Trong báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế toàn cầu do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố vào ngày 04/6/2019, các chuyên gia kinh tế tiếp tục điều chỉnh giảm dự báo GDP toàn cầu năm 2019 xuống còn 2,6%, giảm 0,3% so với dự báo đưa ra vào tháng 01/2019, do động lượng tăng trưởng yếu ớt và rủi ro tăng cao. Cụ thể:
Kinh tế toàn cầu tiếp tục giảm tốc ngay từ đầu năm nay, trong đó thương mại và công nghiệp có dấu hiệu suy giảm rõ rệt. Bất định chính sách tăng cao, bao gồm leo thang căng thẳng thương mại giữa các nền kinh tế chủ chốt, xu hướng giảm tốc đầu tư toàn cầu và tâm trạng lo lắng của các doanh nghiệp.
Tăng trưởng GDP và một số chỉ số kinh tế chủ chốt (% so năm trước)
|
Kết quả và dự báo |
Thay đổi * |
|||||||
|
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
2020 |
2021 |
2019 |
2020 |
2021 |
Thế giới |
2,6 |
3,1 |
3,0 |
2,6 |
2,7 |
2,8 |
-0,3 |
-0,1 |
0,0 |
Các nước phát triển |
1,7 |
2,3 |
2,1 |
1,7 |
1,5 |
1,5 |
-0,3 |
-0,1 |
0,0 |
Mỹ |
1,6 |
2,2 |
2,9 |
2,5 |
1,7 |
1,6 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Khu vực euro |
2,0 |
2,4 |
1,8 |
1,2 |
1,4 |
1,3 |
-0,4 |
-0,1 |
0,0 |
Nhật Bản |
0,6 |
1,9 |
0,8 |
0,8 |
0,7 |
0,6 |
-0,1 |
0,0 |
0,0 |
Các EMDE |
4,1 |
4,5 |
4,3 |
4,0 |
4,6 |
4,6 |
-0,3 |
0,0 |
0,0 |
Các EMDE xuất khẩu |
1,5 |
2,1 |
2,2 |
2,1 |
3,1 |
3,0 |
-0,4 |
0,1 |
0,0 |
Những EMDE khác |
6,0 |
6,1 |
5,8 |
5,2 |
5,5 |
5,5 |
-0,3 |
-0,1 |
-0,1 |
Không kể Trung Quốc |
5,1 |
5,4 |
4,9 |
4,2 |
4,8 |
5,0 |
-0,5 |
-0,1 |
-0,1 |
Đông Á – Thái Bình Dương |
6,3 |
6,5 |
6,3 |
5,9 |
5,9 |
5,8 |
-0,1 |
-0,1 |
0,0 |
Trung Quốc |
6,7 |
6,8 |
6,6 |
6,2 |
6,1 |
6,0 |
0,0 |
-0,1 |
0,0 |
Indonesia |
5,0 |
5,1 |
5,2 |
5,2 |
5,3 |
5,3 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Thái Lan |
3,4 |
4,0 |
4,1 |
3,5 |
3,6 |
3,7 |
-0,3 |
-0,3 |
-0,2 |
Châu Âu và Trung Á |
1,9 |
4,1 |
3,1 |
1,6 |
2,7 |
2,9 |
-0,7 |
0,0 |
0,0 |
CHLB Nga |
0,3 |
1,6 |
2,3 |
1,2 |
1,8 |
1,8 |
-0,3 |
0,0 |
0,0 |
Thổ Nhĩ Kỳ |
3,2 |
7,4 |
2,6 |
-1,0 |
3,0 |
4,0 |
-2,6 |
0,0 |
-0,2 |
Ba Lan |
3,1 |
4,8 |
5,1 |
4,0 |
3,6 |
3,3 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Mỹ Latinh và Caribê |
-0,3 |
1,7 |
1,6 |
1,7 |
2,5 |
2,7 |
-0,4 |
-0,2 |
0,0 |
Brazil |
-3,3 |
1,1 |
1,1 |
1,5 |
2,5 |
2,3 |
-0,7 |
0,1 |
-0,1 |
Mêhicô |
2,9 |
2,1 |
2,0 |
1,7 |
2,0 |
2,4 |
-0,3 |
-0,4 |
0,0 |
Argentina |
-2,1 |
2,7 |
-2,5 |
-1,2 |
2,2 |
3,2 |
0,5 |
-0,5 |
0,1 |
Trung Đông - Bắc Phi |
5,1 |
1,2 |
1,4 |
1,3 |
3,2 |
2,7 |
-0,6 |
0,5 |
0,0 |
Arập Xê út |
1,7 |
