Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội Bùi Xuân Thống, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai đối với hoạt động ngân hàng.
Về ý kiến chất vấn của Đại biểu Quốc hội nêu tại văn bản số 1396/TTKQH-GS ngày 14/11/2017 của Tổng Thư ký Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời như sau:
1. Về một số vụ mất tiền tại chi nhánh Vietinbank Phú Thọ, Đồng Nai và tại chi nhánh Oceanbank Hải phòng:
Do lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm, hấp dẫn đối với các loại tội phạm bên ngoài và cám dỗ với một bộ phận cán bộ, nhân viên ngân hàng thoái hóa biến chất nên công tác đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động ngân hàng nói chung và công tác đấu tranh, phòng, chống các loại tội phạm trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng nói riêng, trong đó có các hoạt động huy động tiền gửi, thanh toán, thẻ... luôn được ngành Ngân hàng coi là nhiệm trọng tâm thường xuyên hàng đầu trong công tác chỉ đạo, điều hành. Hàng năm, Thống đốc NHNN đã ban hành nhiều Chỉ thị, văn bản chỉ đạo các đơn vị trong toàn Ngành đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả; đồng thời, NHNN cũng thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương trong công tác phòng, chống, ngăn ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Nhờ đó, trong văn bản số 3021/BCA-C41 ngày 08/12/2016, Bộ Công an đã nhận định: Từ năm 2015 đến nay, tội phạm kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng đã có dấu hiệu giảm so với trước cả về số vụ, số thiệt hại và số vụ việc lớn, nghiêm trọng. Hầu hết các vụ án kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng điều tra gần đây đều xảy ra từ các năm trước nay mới được phát hiện, số vụ mới phát sinh xảy ra ít hơn.
Các biện pháp cụ thể đấu trang, phòng, chống các hành vi vi phạm, tội phạm ngân hàng đã và đang được NHNN chỉ đạo triển khai thường xuyên, liên tục trong toàn ngành, gồm:
- Chỉ đạo toàn hệ thống TCTD: (i) Chủ động rà soát quy trình nội bộ, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, quản lý rủi ro hoạt động, bảo đảm an ninh, an toàn kho quỹ tại trụ sở các chi nhánh, phòng giao dịch nhằm phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội (cướp tiền, tài sản); (ii) Tuyên truyền, phổ biến, giới thiệu công khai các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là các quy trình thủ tục, bảo mật thông tin khách hàng nhằm phòng tránh, hạn chế rủi ro trong quá trình giao dịch; (iii) Nâng cấp, kiểm tra hoạt động của hệ thống ATM, thiết bị đọc thẻ, sử dụng công nghệ thẻ thông minh, chuyển từ công nghệ thẻ từ sang thẻ chip… ; (iv) Xây dựng các kênh tiếp nhận, xử lý thông tin để người dân có thể phản ánh, cập nhật các hành vi vi phạm pháp luật, các hành vi tội phạm (gian lận, giả mạo, lừa đảo), biện pháp nhận biết rủi ro, cách phòng tránh và xử lý khi bị lợi dụng trong quá trình giao dịch với ngân hàng; (v) Kiểm tra, rà soát việc thực hiện quy trình, quy định nội bộ, quy định pháp luật của cán bộ, nhân viên ngân hàng trong các giao dịch, nghiệp vụ ngân hàng và thường xuyên luân chuyển cán bộ (nhất là đối với cán bộ thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến huy động vốn, cho vay) nhằm hạn chế tối đa các vụ việc gian lận, lừa đảo có sự tiếp tay hoặc cố tình vi phạm của cán bộ ngân hàng.
