Trong báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế toàn cầu do Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố vào ngày 03/10/2018, các chuyên gia đã đánh giá tình hình kinh tế thế giới sau 10 năm xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và rút ra những bài học kinh nghiệm để chủ động đối phó với những biến động kinh tế trong tương lai.
Báo cáo nhận định, khủng hoảng đã gây thiệt hại lâu dài đến tăng trưởng kinh tế, kể cả tại những nước không bị tác động bởi khủng hoảng ngân hàng 2007-2008. Nguyên nhân cơ bản là do hoạt động đầu tư trầm lắng, thiếu vắng yếu tố năng suất tổng thể (TFP) và thâm hụt nguồn vốn trong thời gian dài. Những yếu tố cản trở tăng trưởng kinh tế đã hình thành từ trước khủng hoảng tài chính, trong đó các lựa chọn chính sách trước và ngay sau khi khủng hoảng xảy ra đã dẫn đến sự khác biệt về tăng trưởng kinh tế thế giới. Do coi nhẹ tầm quan trọng của các chính sách vĩ mô thận trọng và giám sát hiệu quả, những nước bị tổn thương tài chính nặng nề trước khủng hoảng tiếp tục hứng chịu nhiều thiệt hại sau khủng hoảng. Trái lại, những nước có vị thế tài khóa bền vững hoặc có chế độ tỷ giá linh hoạt chịu mức độ thiệt hại thấp hơn. Sau khủng hoảng, chính sách tiền tệ nới lỏng không có tiền lệ và các biện pháp chính sách đặc biệt đã góp phần giảm thiểu phần nào những thiệt hại về kinh tế.
Trở lại quá khứ, trong hai ngày cuối tuần 13-14/9/2008, hai định chế tài chính lớn của Mỹ mấp mé rơi vào phá sản, trong khi định chế tài chính thứ ba phải gấp rút tìm kiếm bên mua để tránh rơi vào tình cảnh tương tự. Đêm chủ nhật (14/9), ngân hàng Merrill Lynch được chuyển giao cho Bank of America. Tập đoàn Bảo hiểm khổng lồ AIG vẫn liều lĩnh mở rộng tín dụng, khi kết quả xếp hạng tụt xuống đã đẩy tập đoàn này vào tình cảnh khốn cùng. Đầu giờ sáng thứ hai (15/9), Ngân hàng Lehman Brothers đệ đơn phá sản, đẩy thị trường nhà ở tại Mỹ giảm sâu.
Tình trạng tranh giành thanh khoản trên các thị trường toàn cầu sau sự kiện Lehman Brothers báo trước một giai đoạn rối loạn tài chính trầm trọng, kéo dài âm ỉ tại Mỹ và châu Âu trong gần 1,5 năm sau đó. Các doanh nghiệp chật vật bán rẻ tài sản, khách hàng ồ ạt rút tiền gửi khỏi ngân hàng và các quỹ, hoạt động tín dụng đóng băng, châm ngòi cho sự đổ vỡ trong thương mại xuyên biên giới và dẫn đến cuộc suy thoái toàn cầu trầm trọng nhất trong 7 thập kỷ.
Mười năm sau, dư âm khủng hoảng và các giải pháp chính sách sau sự kiện Lehman Brothers đã dẫn đến hậu quả là, tỷ lệ nợ công trung bình trên toàn cầu đứng ở mức 52% GDP, tăng từ tỷ lệ 36% vào thời điểm trước khủng hoảng; bảng cân đối tài sản của các ngân hàng trung ương tăng gấp nhiều lần so với quy mô trước khủng hoảng; nếu tính theo sức mua thực tế, các nước đang phát triển và mới nổi đã chiếm 60% GDP toàn cầu, tăng từ 44% trước khủng hoảng, phản ánh phần nào kết quả phục hồi kinh tế yếu ớt tại các nước phát triển.
Tại báo cáo này, các chuyên gia đã tiến hành điều tra, nghiên cứu tại 180 nước, bao gồm các nước phát triển, các nước mới nổi, và các nước thu nhập thấp. Qua đó, đánh giá mức độ thiệt hại kinh tế, những khác biệt về hiệu quả kinh tế sau khủng hoảng và nguyên nhân.
Kết quả phân tích cho thấy, thiệt hại kinh tế kéo dài và không giới hạn tại những nước vấp phải khủng hoảng ngân hàng 2007-2008. Trong đó, nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thiệt hại này là do hoạt động đầu tư trầm lắng, TFP tăng chậm dần từ trước khi xảy ra khủng hoảng. Cùng với xu hướng giảm tốc này của TFP, chi tiêu đầu tư nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ tăng chậm, nhất là tại những nước chịu tổn thất lớn nhất, và kinh tế toàn cầu hiện nay vẫn tăng chậm hơn so với thời kỳ trước khủng hoảng.
