Sau khi trượt dài suốt từ ngày 23/5/2017 xuống mức giá thấp nhất trong phiên giao dịch ngày 20/6 vừa qua, giá dầu thế giới bắt đầu tăng trở lại. Trên sàn giao dịch Phố Wall ngày 23/6, giá dầu thô Brent đóng cửa ở mức giá 45,61 USD/thùng (tăng 39 cent so với phiên giao dịch trước), dầu ngọt WTI giao dịch ở mức giá 43,17 USD/thùng (tăng 43 cent so với phiên gaio dịch trước). Tuy nhiên, giá dầu đã giảm tổng cộng 20% so với đầu năm, mức giảm sâu nhất trong vòng 20 năm qua, bất chấp những nỗ lực của Tổ chức các nước Xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) trong việc cắt giảm sản lượng xuống 1,8 triệu thùng/ngày từ tháng 01/2017 và tiếp tục kéo dài thỏa thuận cắt giảm sản lượng dầu cho đến hết quý I/2018. Giá dầu giảm sâu là tín hiệu đáng lo ngại về triển vọng kinh tế toàn cầu, nhất là đối với các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs).
Theo nhận định của nhiều chuyên gia và nhà đầu tư, giá dầu suy yếu bắt nguồn từ những nghi ngại về khả năng của OPEC trong việc kiềm chế nguồn cung dầu dư thừa, vốn tràn ngập thị trường từ năm 2014, vượt xa so với nhu cầu thực tế.
Theo dự báo của Ngân hàng JP Morgan (Mỹ) trong báo cáo triển vọng nửa đầu năm 2017, giá dầu thế giới có thể quay về mức giá 40 USD/thùng vào đầu năm 2018, sau khi thỏa thuận OPEC kết thúc và sản lượng dầu đá phiến tại Mỹ tiếp tục đạt kỷ lục mới. Trên thực tế, những nỗ lực giảm sản lượng của các nhà cung cấp truyền thống như OPEC và CHLB Nga đang vấp phải đà tăng sản lượng của Mỹ. Nhờ các giàn khoan dầu đá phiến, sản lượng dầu của Mỹ trong năm 2016 đã tăng trên 10% lên 9,35 triệu thùng/ngày, gần bằng sản lượng dầu của quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới là Arập Xê út. Trong khi đó, Irắc, Lybia và Nigeria đồng loạt tăng lượng dầu khai thác, phá vỡ nỗ lực của các nước thành viên tham gia ký thỏa thuận kiềm chế cung ứng dầu.
Theo dự đoán của chuyên gia Mike Kelly đến từ Công ty Seaport Global Securities, sản lượng dầu thô trong năm tới sẽ bùng nổ. Trong đó, lượng dầu đá phiến tại Mỹ sẽ tăng thêm 1,8 triệu thùng/ngày, gần gấp đôi so với ước tính của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), sản lượng dầu tại những quốc gia khác cũng tăng thêm 2,2 triệu thùng/ngày. Nếu tình hình này vẫn tiếp tục kéo dài, giá dầu có thể giảm xuống 40 USD/thùng trong nhiều năm tới.
Theo ước tính của Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (EIA), tổng số dàn khoan dầu tại Mỹ đã lên tới con số 5.946 vào cuối tháng 5, mức cao nhất trong những năm gần đây.
IEA nhận định, sản lượng dầu toàn cầu trong sáu tháng cuối năm 2017 sẽ tăng thêm 1,3 triệu thùng/ngày, sau khi tăng 0,9 triệu thùng/ngày trong sáu tháng đầu năm nay. Tuy nhiên, sản lượng dầu trong năm 2018 chỉ tăng thêm 0,1 triệu thùng/ngày, khi nhu cầu thế giới đạt kỷ lục 99,3 triệu thùng/ngày.
Trong tháng 5/2017, lượng dầu cung ứng trên toàn cầu tăng 585 kb/ngày (17,55 triệu thùng/ngày) lên 96,69 triệu thùng/ngày, cao hơn 1,25 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước, khi các nước trong và ngoài OPEC đều tăng cường sản xuất dầu, nhất là tại Mỹ. Trong số này, sản lượng dầu của OPEC tăng 290 kb/ngày lên 32,08 triệu thùng/ngày, mức cao nhất trong năm nay, chủ yếu do sản lượng dầu tại Libya và Nigeria tăng trở lại, hai quốc gia này được miễn trừ khỏi thỏa thuận OPEC, mặc dù sản lượng dầu của những nước thành viên khác (thuộc OPEC) giảm 4% so với cùng kỳ năm trước.
IEA bày tỏ lo ngại, sản lượng dầu tăng cao sẽ gây áp lực lên giá dầu, trong khi giá dầu hiện nay đã giảm sâu so với mức giá vào cuối tháng 11/2016, khi các nước thành viên OPEC đạt được thỏa thuận cắt giảm sản lượng dầu.
Trong năm 2017, sản lượng dầu của Mỹ sẽ tăng thêm 780 kb/ngày so với năm nay lên 27,6 triệu thùng/ngày vào cuối năm, sản lượng dầu của các nước ngoài OPEC sẽ tăng thêm 0,7 triệu thùng/ngày, sản lượng dầu của Irắc sẽ tăng thêm 55%. Trong năm 2018, sản lượng dầu ngoài OPEC được dự báo tăng 1,5 triệu thùng/ngày, cao hơn so với nhu cầu tăng thêm. Với xu hướng cung cầu như vậy, sản lượng dầu trong năm 2018 có thể sẽ không giảm xuống mức cần thiết, mặc dù còn quá sớm để đưa ra nhận định này.