- Thường xuyên đánh giá, tổng kết các hành vi sai phạm, tội phạm, rủi ro trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng để kịp thời thông báo, cảnh báo, chấn chỉnh trong toàn hệ thống TCTD. Ban hành Chỉ thị về tăng cường phòng, chống, ngăn ngừa vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động ngân hàng, góp phần ổn định tiền tệ, tài chính. Tổ chức Hội nghị tăng cường công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng trong toàn hệ thống với sự tham dự của Bộ Công an và các Bộ, Ban, ngành địa phương liên quan nhằm quán triệt và yêu cầu các TCTD phát hiện, xử lý, ngăn ngừa và hạn chế các hành vi vi phạm mà NHNN đã cảnh báo. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tiền tệ, ngân hàng và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và ngành ngân hàng đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tội phạm. Nâng cao trình độ nghiệp vụ và tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ để thích ứng kịp thời với sự phát triển của hệ thống tài chính - ngân hàng trong bối cảnh mới...
- Đưa nội dung chấp hành các văn bản chỉ đạo, cảnh báo của NHNN về tăng cường phòng ngừa, ngăn chặn các vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng vào kế hoạch thanh tra hàng năm của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng. Đồng thời, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về bảo đảm an ninh, an toàn cho hệ thống thanh toán điện tử cũng như các thiết bị đọc thẻ trong quá trình cung ứng dịch vụ.
- Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là cơ quan Công an để phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tội phạm trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Những vi phạm có dấu hiệu hình sự đã được NHNN chỉ đạo các TCTD chủ động chuyển hồ sơ, cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan điều tra các cấp của Bộ Công an để điều tra xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Đối với các vụ việc lừa đảo, làm thẻ tín dụng giả, tấn công mạng ngân hàng để chiếm đoạt tiền trong tài khoản của người gởi... mà đại biểu nêu: Ngay sau khi có các thông tin liên quan đến các vụ việc phát sinh tại các TCTD, NHNN đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền và xử lý các hành vi vi phạm, tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động ngân hàng, như: chỉ đạo các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố thực hiện thanh tra/kiểm tra làm rõ, xác minh thông tin các vụ việc xảy ra; phối hợp với cơ quan điều tra xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật; có biện pháp xử lý nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người gửi tiền...
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương và chỉ đạo hệ thống ngân hàng tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nêu trên nhằm giảm thiểu và hạn chế tối đa những vụ việc sai phạm, ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền nói riêng và bảo đảm an ninh, an toàn, hoạt động ngân hàng nói chung.
2. Giải pháp để đẩy mạnh việc thanh toán qua thẻ và việc bố trí vị trí lắp các trụ ATM:
a. Về việc bố trí ATM và các giải pháp đẩy mạnh việc thanh toán thẻ:
Trong thời gian qua, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đã không ngừng đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ thanh toán thẻ (máy ATM, máy POS) và tăng cường phát hành thẻ. Tính đến nay, cả nước có khoảng 17.400 ATM; 260.000 POS/mPOS và 127 triệu thẻ.
Hiện nay suất đầu tư cho 1 máy ATM hoạt động là khá lớn,cụ thể: tùy theo tính năng kỹ thuật, chủng loại, xuất xứ... chi phí mua 01 máy ATM khoảng 670 triệu/1máy/năm chưa tính đến các chi phí khác như tiền mặt, tiếp quỹ, bảo vệ,... Do đó trong điều kiện nguồn lực của các ngân hàng hạn chế như hiện nay thì việc đầu tư 17.400 máy ATM như trên là một sự cố gắng lớn của ngành Ngân hàng. Để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng và đặc biệt là đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) trong nền kinh tế theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, các ngân hàng vẫn đang và sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng mạng lưới ATM, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận dịch vụ ngân hàng.
Tuy nhiên, trong thời gian qua vẫn còn có tình trạng xếp hàng để rút tiền tại các ATM, nhưng chủ yếu chỉ tập trung vào 02 kỳ lương trong tháng và Tết Nguyên đán tại một số khu công nghiệp đông công nhân. Để từng bước khắc phục triệt để tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước đã thường xuyên theo dõi và chỉ đạo các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thực hiện:
(i) Bố trí thêm ATM lưu động phục vụ trong các dịp cao điểm; tăng cường và sắp xếp mạng lưới ATM; áp dụng trả lương tại quầy giao dịch của ngân hàng; giám sát chặt chẽ hạn mức tồn quỹ của ATM để kịp thời tiếp quỹ phục vụ kịp thời nhu cầu rút tiền của khách hàng.
