ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐOÀN CHỦ TỊCH Số: 14/BC-MTTW-ĐCT |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 2019 |
BÁO CÁO
Kết quả giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
từ sau kỳ họp thứ 7 đến kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV
Thực hiện quy định tại Khoản 1 Điều 30 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 và Khoản 3 Điều 20 của Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/6/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam trân trọng thông báo kết quả hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam từ sau kỳ họp thứ 7 đến kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV (từ tháng 5/2019 đến hết tháng 9/2019) như sau:
I. TÌNH HÌNH CHUNG
Tính đến hết tháng 9/2019, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Trung ương các tổ chức chính trị - xã hội đã hoàn thành thực hiện 11 nội dung giám sát theo kế hoạch; tổ chức được tổng số 15 cuộc giám sát tại 13 địa phương, đơn vị1.
Trong đó, Ban Thường trực đã hoàn thành thực hiện các nội dung giám sát: Việc giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài gây bức xúc trong Nhân dân; việc thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực thuế và hải quan; giám sát theo hình thức nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Ngoài ra, Ban Thường trực đã chủ động tổ chức giám sát nội dung phát sinh: Việc thực hiện pháp luật trong vụ “thỉnh vong”, “giải oan gia trái chủ” tại chùa Ba Vàng, TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh thông qua hình thức nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan.
Hiện nay, Ban Thường trực đang tiếp tục triển khai thực hiện các nội dung giám sát, bao gồm: Việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, sáu, bảy, tám của BCH Trung ương Đảng khóa XII về công tác cán bộ, nêu gương; giám sát cải cách hành chính, đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước; việc chấp hành pháp luật về bảo đảm an toàn thực phẩm; việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; việc thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã hoàn thành nội dung giám sát: Việc thực hiện Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008; Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12/12/2006; Nghị định số 157/2016/NĐ-CP ngày 24/11/2016 của Chính phủ.
Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã hoàn thành nội dung giám sát: Việc thực hiện Quyết định số 289-QĐ/TW ngày 08/2/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc ban hành Quy chế cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, trong đó tập trung vào một số nội dung: Công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đối với cán bộ Đoàn.
Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã hoàn thành nội dung giám sát: Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý đất nông nghiệp.
Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã hoàn thành thực hiện nội dung giám sát: Việc thực hiện Luật An toàn thực phẩm; đang tiếp tục triển khai thực hiện nội dung giám sát: Việc thực hiện các quy định pháp luật đảm bảo an toàn cho học sinh, trẻ em trong trường học và nhà trẻ. Ngoài ra, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã chủ động tổ chức giám sát nội dung phát sinh: Việc thực hiện Luật trẻ em.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đang triển khai thực hiện nội dung giám sát: Việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp; việc giải quyết các chế độ BHXH cho người lao động của cơ quan bảo hiểm xã hội tại địa phương; thực hiện chính sách, pháp luật về An toàn vệ sinh lao động; thực hiện Luật công đoàn, Nghị định số 191/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ về nội dung đóng kinh phí công đoàn của các doanh nghiệp; tình hình thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động tập thể.
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1. Giám sát vụ việc giải quyết những tồn đọng trong triển khai Dự án khu nhà ở và văn phòng làm việc tại khu hồ An Dương, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội
Qua giám sát cho thấy, việc giải quyết những tồn đọng trong triển khai dự án đã được cấp ủy, UBND thành phố đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các các sở, ngành, địa phương liên quan tham mưu các biện pháp giải quyết tuy nhiên nhiều nội dung chưa được tổ chức thực hiện. Dự án khu hồ An Dương là dự án không lớn nhưng tồn đọng, kéo dài gần 30 năm, ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các hộ dân; việc triển khai thực hiện các nội dung theo sự chỉ đạo của thành phố của một số sở, ngành địa phương chưa thực sự quyết liệt, chưa giải quyết được những vấn đề cốt yếu của vụ việc, người dân và doanh nghiệp có đơn thư kéo dài; sự phối hợp giữa các cơ quan và doanh nghiệp chưa thực sự hiệu quả; giữa các sở, ngành của Thành phố, doanh nghiệp và người dân còn chưa đồng nhất về quan điểm giải quyết nên gặp những khó khăn trong quá trình giải quyết. Nguyên nhân kéo dài vụ việc là do sự vào cuộc chưa quyết liệt của UBND thành phố, các ngành, các cấp có liên quan trong giai đoạn đầu; chưa kịp thời giải quyết những vướng mắc mới phát sinh; hiệu quả công tác chỉ đạo trong giải quyết vụ việc chưa cao; những thay đổi về chính sách ảnh hưởng tới môi trường đầu tư, kinh doanh cũng như quyền lợi của người dân chưa được chính quyền địa phương tổng hợp báo cáo kịp thời...