Kết quả phân tích cũng cho thấy, các lựa chọn chính sách đã dẫn đến khủng hoảng và những khác biệt về hiệu quả kinh tế sau khủng hoảng. Nhóm yếu tố này bao gồm 3 lĩnh vực cơ bản.
Thứ nhất là tài chính, xét về tầm quan trọng của các chính sách vĩ mô thận trọng và giám sát hiệu quả, những nước bị tổn thương tài chính nặng nề trước khủng hoảng tiếp tục hứng chịu nhiều thiệt hại sau khủng hoảng. Trong những năm trước khủng hoảng, những nước có thâm hụt tài khoản vãng lai quá mức và những nước có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao thường phục hồi rất chậm chạp, do điều kiện tài chính sau khủng hoảng ngày càng gò bó. Tuy nhiên, những nước chủ động tiến hành các biện pháp điều chỉnh nghiêm ngặt hệ thống ngân hàng ngay từ những năm cận kề khủng hoảng đã góp phần ngăn ngừa khủng hoảng ngân hàng 2007-2008.
Thứ hai là khung khổ chính sách và những hạn chế, những nước có vị thế tài khóa bền vững hoặc có chế độ tỷ giá linh hoạt chịu mức độ thiệt hại thấp hơn.
Thứ ba là các biện pháp sau khủng hoảng, một số nước đã áp dụng chính sách tài khóa - tiền tệ nới lỏng không có tiền lệ để khắc phục hậu quả của khủng hoảng, và những giải pháp này đã góp phần kiềm chế thiệt hại về kinh tế.
Liên quan đến xu hướng khác biệt triền miên về tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng, thế giới ghi nhận 91 nền kinh tế có kết quả suy giảm GDP trong năm 2009, chiếm 2/3 GDP toàn cầu (nếu tính theo sức mua thực tế). Trong cuộc suy thoái toàn cầu 1982, chỉ có 42 nền kinh tế (46% GDP toàn cầu) ghi nhận kết quả tăng trưởng thấp so với năm cận kề khủng hoảng.
Nghiên cứu cho thấy, khủng hoảng ngân hàng 2007-2008 đã tấn công 24 quốc gia trên thế giới, trong đó có 18 nước phát triển. Trong số này, khoảng 85% số quốc gia hiện vẫn chệch hướng khỏi quỹ đạo tăng trưởng trước năm 2009, và đợt suy thoái sau khủng hoảng được cho là đã dẫn đến tình trạng suy giảm kinh tế này. Trong đó, sự thiếu vắng các trung gian tín dụng đóng vai trò chủ đạo. Về phía cung, những thiệt hại nghiêm trọng đã khiến các hệ thống tài chính không thể mở rộng cho vay như trước đây, trong khi các quy định quản lý sau khủng hoảng có vẻ khắt khe hơn đã hạn chế khả năng hình thành các nguồn vốn cho vay. Cùng với những rối loạn về phía cung, một số yếu tố đã cản trở nhu cầu vay vốn. Bao gồm, kỳ vọng tăng trưởng thấp, bảng cân đối kế toán xấu đi, yêu cầu cấp bách là phải xây dựng giá trị tài sản ròng.
Trong số những nước không vấp phải khủng hoảng ngân hàng 2007-2008, khoảng 60% số quốc gia và nền kinh tế hiện vẫn ghi nhận tốc độ tăng trưởng thấp. Nguyên nhân cơ bản là do nhu cầu tại các quốc gia đối tác giảm thấp, nhất là những nước bị thiệt hại của khủng hoảng ngân hàng, kéo theo xu hướng suy giảm đầu tư và thiếu hụt nguồn vốn.
Hai hệ quả trầm trọng của đầu tư trầm lắng (khả năng tiếp cận tín dụng hạn chế sau khủng hoảng, kỳ vọng yếu ớt về tăng trưởng và hiệu quả kinh tế trong tương lai) giải thích tại sao kinh tế phục hồi quá chậm chạp. Đó là, tình trạng thiếu hụt nguồn vốn dự trữ và tốc độ tiếp thu công nghệ chậm dần. Gần 80% số quốc gia vấp phải khủng hoảng ngân hàng 2007-2008 đã rơi vào tình cảnh thiếu hụt nguồn vốn so với trước khủng hoảng. Trong số những nước không vấp phải khủng hoảng ngân hàng, tới 65% số nước ghi nhận khả năng tích lũy vốn thấp hơn so với thời kỳ trước khủng hoảng. Xu hướng thiếu hụt nguồn vốn bao trùm các khu vực trong nền kinh tế, trầm trọng nhất là lĩnh vực xây dựng, do nguồn vốn cạn kiệt sau khi tập trung nguồn vốn vào đợt bùng nổ kinh tế trước khủng hoảng.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: IMF tháng 10/2018