-0,7 |
2,2 |
1,7 |
3,1 |
2,3 |
-0,4 |
0,9 |
0,1 |
Iran |
13,4 |
3,8 |
-1,9 |
-4,5 |
0,9 |
1,0 |
-0,9 |
-0,2 |
-0,1 |
Ai Cập |
4,3 |
4,2 |
5,3 |
5,5 |
5,8 |
6,0 |
-0,1 |
0,0 |
0,0 |
Nam Á |
8,1 |
6,7 |
7,0 |
6,9 |
7,0 |
7,1 |
-0,2 |
-0,1 |
0,0 |
Ấn Độ |
8,2 |
7,2 |
7,2 |
7,5 |
7,5 |
7,5 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Pakistan |
4,6 |
5,4 |
5,8 |
3,4 |
2,7 |
4,0 |
-0,3 |
-1,5 |
-0,8 |
Bangladesh |
7,1 |
7,3 |
7,9 |
7,3 |
7,4 |
7,3 |
0,3 |
0,6 |
0,5 |
Khu vực Cận Sahara |
1,3 |
2,6 |
2,5 |
2,9 |
3,3 |
3,5 |
-0,5 |
-0,3 |
-0,2 |
CH Nam Phi |
0,6 |
1,4 |
0,8 |
1,1 |
1,5 |
1,7 |
-0,2 |
-0,2 |
-0,1 |
Nigeria |
-1,6 |
0,8 |
1,9 |
2,1 |
2,2 |
2,4 |
-0,1 |
-0,2 |
0,0 |
Angola |
-2,6 |
-0,1 |
-1,7 |
1,0 |
2,9 |
2,8 |
-1,9 |
0,3 |
0,0 |
Các nước thu nhập cao |
1,7 |
2,3 |
2,1 |
1,8 |
1,6 |
1,6 |
-0,2 |
-0,1 |
0,0 |
Các nước đang phát triển |
4,4 |
4,8 |
4,6 |
4,2 |
4,7 |
4,8 |
-0,3 |
-0,1 |
0,0 |
Các nước thu nhập thấp |
4,8 |
5,6 |
5,6 |
5,4 |
6,0 |
6,1 |
-0,5 |
-0,2 |
-0,2 |
Nhóm BRICS ** |
4,6 |
5,3 |
5,4 |
5,1 |
5,3 |
5,3 |
-0,1 |
0,0 |
0,0 |
Thương mại quốc tế |
2,8 |
5,5 |
4,1 |
2,6 |
3,1 |
3,2 |
-1,0 |
-0,4 |
-0,2 |
Giá dầu thế giới |
-15,6 |
23,3 |
29,4 |
-3,4 |
-1,5 |
0,7 |
-0,5 |
-1,5 |
0,7 |
Giá hàng hóa khác |
-2,8 |
5,5 |
1,7 |
-2,1 |
-0,1 |
1,4 |
-3,1 |
-1,3 |
0,2 |
Nguồn: WB
(*): Thay đổi so với dự báo tháng 01/2019;
(**) Nhóm BRICS: Ấn Độ, Brazil, CH Nam Phi, CHLB Nga, Trung Quốc.
Trong bối cảnh lạm phát thấp và triển vọng kinh tế yếu ớt, Ngân hàng Trung ương Mỹ và nhiều nước phát triển khác có thể sẽ tạm dừng các động thái thắt chặt chính sách tiền tệ, góp phần nới lỏng điều kiện tài chính toàn cầu và phục hồi dòng vốn vào các nước đang phát triển và mới nổi (EMDE). Tuy nhiên, nhu cầu bên ngoài yếu ớt đang cản trở hoạt động xuất khẩu từ các EMDE. Do điều kiện cung ứng hàng hóa chặt chẽ hơn, mặt bằng giá cả đang phục hồi phần nào, mặc dù nhu cầu về hàng công nghiệp giảm nhẹ. Nhìn chung, động lượng tăng trưởng tại các EMDE tiếp tục suy giảm. Nguyên nhân là do thương mại toàn cầu yếu ớt, và bất định chính sách kéo dài tại các nền kinh tế chủ chốt.
Trong năm 2019, GDP toàn cầu được kỳ vọng chỉ tăng 2,6%, giảm 0,3% so với dự báo đưa ra vào tháng 01/2019, phản ánh tình hình kinh tế yếu ớt trong sáu tháng đầu năm, hoạt động đầu tư trầm lắng và căng thẳng thương mại leo thang. Cụ thể là, thương mại toàn cầu năm 2019 giảm 1,0% xuống mức tăng trưởng 2,6% - giảm nhẹ sau khi giảm thấp trong hai năm 2015-2016 và là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.
