Ngày 16/7/2018, Quỹ Tiền tệ quốc tế công bố báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế toàn cầu với nhận định, kinh tế toàn cầu tiếp tục tăng cao, nhưng xu hướng phân kỳ tăng trưởng ngày càng rõ nét và rủi ro ngày càng tăng cao.
Tại báo cáo này, IMF giữ nguyên dự báo kinh tế toàn cầu, nhưng điều chỉnh tốc độ tăng trưởng tại nhiều nước, kể cả tại các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs). Tại các nước phát triển, xu hướng phân kỳ về tăng trưởng kinh tế ngày càng tăng, nhất là giữa Mỹ với Nhật Bản và châu Âu. Cụ thể là, GDP tại một số nước phát triển hàng đầu có dấu hiệu giảm nhẹ so với dự báo cách đây ba tháng, ngoại trừ Mỹ, Canada, Tây Ban Nha và một số nước phát triển khác. Trong nhóm các EMDE, tăng trưởng kinh tế cũng có dấu hiệu khác biệt rõ rệt hơn. Nguyên nhân là do giá dầu thế giới tăng cao và căng thẳng thương mại gia tăng, động thái thắt chặt tiền tệ tại Mỹ đã hỗ trợ tăng lợi suất trái phiếu tại Mỹ và USD phục hồi tới 5% trong vòng 5 tháng qua, nhiều đồng tiền mới nổi mất giá mạnh, ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế trong nước.
Thực tế và dự báo kinh tế toàn cầu (% so với năm trước)
|
Kết quả và dự báo |
Thay đổi (1) |
||||
|
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
2018 |
2019 |
GDP toàn cầu |
3,2 |
3,7 |
3,9 |
3,9 |
0,0 |
0,0 |
Các nước phát triển |
1,7 |
2,4 |
2,4 |
2,2 |
-0,1 |
0,0 |
Mỹ |
1,5 |
2,3 |
2,9 |
2,7 |
0,0 |
0,0 |
Khu vực đồng euro |
1,8 |
2,4 |
2,2 |
1,9 |
-0,2 |
-0,1 |
CHLB Đức |
1,9 |
2,5 |
2,2 |
2,1 |
-0,3 |
0,1 |
CH Pháp |
1,1 |
2,3 |
1,8 |
1,7 |
-0,3 |
-0,3 |
Italia |
0,9 |
1,5 |
1,2 |
1,0 |
-0,3 |
-0,1 |
Tây Ban Nha |
3,3 |
3,1 |
2,8 |
2,2 |
0,0 |
0,0 |
Nhật Bản |
1,1 |
1,7 |
1,0 |
0,9 |
-0,2 |
0,0 |
VQ Anh |
1,8 |
1,7 |
1,4 |
1,5 |
-0,2 |
0,0 |
Canada |
1,4 |
3,0 |
2,1 |
2,2 |
0,0 |
0,0 |
Những nước phát triển khác (2) |
2,3 |
2,7 |
2,8 |
2,7 |
0,1 |
0,1 |
EMDEs |
4,4 |
4,7 |
4,9 |
5,1 |
0,0 |
0,0 |
Cộng đồng các quốc gia độc lập |
0,4 |
2,1 |
2,3 |
2,2 |
0,1 |
0,1 |
CHLB Nga |
-0,2 |
1,5 |
1,7 |
1,5 |
0,0 |
0,1 |
Không kể CHLB Nga |
1,9 |
3,6 |
3,6 |
3,7 |
0,1 |
0,1 |
EMDEs châu Á |
6,5 |
6,5 |
6,5 |
6,5 |
0,0 |
-0,1 |
Trung Quốc |
6,7 |
6,9 |
6,6 |
6,4 |
0,0 |
0,0 |
Ấn Độ |
7,1 |
6,7 |
7,3 |
7,5 |
-0,1 |
-0,3 |
ASEAN 5 (3) |
4,9 |
5,3 |
5,3 |
5,3 |
0,0 |
-0,1 |
EMDEs châu Âu |
3,2 |
5,9 |
4,3 |
3,6 |
0,0 |
-0,1 |
Mỹ Latinh và Caribê |
-0,6 |
1,3 |
1,6 |
2,6 |
-0,4 |
-0,2 |
Brazil |
-3,5 |
1,0 |
1,8 |
2,5 |
-0,5 |
0,0 |
Mêhicô |
2,9 |
2,0 |
2,3 |
2,7 |
0,0 |
-0,3 |
Trung Đông và Bắc Phi (4) |
5,0 |
2,2 |
3,5 |
3,9 |
0,1 |
0,2 |
Arập Xê út |
1,7 |
-0,9 |
1,9 |
1,9 |
0,2 |
0,0 |
Khu vực cận Sahara |
1,5 |
2,8 |
3,4 |
3,8 |
0,0 |
0,1 |
Nigeria |
-1,6 |
0,8 |
2,1 |
2,3 |
0,0 |
0,4 |
CH Nam Phi |
0,6 |
1,3 |
1,5 |
1,7 |
0,0 |
0,0 |
Các nước thu nhập thấp |
3,5 |
4,7 |
5,0 |
5,3 |
0,0 |
0,0 |
Thương mại quốc tế |
2,2 |
5,1 |
4,8 |
4,5 |
-0,3 |
-0,2 |
Giá dầu |
-15,7 |
23,3 |
33,0 |
-1,8 |
15,0 |
4,7 |
Giá hàng hóa khác |
-1,5 |
6,8 |
6,0 |
0,5 |
0,4 |
0,0 |
CPI tại các nước phát triển |
0,8 |
1,7 |
2,2 |
2,2 |
0,2 |
0,3 |
CPI tại các EMDE (5) |
4,3 |
4,0 |
4,4 |
4,4 |
-0,2 |
0,1 |
Nguồn: IMF tháng 7/2018
(1): Tăng giảm so với dự báo tháng 4/2018;
(2): Không kể các nước G7 và khu vực euro;
(3): Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Land, Việt Nam;
(4): Kể cả Afghanistan và Pakistan;
(5): Không kể Argentina và Venezuela.
