Trong báo cáo cập nhật của Ngân hàng Thế giới (WB) về triển vọng kinh tế toàn cầu, khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (EAP) tiếp tục được cho là động lực dẫn dắt tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong tương lai, mặc dù tăng trưởng tiềm năng chậm dần.
Tại báo cáo này, WB đã điều chỉnh nâng dự báo tăng trưởng kinh tế khu vực EAP năm 2017 lên 6,4%, chủ yếu nhờ môi trường quốc tế cải thiện mạnh. Tuy nhiên, đà tăng này sẽ giảm dần xuống tỷ lệ 6,2% vào năm 2018 và 6,1% trong hai năm sau đó, trong khi kinh tế toàn và hầu hết những khu vực khác trên thế giới năm 2018 tăng cao hơn so với năm 2017.
Kết quả và dự báo tăng trưởng GDP tại EAP (% so năm trước)
|
Kết quả và dự báo |
Thay đổi * |
|||||||
|
2015 |
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
2020 |
2017 |
2018 |
2019 |
Thế giới |
2,8 |
2,4 |
3,0 |
3,1 |
3,0 |
2,9 |
0,3 |
0,2 |
0,1 |
Các nước phát triển |
2,2 |
1,6 |
2,3 |
2,2 |
1,9 |
1,7 |
0,4 |
0,4 |
0,2 |
Các EMDE |
3,6 |
3,7 |
4,3 |
4,5 |
4,7 |
4,7 |
0,2 |
0,0 |
0,0 |
Đông Á - Thái Bình Dương |
6,5 |
6,3 |
6,4 |
6,2 |
6,1 |
6,0 |
0,2 |
0,1 |
0,0 |
Trung Quốc |
6,9 |
6,7 |
6,8 |
6,4 |
6,3 |
6,2 |
0,3 |
0,1 |
0,0 |
Indonesia |
4,9 |
5,0 |
5,1 |
5,3 |
5,3 |
5,3 |
-0,1 |
0,0 |
-0,1 |
Thái Lan |
2,9 |
3,2 |
3,5 |
3,6 |
3,5 |
3,4 |
0,3 |
0,3 |
0,1 |
Việt Nam |
6,7 |
6,2 |
6,7 |
6,5 |
6,5 |
6,5 |
0,4 |
0,1 |
0,1 |
Malaysia |
5,0 |
4,2 |
5,8 |
5,2 |
5,0 |
4,7 |
0,9 |
0,3 |
0,0 |
Philippines |
6,1 |
6,9 |
6,7 |
6,7 |
6,7 |
6,5 |
-0,2 |
-0,2 |
-0,1 |
Campuchia |
7,0 |
7,0 |
6,8 |
6,9 |
6,7 |
6,7 |
-0,1 |
0,0 |
0,0 |
Lào |
7,4 |
7,0 |
6,7 |
6,6 |
6,9 |
6,9 |
-0,3 |
-0,2 |
-0,3 |
Myanmar |
7,0 |
5,9 |
6,4 |
6,7 |
6,9 |
6,9 |
-0,5 |
-0,5 |
-0,4 |
Fiji |
3,6 |
0,4 |
3,8 |
3,5 |
3,3 |
3,2 |
0,1 |
0,0 |
0,0 |
Mông Cổ |
2,2 |
1,4 |
2,8 |
3,1 |
7,3 |
5,5 |
3,0 |
1,2 |
0,7 |
Papua New Guinea |
8,0 |
2,4 |
2,1 |
2,5 |
2,4 |
3,4 |
-0,9 |
-0,7 |
-1,0 |
Quần đảo Solomon |
2,5 |
3,3 |
3,0 |
3,0 |
2,8 |
2,7 |
-0,3 |
0,0 |
-0,2 |
Timor Leste |
4,0 |
5,7 |
2,4 |
4,2 |
5,0 |
5,0 |
-1,6 |
-0,8 |
-1,0 |
Nguồn: WB
(*): Tăng giảm so với dự báo tháng 6/2017
Mặc dù tăng trưởng tiềm năng chậm dần, nhưng EAP vẫn được coi là động lực cơ bản dẫn dắt tăng trưởng kinh tế toàn cầu, chủ yếu là nhờ sự đóng góp của Trung Quốc với khoảng 30% GDP toàn cầu. Cụ thể là, GDP tại Trung Quốc được dự báo tăng chậm dần, từ mức tăng 6,8% trong năm 2017 xuống 6,4% trong năm 2018 và 6,2% trong hai năm 2019-2020, trong bối cảnh quốc gia này tiếp tục nỗ lực tái cân bằng kinh tế và kiềm chế tín dụng. Các biện pháp hỗ trợ được dự báo sẽ giảm dần, cả về chính sách tiền tệ và tài khóa, mục tiêu là tiếp tục khắc phục tình trạng dư thừa năng lực sản xuất, giảm dần mức độ tổn thương trong khu vực tài chính, đồng thời cải thiện các yếu tố năng suất lao động. Tại những nước khác trong khu vực, GDP năm 2018 được dự báo tiếp tục tăng nhẹ lên 5,3%, nhờ đà phục hồi mang tính chu kỳ tại các nước xuất khẩu hàng hóa, đà tăng này tiếp tục được phát huy trong những năm sau đó.