Sau giám sát, Ban Thường trực đã ban hành Công văn kiến nghị số 6892/MTTW-BTT ngày 03/9/2019 báo cáo kết quả giám sát tới Thủ tướng Chính phủ; đồng thời đề nghị UBND thành phố Hà Nội chỉ đạo các sở, ngành có liên quan xem xét; Công ty TNHH xây dựng IDC giải quyết dứt điểm vụ việc và có thông báo kết quả gửi về Ban Thường trực trước ngày 20/4/2020 để tổng hợp kết quả giám sát và báo cáo tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV.
* Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đề nghị Chính phủ chỉ đạo UBND thành phố Hà Nội:
- Chỉ đạo Sở Kế hoạch - Đầu tư rà soát toàn bộ hồ sơ (thủ tục hành chính) còn vướng mắc trong quá trình Công ty IDC triển khai thực hiện Dự án; hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện đúng quy định tại Thông báo 319/TB-UBND ngày 22/3/2019;
- Tiếp tục chỉ đạo Sở Tài chính hướng dẫn Công ty IDC hoàn tất thủ tục hoàn trả khoản kinh phí san lấp hồ An Dương đối với với phần diện tích mà công ty đã san lấp nhưng không được bàn giao thực hiện Dự án;
- Chỉ đạo Cục Thuế Hà Nội tiếp tục chủ trì phối hợp với các ngành liên quan giúp đỡ Công ty IDC trong việc giải quyết khoản nợ thuế và mở lại mã số thuế để tiếp tục thực hiện Dự án;
- Chỉ đạo UBND quận Tây Hồ, phường Yên Phụ rà soát lại toàn bộ hiện trạng đất đai thuộc Dự án theo các quy định của pháp luật; xem xét, giải quyết về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân đủ điều kiện khu vực Dự án nhằm đảm bảo quyền lợi của người dân. Đối với diện tích đất do các hộ gia đình đã lấn chiếm hồ An Dương (sau khi san lấp), UBND quận Tây Hồ có trách nhiệm xử lý theo đúng quy định của Luật đất đai.
2. Giám sát Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Qua thực tiễn thực hiện Luật tổ chức chính quyền địa phương và kiến nghị của Ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố về việc nghiên cứu, sửa đổi các quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Ban Thường trực đã tổ chức giám sát Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Qua nghiên cứu báo cáo của 63 tỉnh, thành phố và thực tiễn thực hiện Luật tổ chức chính quyền địa phương cho thấy, kể từ khi được ban hành, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã tạo được hành lang pháp lý để chính quyền địa phương các cấp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, bảo đảm việc tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những điểm tích cực việc thực hiện Luật còn những hạn chế, vướng mắc nhất định liên quan đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp như: mối quan hệ phối hợp giữa UBND, HĐND với UBMTTQVN và các đoàn thể cùng cấp chưa được thuận lợi; công tác tổ chức, tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND chưa được quy định cụ thể trong Luật…
Sau khi tổ chức hội nghị nghiên cứu, lấy ý kiến các vị Ủy viên Hội đồng tư vấn Dân chủ và Pháp luật của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, một số chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực hành chính Nhà nước và đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, Ban Thường trực đã ban hành Báo cáo số 760/BC-MTTW-BTT ngày 10/6/2019 gửi Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bội Nội vụ, Bộ Tư pháp và một số bộ, ngành kiến nghị sửa đổi Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
* Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đề nghị Chính phủ, Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phương như sau:
- Sửa đổi, bổ sung Điều 15 của Luật tổ chức chính quyền địa phương theo hướng xác định rõ hơn mối quan hệ công tác và quyền, trách nhiệm của mỗi bên (Chính quyền địa phương và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) và để phù hợp, đồng bộ với quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, cụ thể:
+ Bổ sung một khoản (Khoản 1 mới) quy định rõ: quan hệ giữa chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân) với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là quan hệ phối hợp công tác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bên theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và quy chế phối hợp công tác do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành.
+ Sửa Khoản 1 Điều 15 hiện hành như sau: Thay từ “Chính quyền địa phương” bằng các từ “Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân” và bổ sung cụm từ “có trách nhiệm” sau các từ này.
