khi đất nước họ sinh sống chưa có chính sách hoặc không thể có các khoản chi tiêu công xây dựng nhà cho những người có thu nhập thấp hoặc hỗ trợ nhà ở cho đối tượng đói nghèo.
Kiều hối trở thành nguồn vốn đầu tư trong lĩnh vực nhà ở: Kiều hối cũng có thể trở thành nguồn tiền đầu tư dưới hình thức tiền gửi ngân hàng, ngân hàng lại sử dụng vốn huy động cho vay các dự án xây dựng nhà ở. Hoặc hộ gia đình có thể trực tiếp mua cổ phiếu của các công ty xây dựng nhà ở, làm tăng cung quỹ cho vay, tăng nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực nhà ở. Nguồn vốn đầu tư tăng thêm có tác dụng giảm lãi suất cho vay với các dựa án xây dựng nhà ở, chi phí mua hoặc thuê nhà trở nên rẻ hơn, tăng số lượng nhà ở được cung cấp trên thị trường.
2. Một số tác động tiêu cực của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế
a) Kiều hối làm gia tăng xu hướng nhập khẩu
Nếu coi kiều hối là khoản thu nhập có được lâu dài, hộ gia đình có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn là đầu tư. Nhu cầu tiêu dùng được thỏa mãn làm tăng phúc lợi tiêu dùng cho hộ gia đình, chứ không hề tác động tới tăng trưởng kinh tế. Tiếp theo, khi mà thị trường tài chính trong nước càng hội nhập với thị trường tài chính quốc tế, và hệ thống tài chính trong nước càng phát triển, thì kiều hối không phát huy tác dụng trực tiếp là khoản đầu tư tư nhân trong nước. Tiêu dùng chỉ góp phần tăng trưởng kinh tế khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao, thúc đẩy tổng cầu tăng, đi kèm với vốn đầu tư tăng thúc đẩy tổng cung tăng tương ứng. Trong trường hợp này, tổng cầu tăng do tiêu dùng, nhưng tổng cung không đổi hoặc tăng với mức độ thấp hơn của tổng cầu, kiều hối không hề góp phần cho tăng trưởng kinh tế.
Phần thiếu hụt của tổng cung sẽ được bù đắp bởi hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Kiều hối sẽ tạo ra hiệu ứng “boomerang effect”, có nghĩa là nhập khẩu hàng hóa tăng lên làm xấu đi cán cân thương mại. Điều đáng nói là, với các nước nghèo, hàng hóa sản xuất trong nước chưa thể thay thế hàng nhập khẩu, thì nhu cầu nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng xa xỉ rất lớn. Bởi vì, người lao động khi quay trở về nước, với số tiền tích góp từ nước ngoài, họ và gia đình họ được coi là giàu có hơn so với cộng đồng. Một số người có bản tính thích phô trương, bắt đầu có xu hướng nhập khẩu, tiêu dùng những hàng hóa xa xỉ. Họ có thể bỏ ra một khoản tiền lớn mua vật dụng tiêu dùng trong nhà đắt tiền như tivi, tủ lạnh trong khi vùng họ sinh sống bị mất điện triền miên; hoặc họ có thể mua ô tô khi cơ sở hạ tầng giao thông không thích hợp với việc di chuyển; hoặc họ mua điện thoại di động đắt tiền trong khi chất lượng dịch vụ điện thoại kém. Một nguyên nhân nữa, là nhiều nước, để thu hút luồng kiều hối, chính phủ đã duy trì nội tệ giảm giá (bởi không có ai mong muốn bán ngoại tệ thu được từ kiều hối cho hệ thống NHTM khi nội tệ lên giá), do đó, giá hàng hóa nhập khẩu quy ra nội tệ trở nên đắt hơn, không khuyến khích nhập khẩu hàng hóa đầu vào sản xuất. Bên cạnh đó, kinh tế dễ lạm phát qua kênh truyền dẫn tỷ giá (Samagan Aitymbetov, 2006).