(ii) Trao đổi, thống nhất với doanh nghiệp chia thời gian trả lương thành nhiều khung thời gian để giảm tải việc rút tiền cho ATM.
(iii) Phát hành thẻ cho khách hàng phải tính đến bảo đảm khả năng và điều kiện đáp ứng về cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ tốt cho thanh toán thẻ.
(iv ) Đẩy mạnh việc sử dụng thẻ trong các giao dịchTTKDTM, giảm dần việc rút tiền mặt tại các ATM: cho phép sử dụng thẻ trên các kênh ATM, POS, Mobile, Internet; thêm các tính năng, tiện như chuyển tiền, nạp tiền, thanh toán hóa đơn...
Thống kê số liệu về thanh toán cho thấy: (1) TTKDTM bao gồm thanh toán thẻ đã tăng trưởng mạnh mẽ (tốc độ tăng trưởng giá trị TTKDTM của năm 2016 so với năm 2015 qua kênh POS đạt 30%, qua Internet đạt 43%, và qua Mobile 126%); (2) Cùng theo đó việc rút tiền mặt tại ATM có xu hướng giảm mạnh, góp phần giảm dần thanh toán bằng tiền mặt (từ 32% của năm 2012/2011 xuống 26% của năm 2015/2014 và 15,7% của năm 2016/2015 ).
Với các biện pháp, kết quả như trên đã góp phần giảm tải ATM, giảm áp lực rút tiền mặt và tình hình 02 năm gần đây cho thấy hiện tượng tắc/nghẽn ATM để rút tiền mặt đã từng bước được cải thiện và giảm rõ rệt.
b. Về phí giao dịch thẻ còn cao:
- Theo các quy định của pháp luật hiện hành, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức phí cung ứng dịch vụ cho khách hàng biết, trong đó có phí dịch vụ thẻ. Theo đó, khách hàng chỉ phải trả phí cho dịch vụ mà mình sử dụng.
- NHNN đã ban hành Thông tư số 35/2012/TT-NHNN ngày 28/12/2012 quy định về phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa, trong đó, quy định 06 loại phí cơ bản, như phí phát hành thẻ, phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí chuyển khoản, phí vấn tin tài khoản và phí sao kê. Thông tư cũng quy định các tổ chức phát hành thẻ cần có biện pháp phân loại đối tượng khách hàng để có hình thức hỗ trợ phù hợp đối với sinh viên nghèo, công nhân, người lao động có thu nhập thấp.
- Theo quy định, mức phí cho giao dịch rút tiền mặt tối đa là 3.000 đồng/giao dịch (chưa gồm VAT). Mức phí này được quy định từ năm 2012 và từ đó đến nay vẫn chưa thay đổi trong khi đó các chi phí cho đầu tư, duy trì hoạt động của ATM đều tăng hàng năm (tỷ giá tăng, tiền lương tối thiểu tăng qua các năm, tiền điện tăng…).
Thực tế, hầu hết các ngân hàng (36/43 ngân hàng) miễn phí rút tiền ATM nội mạng, 7 ngân hàng thu ở mức 1.000đ/giao dịch nội mạng; phí giao dịch ngoại mạng là 3.000 đồng/giao dịch (chỉ chiếm khoảng gần 10% tổng số giao dịch). Theo tính toán của một số ngân hàng và tổ chức, chi phí đầu tư để thực hiện một giao dịch rút tiền trung bình khoảng từ 7.000-8.000 đồng/giao dịch.
(Tham khảo tại một số quốc gia trong khu vực cho thấy, mức phí tối đa rút tiền mặt hiện nay ở Thái Lan khoảng 20Bth/giao dịch, tương đương 13.720 đồng/giao dịch; Malaysia khoảng 1,06RM/giao dịch, tương đương 5.700 đồng/giao dịch; Philippines khoảng 10 Peso, tương đương 4.400 đồng/giao dịch).