So với dự báo trước đây, WB điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng GDP tại các nước phát triển hàng đầu (nhất là khu vực euro) và một số EMDEs. Sau khi giảm nhẹ trong năm nay, GDP toàn cầu được dự báo sẽ tăng trở lại lên 2,7% vào năm 2020 và 2,8% vào năm 2021. Theo dự báo, kinh tế yếu ớt tại Trung Quốc và các nước phát triển sẽ là cơ hội phục hồi nhẹ tại các nước xuất khẩu hàng hóa và phần lớn các EMDE.
Sau 4 năm tăng thấp, GDP năm 2019 tại các EMDE được kỳ vọng sẽ tăng 4% (giảm 0,3% so với dự báo trước đây), sau đó sẽ tăng 4,6% trong năm 2020-2021. Xu hướng phục hồi này bắt nguồn từ nhận định cho rằng, các biện pháp thắt chặt tiền tệ không còn phát huy tác dụng, áp lực tài chính vì thế sẽ giảm dần, điều kiện tài chính toàn cầu thuận lợi hơn trước. Triển vọng kinh tế lạc quan này cũng bắt nguổn từ kỳ vọng, căng thẳng thương mại sẽ chấm dứt và mặt bằng giá cả sẽ ổn định dần. Mặc dù kinh tế có thể phục hồi, nhưng GDP tính theo đầu người tại nhiều EMDE vẫn thấp xa so với tại các nước phát triển, nhất là tại khu vực cận Sahara châu Phi.
Tại các EMDE, hoạt động đầu tư vẫn trầm lắng, nhất là tại các nước xuất khẩu hàng hóa và những nước vấp phải khó khăn trong thời gian gần đây. Yếu tố cản trở đầu tư tại các EMDE còn bắt nguồn từ gánh nặng nợ nần, dư địa tài khóa hạn chế, định hướng tài chính không rõ ràng, môi trường kinh doanh không phù hợp. Đầu tư yếu ớt sẽ cản trở triển vọng GDP và năng suất lao động, rất khó đạt được mục tiêu thiên niên kỷ.
Do các biện pháp chính sách tại các nền kinh tế chủ chốt chưa có dấu hiệu cải thiện đáng kể trong ngắn hạn, rủi ro tiếp tục cản trở triển vọng kinh tế toàn cầu. Nếu bất định chính sách tăng cao, tâm lý đầu tư sẽ nặng nề, nhất là trong trường hợp căng thẳng thương mại leo thang, làm tăng chi phí giao dịch và các biện pháp đối phó. Nếu khó khăn kéo dài, hoạt động thương mại và đầu tư toàn cầu sẽ suy giảm mạnh. Ngoài ra phải kể đến những rủi ro bắt nguồn từ những rối loạn xảy ra khi Vương quốc Anh rời Liên minh châu Âu. Tương tự, thiếu giải pháp tổng thể về giải quyết căng thẳng thương mại Mỹ - Trung sẽ cản trở triển vọng kinh tế toàn cầu.
Báo cáo nhận định, thị trường tài chính chao đảo mạnh cũng làm tăng chi phí vay vốn và gánh nặng nợ nần, gây tổn thương cho các doanh nghiệp và tăng thêm áp lực tái cấp vốn tại hầu hết EMDEs. Nếu rủi ro vượt quá kỳ vọng tại Mỹ, khu vực euro, hay tại Trung Quốc, GDP toàn cầu sẽ giảm tốc đáng kể, ảnh hưởng xấu đến các EMDE. Trong khi đó, biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng tại nhiều EMDEs.
Trong bối cảnh hoạt động kinh tế trầm lắng và rủi ro ngày càng hiện hữu, các nhà tạo lập chính sách cần củng cố các nguồn lực dự phòng để đối phó với những cú sốc, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngắn hạn và dài hạn.
Đối với các nước phát triển, thách thức lớn nhất là khả năng sử dụng tối ưu cơ chế tự động về ổn định tài khóa và chi tiêu, các định hướng chính sách tiền tệ về giảm thiểu rủi ro trước những biến động đột ngột trên thị trường. Một vấn đề cấp thiết là cần tiến hành các biện pháp cải cách để nâng cao năng suất, nhằm xử lý hiệu quả xu hướng suy giảm lực lượng lao động.
Đối với các EMDE, các nhà tạo lập chính sách cần tranh thủ điều kiện tài chính thuận lợi để củng cố các nguồn tài khóa và chính sách tiền tệ dự phòng, kịp thời đối phó với những cú sốc bất thường trong tương lai. Các EMDE cũng cần huy động các nguồn lực trong nước, ưu tiên chi tiêu cho các động lực hỗ trợ tăng trưởng, tăng cường minh bạch và nâng cao chất lượng quản lý nợ.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: WB tháng 6/2019