+ Sửa Khoản 3 Điều 15 hiện hành theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của cá nhân Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân dân, người đứng đầu các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân có trách nhiệm thông tin kịp thời cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam việc thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý của mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
+ Sửa Khoản 4 Điều 15 hiện hành như sau: "4. Chính quyền địa phương có trách nhiệm tiếp thu, giải quyết và trả lời các kiến nghị của Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội địa phương khi thực hiện quyền và trách nhiệm tham gia xây dựng chính quyền, tham gia quản lý kinh tế - xã hội, giám sát và phản biện xã hội".
Đồng thời, đề nghị bổ sung một điều trong các chương của Luật, quy định cụ thể nội dung Khoản 4 này, trong đó quy định:
“Đối với kiến nghị tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên họp Ủy ban nhân dân thì có thể trả lời ngay hoặc trả lời bằng văn bản sau kỳ họp, phiên họp 30 ngày.
Đối với văn bản kiến nghị trong quá trình thực hiện quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo quy định tại khoản 1 điều này thì trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị”.
- Đề nghị trong Luật tổ chức chính quyền địa phương cần sửa đổi, bổ sung các điều, khoản tại các chương nhằm cụ thể hóa các quy định chung mang tính nguyên tắc tại Điều 15 (đã được sửa đổi, bổ sung như đề nghị trình bày ở trên).
- Đề nghị bổ sung các điều khoản quy định rõ hơn trách nhiệm, quyền hạn của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tham gia lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người do Hội đồng nhân dân bầu, nếu chỉ quy định như Điều 89 của Luật tổ chức chính quyền địa phương thì gần như không địa phương nào có thể thực hiện được trên thực tế. Viết lại theo 2 phương án: Ủy ban MTTQ Việt Nam đứng ra chủ trì lấy phiếu tín nhiệm như trước kia theo Điều 26 của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 hoặc như hiện nay thì phải có quy định rõ để MTTQ Việt Nam có cơ chế thực hiện.
- Đề nghị xem xét, kiến nghị có một chương hoặc mục riêng trong Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định cụ thể về hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân, trách nhiệm của Thường trực HĐND, UBND, đại biểu HĐND, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và các Ban, ngành có liên quan trong việc tổ chức tiếp xúc cử tri, để bảo đảm cho hoạt động tiếp xúc cử tri với đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được thực hiện chặt chẽ, đồng bộ và có hiệu quả.
Trong trường hợp không quy định trong Luật, thì đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội sớm ban hành Nghị quyết về hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân thay thế cho các quy định này tại Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 hoặc phối hợp với Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam ban hành văn bản thay thế cho Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 và Nghị quyết liên tịch số 525/2012/NQLT/UBTVQH13-ĐCTUBTWMTTQVN để quy định chung về việc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
3. Giám sát Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
Qua thực tiễn thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2015, kiến nghị của Trung ương các tổ chức chính trị - xã hội và Ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố về những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện Luật ban hành VBQPPL năm 2015, Ban Thường trực đã tổ chức giám sát Luật Ban hành VBQPPL năm 2015.
Sau khi tổ chức hội nghị nghiên cứu, lấy ý kiến các vị Ủy viên Hội đồng tư vấn Dân chủ và Pháp luật của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, một số chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực xây dựng pháp luật và đại diện của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên, Liên hiệp các tổ chức Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.., Ban Thường trực nhận thấy kể từ khi được ban hành, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 đã góp phần hoàn thiện hơn hành lang pháp lý cho hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL. Chất lượng VBQPPL đã có chuyển biến tích cực, nhiều văn bản được đề xuất ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những điểm tích cực việc thực hiện Luật còn những hạn chế, vướng mắc nhất định liên quan đến những nội dung quy định về sự phân công, phối hợp trong hoạt động lập pháp; quy định về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác góp ý, phản biện xã hội và xây dựng các văn bản QPPL còn chưa thật đầy đủ, còn chung chung, chưa đủ cụ thể để thực hiện, quy định chưa thống nhất với các quy định của các luật có liên quan hoặc thiếu các biện pháp bảo đảm thực hiện.
Ban Thường trực đã ban hành Báo cáo số 795/BC-MTTW-BTT ngày 15/8/2019 gửi Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Bộ Tư pháp kiến nghị sửa đổi một số quy định tại Luật ban hành VBQPPL năm 2015.
* Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam kiến nghị Chính phủ, Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật ban hành VBQPPL năm 2015 như sau:
- Đề nghị, trong Luật ban hành VBQPPL (sửa đổi) cần thể hiện Chính phủ chịu trách nhiệm chính về chính sách đề ra trong dự thảo Luật trình Quốc hội. Trong trường hợp chính sách trong dự án Luật qua thẩm tra và thảo luận tại Quốc hội không được các đại biểu đồng tình thì Chính phủ cần giải trình, thuyết phục và bảo vệ chính sách thể hiện trong dự án trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội. Nếu cuối cùng Quốc hội vẫn không đồng tình thì Chính phủ và Quốc hội phải nghiên cứu, phân tích, phản biện và giải trình để tìm ra một phương án chính sách mới phù hợp nhất có thể để đưa trình Quốc hội tại các kỳ họp sau.
Đồng thời Quốc hội cần chịu trách nhiệm xem xét, thông qua hay chưa thông qua các dự án Luật do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trình với tư cách là một phương thức kiểm soát quyền lực Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Đề nghị trong Luật Ban hành VBQPPL cần bổ sung hình thức nghị quyết liên tịch ba bên giữa Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ.
- Đề nghị cần bổ sung Luật ban hành VBQPPL các quy định về phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, về giám sát văn bản của MTTQ Việt Nam để phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật MTTQ Việt Nam năm 2015. Đối với những dự án Luật có tác động lớn đến quyền và lợi ích cơ bản của Nhân dân và xã hội, có nhiều ý kiến khác nhau thì bắt buộc phải lấy ý kiến phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam hoặc các tổ chức chính trị - xã hội trước khi thông qua. Cần quy định rõ quy trình, thời gian, hồ sơ gửi lấy ý kiến phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam.
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật ban hành VBQPPL tại các quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tạo điều kiện để MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và nhân dân tham gia góp ý kiến; quy định cần rất cụ thể trong từng lĩnh vực, từng vấn đề để bảo đảm có thể thực hiện được.
Đoàn Chủ tịch đánh giá cao việc phúc đáp kịp thời các kiến nghị của Ban Thường trực, ngày 22/8/2019, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 7511/VPCP-PL ngày 22/8/2019 thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp nghiên cứu các kiến nghị của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tại báo cáo số 795/BC-MTTW-BTT trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành VBQPPL trình Quốc hội; đồng thời có văn bản gửi Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam biết về việc tiếp thu, giải trình ý kiến.
4. Giám sát việc thực hiện pháp luật trong vụ “thỉnh vong”, “giải oan gia trái chủ” tại chùa Ba Vàng, TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
Nhằm đảm bảo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân, phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tăng cường đoàn kết các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Ban Thường trực đã tổ chức giám sát việc thực hiện pháp luật trong vụ “thỉnh vong”, “giải oan gia trái chủ” tại chùa Ba Vàng, TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh theo hình thức nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan.
Sau khi nghiên cứu, trao đổi với các cơ quan liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học, Hội đồng Tư vấn về Tôn giáo của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Thường trực Ban Trị sự GHPG Việt Nam, Ban Thường trực cho rằng, các cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo đã chủ động vào cuộc khi sự việc được các cơ quan truyền thông đăng tin, đề xuất các biện pháp xử lý kịp thời, đúng pháp luật, không để vụ việc kéo dài, ảnh hưởng xấu tới hình ảnh của GHPG Việt Nam và công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo. Giáo hội đã tích cực, chủ động, có thái độ rõ ràng, khách quan trong xử lý vụ việc tại chùa Ba Vàng, đúng quy định của Hiến chương Giáo hội và nội quy Tăng sự Trung ương. Báo chí, truyền thông kịp thời thông tin kết quả xử lý vụ việc, bước đầu đã giúp giải tỏa những bức xúc trong dư luận; kịp thời đề nghị, khuyến cáo người dân cần tỉnh táo, sàng lọc thông tin để không bị dẫn dắt vào những câu chuyện bịa đặt, xuyên tạc, kích động; góp phần giúp các cấp chính quyền trong việc phát hiện và tăng cường công tác quản lý, định hướng các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Bên cạnh những mặt tích cực, việc thực hiện pháp luật của các cơ quan chức năng trong vụ “thỉnh vong”, “giải oan gia trái chủ” tại chùa Ba Vàng, TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh vẫn còn một số hạn chế, cụ thể như:
- Về truyền thông: Việc đưa tin “chưa có định hướng” ở giai đoạn đầu về vụ việc “thỉnh vong”, “giải oan gia trái chủ” đã gây xôn xao dư luận và nhiễu thông tin; những tác động trái chiều của truyền thông trong vụ việc “thỉnh vong”, “giải oan gia trái chủ” tại chùa Ba Vàng làm ảnh hưởng tới hình ảnh tốt đẹp và lòng tin của Nhân dân đối với Phật giáo; ảnh hưởng tới công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng tuyên truyền, nói xấu chế độ... thậm chí lợi dụng hình ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến thăm chùa Ba Vàng trong những chuyến công tác địa phương để bôi nhọ, nói xấu nhằm mục đích chia rẽ, gây mất đoàn kết trong nội bộ Phật giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Về công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo: Có sự buông lỏng quản lý của các cơ quan chức năng, địa phương nên để vụ việc “thỉnh vong”, “giải oan gia trái chủ” tại chùa Ba Vàng kéo dài từ năm 2015; sự nắm bắt thông tin của các cơ quan chức năng còn hạn chế, cơ chế phòng ngừa chưa được quan tâm đúng mức; chưa có sự nhắc nhở, tỏ thái độ với các biểu hiện, việc làm sai; sự vào cuộc của các cơ quan quản lý Nhà nước ban đầu còn lúng túng, đến nay vẫn chưa có kết luận có sự ép buộc, trục lợi hay không.
