Theo nhận xét chung của Tổng Giám đốc Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) - Agustín Carstens, chủ nghĩa bảo hộ đang đẩy kinh tế toàn cầu vào tình cảnh khó khăn hơn, bắt nguồn từ cấu trúc thị trường toàn cầu.
Cụ thể là, sau nhiều thập kỷ nỗ lực mở cửa và hợp tác kinh tế quốc tế, các biện pháp đảo ngược toàn cầu hóa và tái hiện chủ nghĩa bảo hộ trong thời gian gần đây đang cảnh báo sẽ đóng cửa thị trường thế giới, xu thế đối đầu tăng dần. Thực tế này được phản ánh qua sự kiện Brexit, phong trào chủ nghĩa dân tộc tại châu Âu, những thay đổi về chính sách thương mại tại Mỹ và các biện pháp trả đũa quyết liệt.
Xu hướng thoái lui toàn cầu hóa gây rủi ro đến nền kinh tế thực, thông qua các hoạt động thương mại và đầu tư, có thể đẩy lạm phát và thất nghiệp tăng cao, cản trở tăng trưởng kinh tế. Sự tái hiện của chủ nghĩa bảo hộ cũng gây rủi ro và cản trở nỗ lực tăng cường độc lập tài chính, vốn được cho là yếu tố hỗ trợ và khuyến khích các mối liên kết thương mại, đầu tư. Điều này đe dọa sẽ gây đảo lộn các thị trường tài chính và suy giảm chi tiêu đầu tư của các doanh nghiệp, khi các nhà đầu tư hoảng sợ và điều kiện tài chính ngày càng thắt chặt. Rủi ro tài chính sẽ tác động lẫn nhau, làm trầm trọng thêm tình hình, thậm chí đẩy lạm phát tăng cao.
Việc Mỹ tăng thuế nhập khẩu sẽ đẩy USD tăng giá, buộc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) phải rút ngắn lộ trình tăng lãi suất, gây ảnh hưởng đến phần còn lại trên thế giới và tiếp thêm động lực hỗ trợ USD tăng giá. Đối với các nước mới nổi, USD tăng giá sẽ khiến điều kiện tài chính khắt khe hơn, khuấy động làn sóng đào thoát các dòng vốn và kìm hãm tăng trưởng kinh tế. USD tăng giá cũng buộc các nước mới nổi phải tăng thuế và tăng cường chính sách bảo hộ, có thể dẫn đến cuộc chiến tiền tệ. Bất ổn cũng tác động trở lại đến các nước phát triển, với những dấu hiệu giảm tốc kinh tế tại Mỹ, CHLB Đức, Nhật Bản, sau khi tăng cao trong năm trước.
Mầm mống tổn thương khác nằm ở các mối liên kết tài chính, vốn đã tăng cao cùng với các mối quan hệ mới về thương mại và các chuỗi sản phẩm. Trong khi đó, các mắt xích thương mại phức tạp như chuỗi giá trị toàn cầu thường cần đến các phương thức và loại hình dịch vụ tài chính phức tạp để gắn kết các quy trình sản xuất.
Những mắt xích tài chính này đều lệ thuộc vào USD, và đồng bạc xanh tiếp tục chiếm vị thế áp đảo trong các giao dịch thương mại hay cho vay vốn hoạt động, trong hoạt động ngân hàng quốc tế hay các thị trường chứng khoán nói chung. Trên các thị trường hoán đổi, USD còn chiếm vị thế cao hơn hẳn so với giao dịch tại chỗ.
Căng thẳng thương mại có thể sẽ làm suy yếu các đồng tiền mới nổi, tác động gián tiếp đến nền kinh tế thực. Hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt đỏ, tình hình tài chính ngày càng xấu đi. Tại các nước mới nổi, nếu dòng USD không đủ để thanh toán những khoản nợ đến hạn, USD tăng giá sẽ gây rủi ro không thể trả được nợ vay, và các ngân hàng sẽ hạn chế cho vay. USD tăng giá có thể sẽ làm giảm khả năng cung ứng cũng như nhu cầu tín dụng, thắt chặt điều kiện tài chính của nhiều doanh nghiệp tại các nước mới nổi, gây tổn thương về việc làm và đầu tư. Tín dụng USD giảm cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến các chuỗi giá trị toàn cầu, nhất là tại những nước xuất khẩu phụ thuộc vào các nguồn vốn USD từ tín dụng ngân hàng.
Chủ nghĩa bảo hộ cũng có thể khởi đầu cho hàng loạt hệ quả tiêu cực, điều này được minh chứng qua cuộc đại suy thoái vừa qua, khi các ngân hàng bên ngoài nước Mỹ lệ thuộc vào các nguồn vốn USD huy động trên thị trường để tiếp tục cho vay. Vì thế, một sự thiếu hụt USD tại ngân hàng nào đó sẽ gây thiệt hại cho thương mại quốc tế.