b) Kiều hối có thể gây bất ổn cho cán cân thanh toán quốc tế
Ở tầm vĩ mô, kiều hối chính là một nguồn vốn vay bù đắp thâm hụt cán cân. Quốc gia có thể duy trì thâm hụt ngân sách lớn nếu đồng thời quốc gia duy trì được luồng kiều hối chảy vào. Nếu nguồn kiều hối chảy vào ít hơn hoặc ngừng, ngân sách thâm hụt sẽ dẫn tới cán cân vãng lai không cân bằng, và quốc gia đó phải dựa chủ yếu vào nguồn tiết kiệm từ nước ngoài (giả định rằng thâm hụt ngân sách không được bù đắp bằng cách in tiền và NHTW ít có quyền lực độc lập so với hiện nay). Cán cân thanh toán quốc tế phụ thuộc vào kiều hối là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế - là ngòi nổ cho suy thoái kinh tế ở nhiều nước đang phát triển. Một số Chính phủ chỉ coi trọng thu hút kiều hối là nguồn bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai, chứ không hề có chính sách sử dụng luồng kiều hối trở thành luồng vốn đầu tư phát triển kinh tế (Giuliano, P. and Ruiz-Arranz, 2006). Điều này sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn.
c) Kiều hối có thể có tác động tiêu cực tới sự phát triển thị trường tài chính
Kiều hối cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực đến mức độ phát triển tài chính của một quốc gia. Về nguyên lý, kiều hối sẽ giúp những người nhận giảm áp lực về giới hạn tài chính (đường giới hạn chi tiêu sẽ dịch sang phải). Do đó, khi áp lực tài chính giảm xuống thì nhu cầu tín dụng xuất phát từ những người đã được nhận kiều hối sẽ giảm xuống, diễn biến này có thể sẽ gây tác động tiêu cực phần nào đến sự phát triển thị trường tín dụng. Bên cạnh đó, kiều hối tăng lên không có nghĩa là tín dụng cho khu vực tư nhân tăng lên nếu lượng kiều hối đó được sử dụng cho những hoạt động của chính phủ. Hiệu ứng tương tự cũng sẽ xảy ra nếu các ngân hàng không sẵn sàng cấp tín dụng cho những người nhận tiền hoặc thích nắm giữ những tài sản có tính lỏng cao. Nếu xét đến tiền gửi, tiền gửi sẽ không tăng lên nếu kiều hối được sử dụng cho mục đích tiêu dùng hoặc những người nhận kiều hối không tin tưởng những tổ chức tài chính hoặc họ chọn cách khác để tiết kiệm tiền.
d) Kiều hối có thể tạo nên nhu cầu ảo và hiện tượng bong bóng bất động sản
Từ lâu, thị trường tài chính và thị trường bất động sản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Với các nước đang phát triển, thị trường chứng khoán - kênh thu hút vốn lớn của nền kinh tế chưa phát triển; lãi suất ngân hàng không hấp dẫn do tỷ lệ lạm phát cao; tâm lý người dân coi trọng nhà ở của riêng mình, coi nhà đất là một loại tài sản “thực”; các chính sách quản lý bất động sản chưa chặt chẽ thì nhu cầu đầu tư mua bất động sản tăng vọt. Về phía cung, bất động sản là hàng hóa không có khả năng tăng cung (đất ở) hoặc ít khả năng tăng cung trong ngắn hạn (nhà ở), vì nó đòi hỏi thời gian xây dựng và vốn đầu tư. Với một lượng tiền từ kiều hối đổ vào thị trường bất động sản tăng lên, trong khi cung bất động sản tăng với tốc độ lớn hơn, sẽ đẩy giá bất động sản cao hơn. Với tỷ suất sinh lời hấp dẫn, nhà đầu cơ tiếp tục đầu cơ, sử dụng bất động sản thế chấp tại ngân hàng vay tiền đầu tư tiếp dự án khác. Khi chính sách tín dụng bị thắt chặt, nhà đầu cơ gặp khó khăn về thanh khoản, bong bóng bất động sản bị vỡ, thị trường bất động sản bị đóng băng, gây ra nợ xấu cho ngân hàng và làm xấu đi tình trạng của thị trường bất động sản.