Theo dự báo, GDP tiếp tục tăng tốc tại các nước xuất khẩu hàng hóa chủ chốt. Trong số này, GDP tại Indonesia được kỳ vọng sẽ tăng cao, chủ yếu nhờ thu nhập thực tế tăng đã thúc đẩy tiêu dùng tư nhân; GDP tại Malaysia được dự báo sẽ tăng khoảng 5% trong giai đoạn 2018-2020, mặc dù đầu tư và xuất khẩu có thể giảm nhẹ. Trong nhóm các nền kinh tế nhỏ, GDP tại Mông Cổ, Papua New Guinea, và Timor Leste tiếp tục phục hồi theo chù kỳ, nhờ khó khăn trong nước giảm dần. Đáng chú ý, kinh tế Lào được kỳ vọng tăng cao, chủ yếu nhờ khu vực điện lực.
Tại các nước nhập khẩu hàng hóa, GDP năm 2018-2020 được dự báo vẫn đạt tốc độ tăng trung bình trên 5%. Trong số này, GDP tại Thái Lan được dự báo tăng trung bình 3,5%, phản ánh xu hướng phục hồi xuất khẩu hàng hóa và du lịch; GDP tại Việt Nam được kỳ vọng tăng trung bình 6,5%, nhờ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp xuất khẩu tăng cao. Đáng chú ý, GDP tại Philippines được dự báo tiếp tục đạt mức tăng cao nhất trong khu vực ASEAN, mặc dù hoạt động đầu tư không tăng; thương mại và các dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục hỗ trợ các hoạt động kinh tế tại Campuchia.
Rủi ro tại khu vực được dự báo sẽ cân bằng hơn, trong bối cảnh GDP tại các nước phát triển và nhóm EMDEs (các nước đang phát triển và mới nổi) tiếp tục tăng cao trong ngắn hạn. Tuy nhiên, rủi ro tăng trưởng kinh tế giảm thấp vẫn tồn tại, do dòng vốn đầu tư tại EAP có thể giảm, sau khi các doanh nghiệp quan tâm đẩy mạnh đầu tư vào các nước phát triển, và các EMDE xuất khẩu đã vượt qua khó khăn do những cú sốc thương mại gây ra trong những năm gần đây.
Trong nhóm yếu tố cản trở tăng trưởng kinh tế, ba rủi ro cơ bản có thể sẽ làm trầm trọng thêm mức độ tổn thương tại một số nước, như nợ trong nước tăng cao, nhu cầu vay vốn nước ngoài mở rộng quá mức và thiếu các biện pháp hỗ trợ chính sách.
Trong năm 2017, căng thẳng địa chính trị trên bán đảo Triều Tiên đã tăng đáng kể. Nếu rủi ro này tiếp tục đe dọa, cùng với xu hướng gia tăng bất ổn chính trị tại những khu vực khác trên thế giới, niềm tin của thị trường có thể sẽ suy giảm, làm tăng rủi ro đối ngược và căng thẳng tài chính trong khu vực.
