Ngày 10/4/2018, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố báo cáo ổn định tài chính với nhận định, rủi ro trong việc phân bổ tín dụng là nguồn gốc của những tổn thất về tài chính.
Cụ thể là,điều kiện tài chính nới lỏng kéo dài trong những năm qua đã dẫn đến lo ngại, khi các trung gian tài chính và nhà đầu tư mở rộng tín dụng quá mức cho những khách hàng rủi ro, đe dọa tiềm tàng tính ổn định tài chính. Trầm trọng hơn, hoạt động cho vay liều lĩnh có thể dẫn đến xu hướng hạ chuẩn tín dụng và cho vay tràn lan.
Tại báo cáo này, các chuyên gia IMF đã tiến hành khảo sát dòng vốn tín dụng dành cho các doanh nghiệp tại 55 nước (26 nước phát triển và 29 nước mới nổi) trong giai đoạn 1991-2016 và cho thấy, mức độ rủi ro về phân bổ tín dụng là hiện tượng mang tính chu kỳ trong suốt 25 năm qua, tăng dần trở lại sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng vẫn thấp hơn mức rủi ro trong năm 2008, vốn được coi là cao nhất trong lịch sử.
Rủi ro về phân bổ tín dụng gia tăng trong những thời kỳ tín dụng mở rộng nhanh chóng, nhất là khi tiêu chuẩn tín dụng nới lỏng hay điều kiện tài chính thuận lợi đồng thời xảy ra. Trên toàn cầu, rủi ro về phân bổ tín dụng bắt đầu tăng cao vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX, giảm dần từ năm 2000 do khủng hoảng kinh tế tại châu Á và tại CHLB Nga cùng với hiện tượng bong bóng cổ phiếu dot.com phát nổ. Sau khi giảm xuống mức thấp nhất trong lịch sử vào năm 2004, rủi ro về phân bổ tín dụng bắt đầu tăng tốc cho đến năm 2008, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu chính thức bùng nổ, giảm sâu trong hai năm sau đó, trước khi phục hồi trở lại lên gần ngưỡng trước khủng hoảng vào năm 2016.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời kỳ kinh tế và tín dụng tăng cao có mối liên hệ tỷ lệ thuận với rủi ro về phân bổ tín dụng. Nếu tỷ trọng tín dụng so GDP tăng 5,5%, rủi ro về phân bổ tín dụng tăng khoảng 0,12-0,25%, tùy thuộc vào mức độ chính xác của kết quả tính toán. Tại các nước phát triển và mới nổi, mức độ rủi ro về phân bổ tín dụng tương đối đồng nhất.
Thời gian gần đây, mặc dù một số nước phát triển đang rút dần các gói hỗ trợ tiền tệ, song điều kiện tài chính tiếp tục nới lỏng tại phần lớn các nước phát triển và mới nổi, nguyên nhân là do các nước đã áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức trong thời gian quá dài, nhất là sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Đáng lo ngại, tỷ trọng tín dụng doanh nghiệp so với GDP vẫn tiếp tục đứng ở mức cao nhất trong lịch sử, kể cả tại các nước phát triển và mới nổi. Tỷ trọng trái phiếu của các doanh nghiệp phi tài chính với mức tín nhiệm thấp (trái phiếu có lợi nhuận cao và trái phiếu hạng BBB) tại Mỹ tăng trở lại từ mức thấp trong những năm khủng hoảng, tại khu vực đồng euro và Vương quốc Anh đạt mức cao nhất trong lịch sử. Báo cáo tháng 10/2017 về ổn định tài chính cũng cho thấy, một số chỉ số về mức độ tổn thương trong khu vực phi tài chính tăng cao tại các nền kinh tế chủ chốt trên thế giới. Tại khu vực euro, tín dụng dành cho nhóm doanh nghiệp rủi ro tăng cao, sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu kích hoạt chương trình mua trái phiếu vào năm 2012 và trực tiếp điều hành các giao dịch tiền tệ.
Rủi ro trong hoạt động cho vay đối với tiêu dùng của các hộ gia đình cũng tăng cao, nhưng vẫn ở ngưỡng an toàn. Tại hầu hết các nước, việc theo dõi quy mô phân bổ tín dụng tiêu dùng vẫn gặp nhiều khó khăn. Báo cáo tháng 10/2017 về ổn định tài chính toàn cầu cho thấy, tình trạng nợ nần của các đối tượng thu nhập thấp, trong đó có các hộ gia đình có xu hướng tăng cao trong những năm gần đây.
Rủi ro về phân bổ tín dụng tăng cao cũng tác động tiêu cực đến tăng trưởng GDP, phát tín hiệu về nguy cơ khủng hoảng ngân hàng và những căng thẳng trong khu vực tài chính, đòi hỏi phải theo dõi mức độ rủi ro về phân bổ tín dụng, là bộ phận không thể tách rời trong giám sát tài chính vĩ mô. Trong đó, việc lựa chọn những chính sách và thể chế thích hợp có thể giúp các nhà tạo lập chính sách giảm thiểu mức độ rủi ro về phân bổ tín dụng. Đáng chú ý, việc duy trì lập trường thắt chặt chính sách vĩ mô thận trọng, nâng cao tính độc lập của cơ quan giám sát ngân hàng, giảm mức độ can thiệp của chính phủ trong hoạt động tín dụng ngân hàng đối với khu vực doanh nghiệp, và tăng cường bảo vệ những cổ đông nhỏ lẻ, được cho là sẽ có tác dụng giảm thiểu mức độ rủi ro về phân bổ tín dụng trong thời kỳ tín dụng tăng cao.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: IMF tháng 4/2018