e) Kiều hối dễ làm trầm trọng vấn đề đô la hóa nền kinh tế
Ở nhiều quốc gia, Chính phủ các nước thực thi một loạt các chính sách thông thoáng và hấp dẫn thu hút kiều hối như: người nhận kiều hối không phải đóng thuế, không hạn chế số lượng kiều hối, người nhận kiều hối không phải bán lại ngoại tệ cho hệ thống NHTM, người nhận kiều hối được sử dụng ngoại tệ để đầu tư hay chi tiêu…tạo ra nguyên nhân ban đầu của hiện tượng đô la hóa nền kinh tế.
Hiện tượng đô la hóa nền kinh tế thường trực đi kèm với hoạt động của thị trường ngoại hối chợ đen. Nỗi lo lắng thường trực về tỷ lệ lạm phát cao ở trong nước, khả năng nội tệ có thể bị phá giá, khiến cho các chủ thể trong nền kinh tế có thiên hướng nắm giữ ngoại tệ để duy trì giá trị tài sản. Những nghiên cứu cho thấy, thị trường ngoại hối chợ đen ở nước nào càng phát triển, lượng kiều hối phi chính thức chảy vào đó càng nhiều, bởi thị trường ngoại hối chợ đen sẽ hỗ trợ các hoạt động làm ăn phi pháp (Luca, A., Petrova, I. 2008).
Về phía ngân hàng, NHTM luôn phải đối mặt với hiện tượng sai lệch kép. Việc thực thi chính sách tiền tệ cũng trở nên khó khăn hơn trong nền kinh tế bị đô la hóa. Cuối cùng và cũng là quan trọng nhất, mặc dù quốc gia có kiểm soát cán cân vốn, ngăn chặn không cho luồng vốn ngoại chảy vào/ra khỏi một quốc gia nhưng thực tế vẫn có luồng vốn ngoại “ngầm” chảy trong phạm vi quốc gia và do vậy sẽ rất khó khăn trong việc thực thi và phối hợp chính sách vĩ mô nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đã đặt ra.
f) Kiều hối có thể là kênh rửa tiền cho các hoạt động phi pháp
Kiều hối có được từ nguồn lao động chân chính, đây có thể nói là những thu nhập có nguồn gốc sạch, có thể chứng minh được, do đó việc chuyển về để sử dụng trong nước là hợp pháp.
Để thực hiện trót lọt quá trình rửa tiền, đối tượng rửa tiền thường chuyển tiền đan xen tiền bẩn với các nguồn tiền hợp pháp và chuyển qua lại giữa các hoạt động kinh doanh bằng nhiều tài khoản khác nhau, hoặc giữa tài khoản trong nước với tài khoản nước ngoài… Và tất nhiên, giới tội phạm có thể nhân danh hoặc trà trộn vào các khoản kiều hối thông thường để chuyển tiền về trong nước. Khi đó, các ngân hàng thường được chọn lựa không những vì khả năng có thể giao dịch với các khoản tiền rất lớn, mà còn vì một khi đồng tiền lọt được vào tài khoản của ngân hàng, nó lập tức trở thành một đồng tiền sạch, từ đó có thể thực hiện được ngay các lệnh thanh toán với số lượng lớn đến bất kỳ đâu, mà không gây ra bất cứ một sự nghi ngờ gì về tính hợp pháp của đồng tiền.