- Đối với MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội: Sự nắm bắt dư luận xã hội của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội để phản ánh với lãnh đạo Đảng, Nhà nước còn chậm; việc giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo còn những hạn chế.
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do nhận thức của một số người dân còn hạn chế nên dễ bị lợi dụng, tuyên truyền những tư tưởng xấu, độc, những sự việc thiếu cơ sở khoa học. Chùa Ba Vàng đã buông lỏng quản lý, giáo dục, để một số người lợi dụng truyền bá những sự việc chưa đúng với tinh thần đạo Phật. Một số quy định của pháp luật chưa rõ, chưa có quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; mức xử phạt các hành vi phạm pháp luật và các quy định về lĩnh vực văn hóa chưa đủ sức răn đe dẫn đến biểu hiện coi thường sau xử phạt. Sự trao đổi thông tin, phối hợp xử lý giữa các cơ quan, định hướng truyền thông ban đầu còn hạn chế, ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân. Công tác giáo dục, quản lý tăng ni của Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn có những bất cập.
Tóm lại: Các hoạt động “thỉnh vong”, “giải oan gia trái chủ” gắn với một số biểu hiện “hù dọa” là không đúng tinh thần cứu khổ cứu nạn của Phật giáo (việc này đã được nêu trong Mục 1 tại Thông báo số 066/TB-HĐTS, ngày 26/3/2019 của Hội đồng Trị sự GHPG Việt Nam).
Việc buộc phải “trả nợ cho vong” bằng tiền thông qua hình thức công đức vào chùa hoặc làm công quả lao động là trái với thuần phong, mỹ tục, đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, trái với Điều 5, Điều 9 của Luật tín ngưỡng, tôn giáo.
Sau giám sát, Ban Thường trực đã tổng hợp, xây dựng Báo cáo số 796/BC-MTTW-BTT ngày 16/8/2019 về kết quả giám sát và kiến nghị gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành và địa phương.
* Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đề nghị Quốc hội, Chính phủ:
- Tiếp tục chỉ đạo các cơ quan liên quan tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đặc biệt là Luật tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao nhận thức của Nhân dân về tôn giáo, tín ngưỡng, nâng cao cảnh giác đối với các hoạt động mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng để trục lợi.
- Chỉ đạo các cơ quan quản lý báo chí, truyền thông tăng cường phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước và MTTQ Việt Nam các cấp trong việc tuyên truyền, định hướng các vấn đề liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng; hàng năm bồi dưỡng, tập huấn cho phóng viên về công tác tuyên truyền các sự vụ có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, theo tinh thần Đề án “Tăng cường vận động, đoàn kết các tôn giáo ở nước ta hiện nay”.
- Chỉ đạo các cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo chủ động, tăng cường công tác kiểm tra, phối hợp để có những phương án xử lý phù hợp đối với những vụ việc có liên quan đến tôn giáo theo tinh thần “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu, kích động, gây mất trật tự an ninh xã hội, trục lợi.
- Chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về công tác tôn giáo, tín ngưỡng. Quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với đồng bào các tôn giáo và cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo.