- Mặt khác, để tăng tiện ích của thẻ cho người sử dụng, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải bỏ thêm chi phí để đầu tư phần cứng, phần mềm, an ninh mạng và nhân lực công nghệ thông tin. Do đó việc thu phí thẻ hiện nay của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán chỉ bù đắp được phần nào chi phí đầu tư.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục nắm bắt, theo dõi tình hình và lắng nghe phản ánh của dư luận để kịp thời có những chính sách, giải pháp phù hợp góp phần thúc đẩy thanh toán thẻ và bảo đảm quyền lợi chính đáng của người sử dụng thẻ.
3. Giải pháp để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư các dự án BOT giao thông:
Thời gian qua, các tổ chức tín dụng (TCTD) đã thực hiện cho vay vốn tài trợ cho các dự án hạ tầng giao thông. Nguồn vốn này đã góp phần đảm bảo tiến độ, khối lượng đầu tư xây dựng các công trình giao thông, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển hạ tầng giao thông phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đến cuối tháng 9/2017, dư nợ đối với các dự án BOT, BT giao thông đạt 90.311 tỷ đồng tăng 3,53% so với cuối năm 2016, tăng 3,79% so với cùng kỳ 2016, chiếm tỷ trọng 1,46%.
Tuy nhiên, việc cấp tín dụng của các TCTD đối với lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt là các dự án BOT giao thông còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc và những rủi ro liên quan như: (i) Năng lực tài chính của Nhà đầu tư hạn chế, ít khả năng hỗ trợ dự án khi có biến động trái chiều (tổng mức đầu tư tăng, giảm phí…); (ii) Nhà đầu tư không đảm bảo vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu rất thấp chỉ chiếm 10 -15% tổng mức đầu tư, phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay từ các TCTD; (iii) Một số dự án có nguồn thu trong các năm đầu vận hành không đủ trả lãi vay ngân hàng; (iv) Dự án bị chậm tiến độ, giải phóng mặt bằng kéo dài; phải cơ cấu kéo dài thời gian trả nợ, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng,...
Để đảm bảo hoạt động cấp tín dụng an toàn, hiệu quả, bền vững, giảm thiểu rủi ro trong việc cấp tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông, bám sát chủ trương của Chính phủ1, từ năm 2015 đến nay, NHNN đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các TCTD tăng cường các biện pháp quản lý, hạn chế rủi ro trong việc cấp tín dụng đối với lĩnh vực này.
- Về tăng thời gian vay vốn: Theo quy định tại Luật các TCTD năm 2010, các TCTD có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Việc cấp tín dụng của các TCTD, trong đó có thời hạn vay vốn đối với khách hàng được quyết định trên cơ sở phương án sử dụng vốn khả thi, chu kỳ hoạt động kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn, khả năng trả nợ của khách hàng, nguồn vốn cho vay của TCTD, biện pháp bảo đảm tiền vay của khách hàng và việc tuân thủ các tỷ lệ đảm bảo an toàn của TCTD theo quy định của NHNN. Việc cho vay đối với các dự án BOT cũng thực hiện theo cơ chế hiện hành về cấp tín dụng.
Tuy nhiên, các dự án BOT giao thông thường có tổng mức đầu tư lớn, thời gian vay dài, trong khi vốn huy động của các TCTD chủ yếu là ngắn hạn. Do vậy, các TCTD gặp khó khăn khi đáp ứng nguồn vốn dài hạn.
Thời gian tới, để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiếp cận nguồn vốn vay thương mại, thời gian vay vốn theo thời gian dự án BOT, NHNN sẽ: (i) tiếp tục chỉ đạo các TCTD xem xét cho vay các dự án BOT nếu có phương án tài chính là khả thi, hiệu quả và các nhà đầu tư có năng lực thực sự, đủ điều kiện vay vốn theo quy định; Nâng cao năng lực đánh giá, thẩm định tín dụng và sàng lọc, lựa chọn các dự án hiệu quả; (iii) Phối hợp với các Bộ, ngành nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc đầu tư các dự án theo hình thức PPP như sửa đổi Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) và Nghị định 30/2015/NĐ-CP ngày 17/03/2015 quy định chi tiết thi hành một số Điều Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư.