g) Kiều hối tạo ra tâm lý ỷ lại của người nhận kiều hối trong nước
Kiều hối hiển nhiên là nguồn thu nhập thường xuyên, ổn định của một số hộ gia đình nhận kiều hối. Song một vấn đề đạo đức được đặt ra mang tính tiêu cực về cách thức sử dụng nguồn tiền này. Chammi và các cộng sự (2003) cho thấy nghịch lý về nhận kiều hối. Nếu kiều hối được sử dụng đúng cách thì kinh tế phát triển. Song có một bộ phận nhận kiều hối, dựa vào nguồn tiền họ nhận được, coi đó là khoản bảo hiểm cho gia đình mình, một khoản phúc lợi kinh tế mà họ nhận được miễn phí, do đó, với những gia đình này, mặc dù có lợi thế về vốn, song mức sinh lời trong hoạt động sản xuất lại thấp hơn so với những gia đình không nhận kiều hối. Rồi nguồn kiều hối được sử dụng phung phí cho những hàng xa xỉ phẩm, như nhà, ô tô, hưởng thụ thay vì tiền được đưa vào sản xuất. Và vì có khoản tiền ổn định sẵn có, nên người nhận kiều hối không tích cực làm việc, học tập, trau dồi kỹ năng, kiến thức.
3. Một số khuyến nghị nhằm sử dụng kiều hối có hiệu quả để phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay
Kiều hối là nguồn thu ngoại tệ quan trọng với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Mỗi một nhân tố trong nền kinh tế đều có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực. Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện của nước mình, đều có khung pháp lý kiểm soát dòng kiều hối, ngăn ngừa tác động tiêu cực đối với nền kinh tế. Cụ thể như Việt Nam hiện nay, với lợi thế nổi bật là thị trường tiềm năng, tỷ suất đầu tư vào các lĩnh vực như bất động sản, thị trường chứng khoán, các chính sách mở cửa tương đối thông thoáng, chênh lệch lãi suất USD và VND giai đoạn 2010 - 2014 tương đối cao nên dòng kiều hối chảy vào tăng đều qua các năm (Đồ thị 2). Vì vậy, các chính sách nên tập trung vào việc thu hút, kiểm soát và nắn dòng tiền vào hoạt động đầu tư góp phần phát triển kinh tế.
Đồ thị 2: Giá trị kiều hối của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2016
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)
3.1. Về kiểm soát dòng kiều hối
Trên thực tế, dòng kiều hối chảy vào Việt Nam thông qua nhiều con đường. Các nước và Việt Nam đã từng áp dụng biện pháp kết hối đối với chuyển tiền kiều hối, nhưng dường như không có hiệu quả. Cách duy nhất để kiểm soát dòng kiều hối là làm thế nào để dòng vốn này phải được chu chuyển thông qua con đường chuyển tiền chính thức. Muốn vậy, kênh chuyển tiền chính thức phải hấp dẫn hơn các kênh chuyển tiền khác, và Chính phủ phải có những biện pháp đảm bảo an toàn về tài sản, nguồn gốc của dòng tiền. Ngoài ra chính sách kiểm soát dòng kiều hối được thiết kế dựa trên nền tảng thông thoáng, hấp dẫn, hoàn thiện hệ thống nhận và trả kiều hối ở các vùng miền. Có như vậy, chính sách thu hút dòng kiều hối qua con đường chính thức của nó là chính sách cho phép nhiều đối tượng tham gia thu hút và sử dụng kiều hối với mục đích cải thiện kinh tế cho người nhận tiền.