5. Giám sát thường xuyên các vụ việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân
Tính đến hết tháng 9/2019, trên cơ sở nắm bắt thông tin, nghiên cứu đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh của công dân về những vụ việc nổi cộm, thu hút sự quan tâm của công luận, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của Nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã có văn bản gửi đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết hoặc đề nghị Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố chủ động nắm bắt tình hình và phối hợp với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở địa phương thực hiện giám sát theo quy định với những vụ việc sau:
- Đề nghị UBND tỉnh Phú Yên báo cáo kết quả giải quyết, làm rõ nội dung liên quan đến một số hộ dân thôn Nhơn Hội, thôn Hội Sơn, xã An Hòa, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên khiếu nại chính quyền tỉnh Phú Yên đập phá chợ Yến (cũ) để xây chợ Yến (mới) nhưng không tổ chức họp, bàn bạc dân chủ với các hộ dân kinh doanh; không ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với 772 hộ dân theo quy định.
- Đề nghị Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC nghiên cứu, xem xét ý kiến, kiến nghị của Hiệp hội Bệnh viện Tư nhân Việt Nam trong vụ án tai biến y khoa xảy ra tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình liên quan đến bác sỹ Hoàng Công Lương.
- Đề nghị Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội giám sát nội dung phản ánh về tham nhũng của một số cư dân Tòa chung cư đô thị kiểu mẫu Bắc Linh Đàm, bán đảo Linh Đàm, phường Hoàng Liệt; khu đô thị Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
6. Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý đất nông nghiệp
Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức giám sát thông qua nghiên cứu, xem xét các loại văn bản thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quản lý đất nông nghiệp.
Sau khi tiếp thu ý kiến, kiến nghị, phản ánh của cán bộ, hội viên, nông dân; nghiên cứu báo cáo thực trạng tình hình quản lý đất nông, lâm nghiệp của thành phố Hà Nội, tỉnh Đắk Lắk và một số cơ quan ở Trung ương; tổng hợp báo cáo của Hội Nông dân các tỉnh, thành phố, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cho rằng các chính sách và việc thực hiện chính sách về đất đai hiện nay đang bộc lộ một số bất cập; tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai đang diễn ra ở một số địa phương; việc khiếu nại về giá đất bồi thường hiện nay chủ yếu là khâu tổ chức thực hiện xác định giá đất cụ thể chưa đảm bảo theo nguyên tắc thị trường theo quy định của Luật đất đai. Tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, vi phạm pháp luật về đất đai có nguồn gốc nông trường, lâm trường ở một số nơi hiện nay chưa được giải quyết triệt để, nhiều vụ việc còn kéo dài nhưng chưa có biện pháp xử lý… Nguyên nhân do tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, không thống nhất, không đồng bộ giữa pháp luật về đất đai và các pháp luật khác có liên quan; việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành Luật đất đai theo phân cấp của các địa phương chưa đầy đủ, kịp thời, chất lượng thấp, một số văn bản ban hành chưa đúng thẩm quyền, ban hành còn chậm so với thời điểm Luật đất đai có hiệu lực thi hành…
Sau giám sát, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã ban hành Báo cáo số 82-BC/HNDTW ngày 11/7/2019 về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý đất nông nghiệp với một số kiến nghị gửi Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương.
* Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam có một số kiến nghị sau:
- Đề nghị Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội tăng cường hoạt động giám sát về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp; việc quản lý, sử dụng đất tại các công ty nông, lâm nghiệp, các ban quản lý rừng, vườn quốc gia, khu bảo tồn do các Bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương quản lý. Đề nghị Quốc hội nghiên cứu bố trí nguồn vốn để xử lý sạt lở bờ biển, bờ sông, bảo vệ tài sản tính mạng cho người dân trước tình hình biến đổi khí hậu diễn ra phức tạp, nhanh, gây sạt lở trên diện rộng gây thiệt hại rất lớn cho người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành chức năng, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất nông nghiệp. Quản lý hiệu quả đất đai có nguồn gốc nông trường, lâm trường quốc doanh, sử dụng tốt nguồn lực đất đai hiện tại của các công ty nông nghiệp, lâm nghiệp. Rà soát các chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số... để bảo đảm tính thống nhất, phù hợp thực tiễn.
- Đề nghị Chính phủ chỉ đạo ngành Ngân hàng sớm có chính sách khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất cho vay đối với người chăn nuôi lợn bị thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi để hỗ trợ người nông dân chăn nuôi khôi phục sản xuất sau dịch tả lợn châu Phi.
7. Giám sát việc thực hiện Luật an toàn thực phẩm
Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức giám sát việc thực hiện Luật an toàn thực phẩm tại 04 tỉnh: Bắc Ninh, Sơn La, Cà Mau, Tây Ninh.