Rủi ro bắt đầu tăng cao, chủ yếu bắt nguồn từ căng thẳng thương mại giữa Mỹ và các đối tác thương mại chủ chốt. Yếu tố này đang cản trở các hoạt động kinh tế và triển vọng kinh tế trong giai đoạn trung hạn, thông qua tác động trực tiếp đến việc phân bổ nguồn lực và năng suất lao động, cũng như thông qua tác động gián tiếp là gây ra những bất ổn, qua đó ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư. Tại các nước phát triển, thị trường tài chính vẫn diễn biến thuận lợi, một số thị trường chứng khoán tiếp tục tăng cao, nhưng có thể thay đổi nhanh chóng. Trong đó, rủi ro có thể bùng phát bắt nguồn từ những mâu thuẫn thương mại và căng thẳng địa chính trị. Lạm phát tại Mỹ được dự báo sẽ tăng cao, trong khi tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống dưới 4%, nhưng thị trường phản ứng chậm chạp so với xu hướng tăng lãi suất, trái với kỳ vọng của Cục Dự trữ liên bang. Điều này có thể buộc các nhà đầu tư phải đánh giá lại tình hình thị trường và mức độ rủi ro. Ngoài ra, các động thái thắt chặt tài chính cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến những rối loạn trong việc điều chỉnh danh mục đầu tư, tỷ giá tại các EMDE tăng cao và dòng vốn vào suy giảm mạnh, nhất là tại những nước yếu hoặc rủi ro chính trị ở mức cao.
Trên toàn cầu, điều kiện tài chính tiếp tục thuận lợi, song những yếu tố này đang cản trở các dòng vốn, do chi phí tài chính và áp lực tỷ giá tăng cao, nhất là tại những nước có nền tảng kinh tế yếu ớt hoặc rủi ro chính trị ở mức cao. Về hoạt động sản xuất và thương mại, doanh thu bán lẻ cải thiện trong quý II/2018 và khu vực dịch vụ có triển vọng tăng vững. Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp suy giảm nhẹ, chỉ số quản lý sức mua yếu ớt do thiếu các đơn đặt hàng xuất khẩu.
Về giá cả hàng hóa và lạm phát, giá dầu thế giới được dự báo sẽ tăng cao, mặc dù các nước trong và ngoài OPEC (Tổ chức các nước Xuất khẩu dầu mỏ) quyết định nâng sản lượng dầu thêm khoảng 1 triệu thùng/ngày, kể từ tháng 7 năm nay. Nguồn cung dầu có thể vẫn thiếu hụt, do sản lượng dầu tại Venezuela và Iran khó tăng cao, mặc dù nguồn cung được kỳ vọng sẽ củng cố sau 4-5 năm tới đây. Giá dầu tăng đã góp phần hỗ trợ tăng lạm phát tại các nước phát triển và mới nổi. Trong đó, lạm phát lõi tại Mỹ tăng vững do thị trường lao động tiếp tục thắt chặt, lạm phát tại khu vực euro cũng tăng nhẹ. Lạm phát lõi tại các nước mới nổi cũng tăng cao, phản ánh xu hướng mất giá bản tệ và hiệu ứng giá dầu. Giá cả các mặt hàng nông sản có dấu hiệu tăng cao, chủ yếu là do nguồn cung suy giảm quá mức.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: IMF tháng 7/2018