Trong trường hợp xu hướng GDP giảm tốc tại các nền kinh tế lớn hoặc quá trình thắt chặt điều kiện tài chính toàn cầu diễn ra nhanh hơn so với kỳ vọng, những tổn thương tài chính hiện tại sẽ trở nên trầm trọng hơn, cản trở tăng trưởng kinh tế trong khu vực. Cú sốc có thể lan rộng trong khu vực thông qua hiện tượng suy giảm dòng vốn, gia tăng mức độ chao đảo trên các thị trường tài chính, cũng như áp lực tỷ giá và giá cả tài sản, lợi suất rủi ro gia tăng.
Khả năng hình thành các mối quan hệ thương mại đầu tư tiếp tục là yếu tố khó định đoán, trong bối cảnh gia tăng cảm giác về xu hướng bảo hộ tại các nước phát triển, nhất là Hoa Kỳ, và những thay đổi chính sách có thể xảy ra trong quá trình đàm phán rời Liên minh châu Âu của Vương quốc Anh. Trong đó, những hạn chế thương mại tại các nước phát triển có thể tác động tiêu cực đến khu vực, nhất là những nước đang mở cửa kinh tế ở mức độ cao; một rối loạn đáng kể về xuất khẩu của Trung Quốc cũng cản trở tăng trưởng kinh tế trong khu vực, với tác động đối ngược khá trầm trọng. Đáng chú ý, các biện pháp của Mỹ về hạn chế đầu tư và thương mại sẽ dẫn đến căng thẳng thương mại và hình thành những biện pháp trả đũa, có thể trầm trọng thêm tác động của chủ nghĩa bảo hộ đối với hoạt động kinh tế trong khu vực.
Những cú sốc từ bên ngoài có thể làm trầm trọng thêm mức độ tổn thương kinh tế trong nước, bao gồm tỷ lệ đòn bẩy và thâm hụt tài khóa quá cao. Trong dài hạn, xu hướng suy giảm tiềm năng tăng trưởng tại các nước phát triển và đang phát triển sẽ ảnh hưởng đến tính bền vững của kinh tế toàn cầu trước những cú sốc có thể xảy ra trong tương lai.
Về tăng trưởng tiềm năng, GDP trong giai đoạn 2013-2017 tại khu vực EAP tăng trung bình 7,2%, thấp xa tốc động tăng trưởng trung bình trong hai thập kỷ trước đó, mặc dù vẫn cao gấp gần hai lần so với EMDEs tại những khu vực khác trên thế giới. Trong giai đoạn 2018-2027, tăng trưởng tiềm năng tại EAP được dự báo giảm xuống tốc độ trung bình 6%, phản ánh đà tăng chậm dần tại Trung Quốc, xu hướng già hóa dân số, làm tăng mức độ tổn thương và khả năng cải thiện thu nhập. Khả năng tích lũy vốn tại các nước trong khu vực giảm dần, nhưng vẫn đóng góp khoảng 40% vào tăng trưởng tiềm năng. Các yếu tố năng suất giảm dần, do hiệu quả đầu tư giảm, phân bổ nguồn vốn chưa hiệu quả, trong khi dư địa để cải thiện năng suất ngày càng hạn hẹp.
Trước những rủi ro và thách thức nêu trên, các chuyên gia WB đã đề xuất một số giải pháp cần ưu tiên và tập trung thực hiện. Cụ thể: Nâng cao chất lượng phân bổ nguồn lực, nhất là tại Trung Quốc. Tăng cường đầu tư phát triển công nghệ và nâng cao hiệu quả đầu, nhất là đầu tư công tại Indonesia, Việt Nam, và Lào; Tăng cường kết nối thương mại khu vực và quốc tế, giảm dần các rào cản phi thuế quan, góp phần mở rộng thương mại và nâng cao hiệu quả phân bổ đầu tư quốc tế. Đồng thời, mở rộng các quan hệ đối tác và thương mại, qua đó sẽ thúc đẩy năng suất và nâng cao năng lực cạnh tranh; Tăng cường đầu tư đổi mới và phát triển công nghệ, coi trọng các hoạt động nghiên cứu, phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ; Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, nhất là tại những nước có tỷ trọng lao động nông nghiệp khá cao như Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Philippines, Campuchia, Timor Leste; Cải thiện môi trường kinh doanh và giảm dần chi phí cho doanh nghiệp.
Xuân Thanh
Nguồn: WB tháng 01/2018