Theo báo cáo hàng tháng của OPEC, nhu cầu về dầu thô trên toàn cầu trong sáu tháng cuối năm sẽ đạt 97,4 triệu thùng/ngày, cao hơn nhu cầu 95,4 triệu thùng/ngày trong sáu tháng đầu năm. Trong đó, nhu cầu tại các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) tăng thêm 0,2 triệu thùng/ngày, chủ yếu là thị trường Mỹ, trong khi nhu cầu tại các nước thành viên OECD tại châu Âu tăng thấp, nhu cầu tại các nước thành viên OECD tại châu Á giảm nhẹ. Tại các nước ngoài OECD, nhu cầu về dầu trong sáu tháng cuối năm sẽ tăng thêm 1 triệu thùng/ngày, nhất là tại Ấn Độ và Trung Quốc.
Về nguồn cung, sản lượng dầu trong 6 tháng cuối năm 2017 tại các nước không thuộc OPEC sẽ tăng thêm 0,5 triệu thùng/ngày so với sáu tháng đầu năm lên mức trung bình 58,4 triệu thùng/ngày. Trong đó, sản lượng dầu của Mỹ tăng thêm 0,76 triệu thùng/ngày, sản lượng dầu của Brazil và Canada lần lượt tăng thêm 0,12 triệu thùng/ngày và 0,06 triệu thùng/ngày, bù đắp sản lượng dầu giảm tại CHLB Nga (giảm 0,13 triệu thùng/ngày), Trung Quốc (giảm 0,06 triệu thùng/ngày), Indonesia (giảm 0,06 triệu thùng/ngày), Na Uy (giảm 0,05 triệu thùng/ngày). Đây là lý do khiến các nước trong và ngoài OPEC nhất trí kéo dài thời gian điều chỉnh sản lượng dầu thêm 9 tháng (cho đến hết tháng 3/2018) nhằm ổn định thị trường dầu toàn cầu.
Các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) lo ngại, nếu sản lượng dầu tăng cao hơn kỳ vọng và thỏa thuận kiềm chế sản lượng dầu không còn phát huy tác dụng, thị trường dầu sẽ dư cung và giá dầu sẽ giảm sâu, gây thiệt hại đáng kể cho hầu hết các nước xuất khẩu dầu thuộc nhóm EMDEs, thậm chí trầm trọng hơn so với tác động của đợt suy giảm giá dầu trong hai năm vừa qua. Trong bối cảnh thu nhập từ dầu thô giảm, các nước xuất khẩu dầu có thể sẽ phải tung ra các biện pháp hỗ trợ tài khóa, nhưng vị thế tài khoản vãng lai xấu đi sẽ làm gia tăng áp lực vay vốn từ bên ngoài. Điều này có thể khiến đồng bản tệ mất giá và phải định giá lại các rủi ro tín dụng và nợ quốc gia.
Trên thực tế, giá dầu giảm sâu trong những tháng đầu năm 2016 đã khiến nhiều công ty dầu khí lâm vào cảnh bần cùng và đứng trước nguy cơ vỡ nợ, do đa số doanh nghiệp loại này áp dụng hệ số đòn bẩy khá cao. Mặc dù hệ thống ngân hàng tại nhiều nước xuất khẩu dầu thuộc nhóm EMDEs đã được củng cố và có thể trụ vững trước những biến động về giá dầu, nhưng căng thẳng tài chính sẽ tăng cao nếu xu hướng dầu giảm giá kéo dài.
Về nguyên lý, các nước nhập khẩu dầu sẽ hưởng lợi nhờ giá dầu thấp, qua đó cân bằng tác động đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, những yếu kém đang hình thành và khó khăn tại các nước xuất khẩu dầu mỏ thuộc nhóm EMDEs có thể sẽ lan truyền tác động đối ngược sang những nước khác thông qua các hoạt động thương mại, đầu tư, thị trường tài chính và dòng kiều hối. Hơn nữa, tác động của giá dầu giảm đối với các nước nhập khẩu có thể không bù đắp được tác động tiêu cực đến các nước xuất khẩu dầu.
Trong bối cảnh nguồn cung dầu có khả năng tiếp tục tăng cao và vượt nhu cầu trên toàn cầu, báo cáo cập nhật do WB đưa ra vào đầu tháng 6 vừa qua đã hạ dự báo giá dầu năm 2017 xuống 53 USD/thùng, giảm 2 USD/thùng so với dự báo đưa ra hồi tháng 01/2017, mặc dù vẫn tăng 24% so với năm 2016. WB cũng hạ dự báo giá dầu năm 2018 xuống 56 USD/thùng, giảm 4 USD so với dự báo đưa ra cách đây 5 tháng. Tuy nhiên, giá dầu có thể tăng nếu nguồn cung bị gián đoạn do bất ổn chính trị tại Trung Đông và một số nước xuất khẩu dầu khác, nhưng xác suất này rất thấp.
Xuân Thanh
Nguồn: Bloomberg, IEA, OPEC, Reuters, WB, WS. Journal