Sau thời gian suy giảm do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, thế giới đang chứng kiến xu hướng tăng trưởng GDP đồng đều và rộng khắp tại các quốc gia và khu vực, bất chấp những bất ổn chính trị tại một số nơi trên thế giới. Trong bối cảnh đó, hầu hết các dự báo đều đưa ra triển vọng kinh tế lạc quan với đỉnh cao là năm 2018. Tuy nhiên, bức tranh lạm phát năm 2018 có vẻ chưa rõ ràng, do mức độ bất định khá cao.
Theo tổng hợp của Bloomberg về kỳ vọng của các nhà đầu tư và một số chuyên gia, GDP toàn cầu năm 2018 có thể sẽ tăng 4,0%, mức tăng cao nhất kể từ năm 2011. Trong đó, GDP có thể tăng trung bình 2,3% tại các nước phát triển, và tăng trung bình 5,6% tại các nước mới nổi. Trong năm 2018, kinh tế Mỹ có thể tăng 2,5%, kinh tế khu vực euro tăng 2,2%, kinh tế Nhật Bản tăng 1,5%. Thậm chí, GDP năm 2018 tại Vương quốc Anh có thể tăng 1,4%, mặc dù quốc gia này đang trong quá trình đàm phán rời Liên minh châu Âu (EU) với nhiều tình tiết khó dự báo. Trong nhóm các nước mới nổi, kinh tế Ấn Độ có thể tăng tới 8,0%, kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng 6,5%, kinh tế Brazil và CHLB Nga tiếp tục phục hồi vững chắc sau nhiều năm chìm trong suy thoái và có thể tăng lần lượt 3,3% và 2,7% trong năm 2018.
Cùng với đà phục hồi kinh tế, hoạt động sản xuất ngày càng tăng, hầu hết các nước đã khắc phục được tình trạng dư thừa năng lực sản xuất, đẩy giá hàng hóa lên mức cao nhất trong ba năm qua khi các doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư và thu gom hàng hóa đầu vào để mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trên các thị trường tài chính toàn cầu, giá cổ phiếu phục hồi mạnh trong những năm gần đây và liên tục lập thêm những kỷ lục mới.
Đối với nền kinh tế toàn cầu, những năm nới lỏng chính sách tiền tệ chưa có tiền lệ đã thúc đẩy hoạt động kinh tế, và qua đó sẽ hỗ trợ tăng lạm phát. Rủi ro lạm phát đã trở lại nhanh hơn so với kỳ vọng của các ngân hàng trung ương (NHTW), đặt ra khả năng là phải rút ngắn lộ trình tăng lãi suất và cắt giảm các chương trình kích thích định lượng (QE), không như kế hoạch và kỳ vọng của các nhà đầu tư. Trong khi đó, sự phục hồi hệ thống tài khóa tại Mỹ sẽ hỗ trợ tài khóa, mở rộng chi tiêu hạ tầng và việc cắt giảm thuế doanh nghiệp sẽ thúc đẩy các hoạt động đầu tư, qua đó sẽ hỗ trợ tăng lạm phát.
Bên cạnh xu hướng gia tăng nhu cầu, giá hàng hóa còn hưởng lợi sau cam kết của nhiều nước trong và ngoài OPEC là tiếp tục kiềm chế sản lượng dầu cho đến hết năm 2018. Sau khi tăng lên mức giá gần 70 USD/thùng vào năm 2017, giá dầu thô Brent trong năm 2018 được dự báo sẽ tăng lên ngưỡng 80 USD/thùng. Ngoài ra, nhiều nước cũng đang siết chặt hoạt động khai thác khoáng sản nhằm bảo vệ môi trường, giá lúa mì và các loại ngũ cốc khác đang tăng cao do diễn biến thời tiết lạnh giá tại Mỹ và các nước sản xuất hàng hóa nông nghiệp hàng đầu thế giới.
Tuy nhiên, trái với kỳ vọng của thị trường và đa số các nhà đầu tư, các chuyên gia và tổ chức kinh tế quốc tế tỏ ra thận trọng về diễn biến lạm phát trong tương lai. Theo báo cáo cập nhật của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), lạm phát trung bình tại các nước phát triển được dự báo chỉ tăng nhẹ, nhưng đến cuối năm 2019 vẫn dưới ngưỡng 2%. Trong đó, lạm phát tại Mỹ sẽ vượt ngưỡng mục tiêu 2%, nhưng tại khu vực euro và Nhật Bản vẫn thấp hơn mục tiêu đề ra.