Khi nguồn kiều hối được chuyển về nước theo con đường chính thức, tức là dòng ngoại tệ được chảy qua khu vực tài chính ngân hàng. Như vậy, NHTW dễ dàng nắm bắt được số liệu và có biện pháp ứng phó, can thiệp nếu như dòng ngoại tệ này có dấu hiệu ảnh hưởng tới giá trị nội tệ. Tiếp nữa là hệ thống NHTM có thể sử dụng nhiều vốn hơn để mở rộng cho vay theo nhu cầu của nền kinh tế. Muốn vậy, cần có biện pháp mở rộng sự tham gia của các tổ chức, các cá nhân trong kênh chuyển tiền chính thức. Nếu như việc chuyển tiền chính thức qua hệ thống NHTM lại được kết hợp với các dịch vụ được cung cấp như mở tài khoản thanh toán, tài khoản tiết kiệm, cho vay hoặc đầu tư bất động sản… cho người nhận tiền và kết quả đạt được là cải thiện điều kiện kinh tế. Ở một số nước, các tổ chức tài chính vi mô được khuyến khích tham gia vào thị trường kiều hối bởi vì các tổ chức này chủ yếu cung cấp dịch vụ tài chính cho những người có thu nhập thấp và khó có thể tiếp cận được các dịch vụ tài chính ngân hàng thông thường. Các tổ chức tài chính vi mô thường nhận chuyển tiền kiều hối với chi phí thấp, và hướng dẫn người nhận tiền cách kiểm soát dòng tiền, gửi tiết kiệm hoặc đầu tư vào một số lĩnh vực sản xuất kinh tế hộ gia đình. Khi càng nhiều đối tượng được phép tham gia chuyển tiền, các đối tượng tự động cạnh tranh với nhau để cho chi phí chuyển tiền kiều hối giảm đi.
Ngoài ra, kiểm soát chặt việc chuyển tiền phi chính thức. Hiện nay ở Việt Nam còn hiện tượng chuyển tiền qua con đường phi chính thức là cá nhân. Đơn giản như những lưu học sinh, những người bán hàng nhập khẩu online, thường không qua hệ thống NHTM, mà chuyển theo cách hai đầu người gửi và người nhận ở hai nước khác nhau cả bằng nội tệ và ngoại tệ. Những đối tượng này thường chuyển tiền và sử dụng tỷ giá chợ đen để quy đổi vì thông thường do mức phí chuyển tiền qua hệ thống NHTM còn cao hơn so với chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá chợ đen.
3.2. Các kiến nghị liên quan tới việc sử dụng kiều hối
Việt Nam đã từng chứng kiến khoản tiền kiều hối được các cá nhân nhận tiền sử dụng lãng phí trong ngắn hạn như tổ chức cưới xin, ma chay đình đám. Hoặc tiền có thể mua xe ô tô, xe máy, đi chơi hội hè… thay vì tiền được tiết kiệm hoặc đầu tư sinh lời trong dài hạn. Do vậy cần có chính sách khuyến khích sử dụng tiền kiều hối vào việc tiết kiệm hoặc đưa vào đầu tư ở các lĩnh vực khác nhau bên cạnh việc hạn chế việc chuyển tiền kiều hối qua kênh không chính thức. Cần có chính sách khuyến khích chuyển tiền kiều hối qua kênh chính thức. Và muốn dòng kiều hối trở thành dòng vốn đầu tư, thì bản thân người nhận kiều hối phải thấy những kênh đầu tư hấp dẫn hơn.
Sự kiện giá trị kiều hối chuyển vào năm 2016 chỉ có khoảng hơn 9 tỷ USD, lần đầu tiên giảm sau 10 năm đã trở thành mối quan tâm liệu Việt Nam có còn là điểm đến đầu tư hấp dẫn nữa không? Để hạn chế đô la hóa NHNN đã giảm lãi suất tiền gửi USD về 0% song cũng có những ảnh hưởng nhất định tới hoạt động đầu tư bằng ngoại tệ. Trong khi đó, hiện nay mức lãi suất cơ bản USD là 0,5 - 0,75%/năm và dự kiến Fed sẽ tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất USD trong năm 2017 thì hiển nhiên dòng kiều hối vào Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, tỷ suất sinh lời từ thị trường bất động sản có xu hướng giảm vì nguồn cung bất động sản còn dư thừa. Trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi cho rằng, hiện nay khi phần lớn những cư dân nhận kiều hối đã nhận thức được tầm quan trọng của dòng vốn đầu tư, và họ đã dần trở thành tầng lớp có thu nhập trung bình trong xã hội, khát khao làm giàu chính đáng. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cho người Việt Nam ra nước ngoài. Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập năm 2015 và việc hội nhập kinh tế sâu rộng đã tạo nhiều cơ hội cho người dân Việt Nam ra nước ngoài làm ăn và ngược lại. Nếu hoạt động khởi nghiệp được hỗ trợ, với số vốn tích lũy từ kiều hối trong tay, với những kinh nghiệm sống từ những nước người lao động đã từng sinh sống và làm việc, cơ hội thành công sẽ cao hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Adams Jr. R and Page J (2005), “Do International Migration and Remittances Reduce Poverty in Developing Countries?” World Development. Vol. 33 (10): 1645-69.