Thông qua tỷ giá hối đoái, những mâu thuẫn nhỏ về thương mại có thể dễ dàng leo thang thành chiến tranh tiền tệ. Trong đó, việc tăng thuế nhập khẩu sẽ làm suy yếu đồng bản tệ của quốc gia xuất khẩu. Động thái phá giá sau đó sẽ được liệt vào hành vi “thao túng” tiền tệ, bào chữa cho những biện pháp bảo hộ tiếp theo. Nếu chiến tranh tiền tệ bùng nổ, các nước có thể cắt giảm đầu tư nước ngoài và chính trị hóa các dòng vốn. Trong khi đó, xu hướng thắt chặt tiền tệ tại Mỹ sẽ gián tiếp gây tác động lâu dài đến nền kinh tế thế giới, nhất là các nước mới nổi, trong bối cảnh các ngân hàng bên ngoài nước Mỹ đang vay với tổng dư nợ 11,5 nghìn tỷ USD.
Theo ghi nhận và đánh giá của CNN Money, nhiều nước mới nổi đang phải đối mặt với những thách thức khá lớn, nhất là những quốc gia phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn từ bên ngoài. Nguyên nhân là do đồng bản tệ của những quốc gia này lao dốc, các nhà đầu tư rút vốn ồ ạt, đẩy nền kinh tế vào vòng xoáy bất ổn đầy hiểm nguy.
Trong số này, Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ là hai trường hợp đáng lo ngại. Từ đầu năm đến cuối tháng 8/2018, đồng peso của Argentina đã mất giá hơn 50% so với USD, buộc Ngân hàng Trung ương (NHTW) phải tiếp tục nâng lãi suất từ 45% lên 60%, đồng thời phải kêu gọi sự trợ giúp từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Theo dữ liệu của Moody’s, gần 70% nợ chính phủ của Argentina là nợ ngoại tệ, và đà lao dốc của peso cũng đồng nghĩa với khối nợ ngày càng phình to. Ở cấp độ thấp hơn, biến động tại Thổ Nhĩ Kỳ cũng gây hoảng loạn cho các nhà đầu tư, khi đồng lira mất giá tới 41%.
Trong làn sóng bán tháo tại nhiều nước mới nổi, đồng rupee của Ấn Độ giảm xuống mức thấp kỷ lục so với USD. Từ đầu năm đến nay, đồng rupee đã mất giá trên 11%. Mặc dù GDP vẫn tăng cao và Ấn Độ đang dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng quốc gia này đang đối mặt một số thách thức. Trong đó, sự phụ thuộc đáng kể vào nguồn dầu nhập khẩu khiến Ấn Độ dễ bị tổn thương khi giá dầu tăng, khi giá năng lượng tăng cao đã đẩy lạm phát tại quốc gia này vượt ngưỡng an toàn.
Tại Brazil, vấn đề chính trị gây áp lực giảm mạnh lên đồng real của Brazil trong những tháng gần đây. Từ đầu năm đến cuối tháng 8, đồng real đã mất giá 20% so với USD. Tuy nhiên, nhờ nguồn dự trữ ngoại hối tương đối dồi dào, NHTW Brazil có thể can thiệp, ngăn đồng nội tệ giảm giá sâu hơn trong trường hợp cần thiết.
Trong những tháng gần đây, đồng ruble của CHLB Nga mất giá khá sâu do các nước phương Tây tăng cường các biện pháp trừng phạt kinh tế. Từ đầu năm, đồng ruble đã mất giá 15% so với USD. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng, xu hướng phục hồi giá dầu trong năm nay sẽ giúp CHLB Nga bù đắp phần lớn thiệt hại do sự mất giá của đồng bản tệ.
Cùng với 5 đồng tiền nêu trên, nhiều đồng tiền mới nổi khác cũng thuộc diện cảnh báo. Bao gồm, đồng rand của CH Nam Phi (giảm giá 18,8%), đồng rupee của Pakistan (giảm 10,3%), v.v. Tuy chỉ mất giá 5,5%, nhưng Sri Lanka là quốc gia có mức độ cảnh báo cao nhất, do nền tảng kinh tế quá yếu ớt.
Một số đồng tiền mới nổi tại châu Á cũng đang đối mặt với sức ép từ cuộc khủng hoảng tại Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina, mặc dù không quá lớn. Tuy nhiên, các NHTW Indonesia và Philippines đã phải tiếp tục tăng lãi suất.
Diễn biến tại các thị trường mới nổi sẽ tác động trở lại đến các nước phát triển, và các nhà tạo lập chính sách tại các nước phát triển không thể bỏ qua những bằng chứng ngày càng tăng là, những đợt phá giá bất ngờ đã làm suy giảm đầu tư và hoạt động kinh tế tại các nước mới nổi. Trong bối cảnh đó, nhu cầu về hàng hóa nhập khẩu từ các nước phát triển cũng giảm theo.
Xuân Thanh
Nguồn: BIS, CNN Money