Một số chuyên gia cảnh báo, GDP toàn cầu có thể tăng chậm lại. Đáng chú ý, xu hướng giảm tốc của kinh tế Trung Quốc có thể ảnh hưởng đến các nước trong khu vực và gây tác động lan tỏa và tạo ra cơn gió ngược đối với thị trường và giá cả hàng hóa toàn cầu. Mặt khác, giá dầu tăng sẽ khuyến khích hoạt động khai thác dầu đá phiến tại Mỹ, góp phần tăng nguồn cung và cản trở đà tăng giá dầu.
Vốn chạy theo lợi nhuận ngắn hạn, những kỳ vọng về khả năng kinh tế toàn cầu sau năm 2018 sẽ bắt đầu giảm tốc sẽ khiến các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội bán ra để chốt lời. Vì thế, tần suất điều chỉnh trên thị trường chứng khoán năm 2018 sẽ tăng lên, không loại trừ nguy cơ giảm tốc, nếu thị trường nhận thêm những yếu tố hỗ trợ khác.
Vấn đề mà thế giới phải đối mặt trong những năm tháng tới đây là, tình trạng nợ nần chồng chất sẽ dẫn đến những vấn đề căng thẳng trên thị trường, làm tăng mức độ tổn thương mang tính hệ thống và gây ra những cú sốc trầm trọng.
Theo trích dẫn của Bloomberg về kết quả phân tích của Viện Tài chính Quốc tế (IIF), nợ toàn cầu đã tăng lên mức kỷ lục 233 nghìn tỷ USD trong quý III/2017, tăng 16 nghìn tỷ USD so với cuối năm 2016, và đang chiếm 318% GDP. Trong đó, nợ tư nhân thuộc khu vực phi tài chính đã đạt mức cao nhất mọi thời đại tại Canada, Pháp, Hồng Kông, Hàn Quốc, Thụy Sĩ và Thổ Nhĩ Kỳ. Tình trạng nợ nần tại Trung Quốc đã được cải thiện một bước, nhưng vẫn chiếm khoảng 294% GDP.
IIF cảnh báo, các nước mới nổi sẽ phải chịu áp lực trả nợ lớn khi mà 1,5 nghìn tỷ USD trái phiếu và các khoản vay hợp vốn (syndicated loan) sẽ đáo hạn vào cuối năm 2018. Trong đó, Trung Quốc, CHLB Nga, Hàn Quốc và Brazil sẽ phải thanh toán nhiều khoản nợ bằng USD trong năm nay. Khối nợ khổng lồ này có thể bắt buộc các NHTW phải cân nhắc thật kỹ trước khi tăng lãi suất, nhằm giảm bớt khó khăn của các công ty và chính phủ (có mức nợ cao) trong việc trang trải nợ nần.
Cuối cùng phải tính đến nguy cơ giảm phát, mặc dù rủi ro này ở mức thấp trong thế giới hiện nay. Theo chiều hướng này, có thể đưa ra hai kịch bản liên quan.
Thứ nhất, do chu kỳ tăng trưởng sẽ phai nhạt dần, kinh tế thế giới sẽ yếu ớt trở lại và rơi vào thời kỳ giảm phát. Khó khăn về cơ cấu, bao gồm nợ nần tăng cao và những vấn đề mang tính thế tục (năng suất tăng chậm dần, xu hướng già hóa dân số). Môi trường giảm phát cũng sẽ hình thành, một khi Mỹ và khu vực euro bất ngờ thắt chặt tiền tệ và các gói QE.
Thứ hai, lạm phát tăng tốc và chủ nghĩa bảo hộ tăng cao, khi các nước tăng cường các rào cản thương mại, làm suy giảm các hoạt động kinh tế và thương mại, giá nhập khẩu và lạm phát tăng. Trong những năm tới đây, các nước phát triển và đang phát triển sẽ chật vật chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng toàn diện hơn. Điều này đòi hỏi các chính phủ phải nỗ lực trong việc thực hiện những giải pháp hỗ trợ kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, qua đó có thể đẩy lùi những trở ngại bắt nguồn từ xu hướng chia rẽ chính trị và phân hóa xã hội, vốn đang hình thành và dâng cao trong những năm qua.
Tóm lại, triển vọng lạm phát sẽ được dẫn dắt bởi đà tăng giá dầu trong những năm gần đây, nhưng chỉ gây tác động ngắn hạn, và chi phí lương tăng dần bắt nguồn từ xu hướng cải thiện trên thị trường lao động, mặc dù áp lực tăng lương cho đến nay về cơ bản vẫn khiêm tốn. Tuy nhiên, lạm phát được dự báo với tính bất định khá cao, do mối quan hệ yếu ớt giữa giá cả và tăng trưởng kinh tế, và dự báo lạm phát tăng quá cao so với thực tế trong hai năm qua.
Xuân Thanh (Nguồn: Bloomberg, OECD)