2. Agrawal, R. and Horowitz, A.W.(1999) “Are International Remittances Altruism or Insurance? Evidence from Guyana Using Multiple-Migrant Households”. World Development 30 (11) 2033 - 2044
3. Alejandra Cox Edwards a, Manuelita Ureta (2003), International migration, remittances, and schooling: evidence from El Salvador, Journal of Development Economics 72 (2003) 429 - 461
4. Berg and Krueger (2003), “Trade, Growth and Poverty: A selective survey”, IMF Working paper WP/03/30
5. Buch, Claudia, Anja Kuckulenz and Marie-Hèlène Le Manchec (2002), “Remittances and Capital Flows”, Kiel Working Paper No. 1130, Kiel Institute for World Economics.
6. Chami, R.; Fullenkamp, C.; and Jahjah, S. (2003), “Are Immigrant Remittance Flows a Source of Capital for Development,”IMF Working Papers 03/189.
7. Chami, Ralph, Adolfo Barajas, et al.. (2008) “Macroeconomic Consequences of Remittances,” IMF Occasional Paper No. 259. (Washington: International Monetary Fund).
8. Dilip Ratha, “Worker remitances: An important and stable source of external development finance”, World Bank 2005.
9. Flore Gubert (2005), “Migrant remittances and their impact on development in their home country: the case of Africa”, Institut de Recherche pour le Développement et l’Insertion internationale, Paris
10. Giuliano, P. and Ruiz-Arranz, M (2009), “Remittances, Financial Development and Growth,” IZA Discussion Paper Series 2160.
11. Gupta, Sanjeev, Catherine Pattillo, and Smita Wagh, (2007), “Impact of Remittances on Poverty and Financial Development in Sub-Saharan Africa.”
12. Hoddinott và Francis, (1993), The Role of Destination, Gender, and Household Composition in Explaining Remittances: An Analysis for the Dominican Sierra , University of California at Berkeley
13. Hulme, D. Moore, K and Shepherd, A.(2001), “Chronic Poverty: Meanings and and Analytical Frameworks”, CPRC Working Paper 2 IDPM , University of Manchester.
14. Lopez, H., and Molina, L. (2006), “Remittances and the Real Exchange Rate: Are There Reasons to Be Concerned about Dutch Disease in Latin America?”, World Bank.
15. OECD 2005, Migration, remittance and Development
16. Orozco M and Fedewa R (2005), “Leveraging Efforts on Remittances and Financial Intermediation” Report Commissioned by the Inter-American Development Bank.
Ravallion, M. (1997), “Can High-Inequality Developing Countries Escape Absolute Poverty”? Washington.
Ravallion, Martin and Shaohua Chen (1997), ‘What Can New Survey Data Tell Us about Recent Changes in Distribution and Poverty?’, World Bank Economic Review, 11(2), 357-82.
Samagan Aitymbetov (2006), “Emigrant remittances: impact on economic development of Kyrgyzstan”, UNDP Working paper No. 31
Taylor JE, Mora J and Adams R (2005). “Remittances, inequality and Poverty: Evidence from Rural Mexico.” Unpublished Manuscript. University of California, Davis, CA United States
1 Học viện Ngân hàng