Bên cạnh các giải pháp ngành Ngân hàng đang triển khai, để hoạt động cấp tín dụng cho dự án BOT hiệu quả, các cơ quan liên quan và nhà đầu tư cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể sau:
+ Chính phủ sớm hoàn thiện cơ chế về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và các quy định có liên quan đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
+ Các Bộ, ngành, địa phương và nhà đầu tư có lộ trình triển khai áp dụng các trạm thu phí không dừng trên tất cả các dự án BOT đã và đang đầu tư nhằm kiểm soát hiệu quả nguồn thu của các dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng trong việc xem xét thẩm định và quyết định cho vay.
+ Các Bộ, ngành, địa phương thực hiện đúng các quy định của Nhà nước trong việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án; đẩy nhanh thủ tục về đất đai, cấp giấy chứng nhận đầu tư, giải phóng mặt bằng,… để hoàn thiện cơ sở pháp lý của dự án, đảm bảo tiến độ và hiệu quả của các dự án.
+ Các nhà đầu tư cần tăng vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án, nâng cao năng lực tài chính, đáp ứng các điều kiện trong tiếp cận vốn ngân hàng.
4. Về mức chi trả bảo hiểm tiền gửi:
Ngày 15/6/2017, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg nâng hạn mức trả tiền bảo hiểm tiền gửi từ mức 50 triệu đồng lên 75 triệu đồng. Việc quy định hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi tại Quyết định 21/2017/QĐ-TTg được xem xét trên cơ sở: (i) năng lực tài chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi; (ii) thực trạng tình hình kinh tế vĩ mô ở Việt Nam; (iii) quy mô tiền gửi; (iv) thông lệ, chuẩn mực quốc tế.
Theo thông lệ quốc tế và khuyến nghị của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế, hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi nên có giới hạn, đáng tin cậy và bảo hiểm cho phần lớn người gửi tiền (bảo vệ toàn bộ 90-95% người gửi tiền), nhưng phải đảm bảo có một tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi tuân theo kỷ luật thị trường (nghĩa là chịu rủi ro theo biến động thị trường). Do đó, số tiền được bảo hiểm tiền gửi không tính theo tỷ lệ giá trị tiền gửi của người gửi tiền, mà tính theo số tiền cụ thể.
Với hạn mức 75 triệu đồng, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có khả năng bảo vệ toàn bộ được 87,32% số lượng người gửi tiền (theo số liệu tính toán tại thời điểm tháng 6/2016). Hạn mức này khá gần với khuyến nghị của Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi quốc tế.
Để nâng hạn mức trả tiền bảo hiểm lên trên mức 75 triệu đồng thì cần phải nâng cao năng lực tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thông qua tăng phí bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, việc điều chỉnh tăng phí bảo hiểm trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn không ít khó khăn như hiện nay sẽ tăng thêm gánh nặng cho TCTD, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống TCTD và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. NHNN sẽ xem xét trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh tăng hạn mức trả tiền bảo hiểm tiền gửi khi điều kiện cho phép.
Ngoài việc được nhận bảo hiểm tiền gửi chi trả theo hạn mức quy định, khi phá sản người gửi tiền còn có thể được nhận lại tiền gửi theo thứ tự phân chia tài sản quy định tại khoản 1 Điều 101 Luật phá sản.
Quan điểm, mục tiêu xuyên suốt trong chỉ đạo của Đảng, nhà nước là phải đảm bảo quyền và lợi ích người gửi tiền. Do đó, trong bất cứ trường hợp nào, phương án xử lý các TCTD đều phải đặt mục tiêu ưu tiên hàng đầu là đảm bảo an toàn hệ thống, củng cố lòng tin của người dân vào hệ thống ngân hàng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, không gây đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát. Quan điểm này cũng đã được thể hiện rõ trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD vừa được Quốc hội thông qua.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Bùi Xuân Thống. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu đối với hoạt động ngân hàng.
1 Nghị quyết số 51/NQ-CP ngày 02/7/2015; Thông báo số 137/TB-VPCP ngày 17/6/2016.