Qua giám sát cho thấy, các địa phương đã quan tâm đến công tác chỉ đạo và triển khai thực hiện pháp luật về bảo đảm ATTP; có quy định và kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với bếp ăn tập thể của bệnh viện; thức ăn đường phố; chợ; cơ sở sản xuất, trồng trọt… Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ở tuyến xã hiệu quả hoạt động chưa cao; khó khăn trong việc quản lý và kiểm soát chất lượng ATTP đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ; truy xuất nguồn gốc thực phẩm đã được quan tâm nhưng chưa thực hiện triệt để; hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ATTP nhiều, chưa đồng bộ, thiếu tính thống nhất, khó khăn cho việc áp dụng; còn thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, địa phương về ATTP; công tác phối hợp liên ngành ở một số địa bàn chưa chặt chẽ; chưa phát huy hết vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động, giám sát thực hiện ATTP...
Sau giám sát, Đoàn Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã ban hành các Báo cáo số 374, 375, 380, 391/BCGS-ĐCT ngày 17-25/9/2019 về kết quả giám sát việc thực hiện Luật an toàn thực phẩm tại các tỉnh: Bắc Ninh, Cà Mau, Tây Ninh; đang hoàn thiện báo cáo kết quả giám sát tỉnh Sơn La với một số kiến nghị gửi Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương.
* Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đề nghị Chính phủ:
- Nghiên cứu, tổng kết mô hình phân công, phân cấp quản lý của một số tỉnh để rút kinh nghiệm trong chỉ đạo kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về ATTP; bổ sung quy định về thẩm quyền xử lý, xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng Ban Quản lý ATTP tỉnh trong hệ thống các cơ quan thanh tra chuyên ngành.
- Chỉ đạo các bộ, ngành chức năng rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản về ATTP bảo đảm đồng bộ, phù hợp, thống nhất với Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ; xây dựng, hoàn thiện bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về ATTP.
- Chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Công thương rà soát, nghiên cứu hướng dẫn một số quy định tại Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 và Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày 12/11/2018 của Chính phủ như: Việc cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP đối với cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống đăng ký hộ kinh doanh; việc áp dụng chế tài xử phạt đối với hộ kinh doanh và cá nhân vi phạm quy định về Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP...
- Bộ Công thương xem xét, đánh giá tác động quy định tại Điều 18 của Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ liên quan đến bãi bỏ một số điều kiện đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc quản lý của Bộ Công thương; đảm bảo kiểm soát chất lượng ATTP đối với tất cả hàng hoá, thực phẩm, đồ uống.
- Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung hướng dẫn về quy định giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm theo Thông tư số 50//2016/TT-BYT ngày 30/12/2016 của Bộ Y tế và Thông tư số 03/2018/TT-BNNPTNT ngày 09/02/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Công thương phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực hiện có hiệu quả Chương trình phối hợp số 526/CTPH-CP-HNDVN-LHPNVN ngày 03/11/2017 giữa Chính phủ, Hội Nông dân Việt Nam, Hội LHPN Việt Nam về tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn vì sức khoẻ cộng đồng giai đoạn 2017 - 2020.
8. Giám sát thực hiện Luật trẻ em
Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức giám sát việc thực hiện Luật trẻ em tại 02 tỉnh: Cà Mau, Yên Bái.
Qua giám sát cho thấy, các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật lồng ghép với việc triển khai Luật trẻ em theo các chương trình bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã được triển khai sâu rộng; công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện Luật Trẻ em được các ngành quan tâm; một số mô hình dành cho trẻ em đạt được những hiệu quả tích cực như mô hình Ngôi nhà an toàn phòng chống tai nạn, thương tích, mô hình Quản lý, giáo dục trẻ em làm trái pháp luật tại cộng đồng; công tác phối hợp giữa các ngành có hiệu quả... Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện Luật trẻ em còn một số khó khăn như: Trình độ dân trí ở một số vùng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở các vùng nhiều người dân tộc sinh sống, do đó nguy cơ tiềm ẩn của vấn đề bạo lực, xâm hại trẻ em tại các vùng này vẫn còn cao; nguồn lực dành cho công tác Bảo vệ chăm sóc trẻ em ở cấp huyện, xã còn hạn chế; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác trẻ em còn hạn chế; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cần được thực hiện thường xuyên, thực chất hơn nữa để kịp thời phát hiện, kiến nghị, đề xuất các nội dung liên quan tới thực hiện Luật trẻ em.
Sau giám sát, Đoàn Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đang hoàn thiện báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện Luật trẻ em tại 02 tỉnh: Cà Mau, Yên Bái với một số kiến nghị gửi Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương.
* Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đề nghị Chính phủ:
- Chỉ đạo các bộ, ngành nghiên cứu, xây dựng chương trình, đề án, chính sách cho giai đoạn 2021 - 2025 để kịp thời để chỉ đạo thực hiện. Các quyết định của Thủ tướng Chính phủ đối với công tác trẻ em giai đoạn 2016 - 2020 đến nay đã chuẩn bị kết thúc.
- Chỉ đạo các bộ ngành liên quan nghiêm túc thực hiện Điều 70 Luật trẻ em quy định về các yêu cầu bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng; tạo điều kiện cho MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện có hiệu quả trách nhiệm quy định tại Điều 91 Luật trẻ em.
- Tiếp tục rà soát sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn liên quan đến phòng chống xâm hại trẻ em; hướng dẫn cụ thể về “người làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em cấp xã” theo quy định Khoản 4 Điều 90 của Luật Trẻ em; đồng thời có chính sách phù hợp để thu hút cán bộ có trình độ, có kinh nghiệm làm công tác bảo vệ trẻ em các cấp.
9. Giám sát việc thực hiện Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008; Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12/12/2006; Nghị định số 157/2016/NĐ-CP ngày 24/11/2016 của Chính phủ
Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tổ chức giám sát việc thực hiện Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương; Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc; Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12/12/2006; Nghị định số 157/2016/NĐ-CP ngày 24/11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Cựu chiến binh tại Ủy ban nhân dân 02 tỉnh: Tây Ninh và Bình Dương.
Qua giám sát cho thấy, cấp ủy, chính quyền các cấp các cơ quan chức năng của tỉnh Tây Ninh và Bình Dương đã thực hiện nghiêm Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định của Chính phủ, bám sát hướng dẫn, chỉ đạo của trên, triển khai đồng bộ, đúng quy trình, công khai, dân chủ, minh bạch, đúng đối tượng tạo được lòng tin và sự đồng thuận cao trong nhân dân có tác động tích cực đến đời sống an sinh xã hội, ổn định chính trị ở địa phương và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Bên cạnh những kết quả đạt được còn một số hạn chế như: Cấp ủy, chính quyền một số địa phương giai đoạn đầu chưa làm tốt công tác chỉ đạo kiểm tra, đôn đốc, chưa phát huy hết vai trò của các ban, ngành, đoàn thể trong quả trình thực hiện; việc cấp và đổi thẻ bảo hiểm y tế, chi trả mai táng phí giai đoạn đầu còn chậm; việc triển khai lập hồ sơ xét duyệt ở cơ sở nhất là ở xã, phường, thị trấn còn sai sót, chưa đúng quy định, có nơi phải làm đi làm lại nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện… Nguyên nhân do thời gian đã lâu, phần lớn đối tượng không còn giữ được các giấy tờ có liên quan đến thời gian chiến đấu và phục vụ chiến đấu; một số đối tượng đã từ trần, thân nhân của đối tượng không nắm rõ thời gian tham gia công tác, một số đối tượng không nhớ rõ địa bàn công tác, gây khó khăn cho việc xác lập và xét duyệt hồ sơ; sự phối hợp giữa các cấp, các ban, ngành đoàn thể có lúc chưa nhịp nhàng thiếu đồng bộ…
* Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đề nghị Chính phủ:
- Cần xem xét, áp dụng chế độ chính sách đối với đối tượng thực hiện theo Quyết định số 62 có thời gian thực tế công tác ở Cam - pu - chia, giúp bạn Lào tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nhưng đơn vị không có trong danh mục, thời gian, địa bàn cụ thể theo quy định.
- Xem xét nâng tiền trợ cấp hàng tháng cho các đối tượng là người có công và tổng kết tổ chức thực hiện Quyết định số 142, 62 của Thủ tướng Chính phủ.
10. Giám sát việc thực hiện Quyết định số 289-QĐ/TW ngày 08/2/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc ban hành Quy chế cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức giám sát việc thực hiện Quyết định số 289-QĐ/TW ngày 08/2/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc ban hành Quy chế cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại 6 tỉnh: Điện Biên, Quảng Trị, Bình Phước, Vĩnh Long, Hậu Giang, Long An.
Qua giám sát cho thấy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy các tỉnh được giám sát đã tổ chức triển khai, quán triệt Quyết định 289-QĐ/TW ngày 08/02/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đến các tổ chức Đảng trực thuộc; công tác tuyển dụng cán bộ được các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở quán triệt nghiêm túc, chặt chẽ, đúng quy trình, quy định, hướng dẫn của Trung ương, của Tỉnh; quan tâm đến công tác rà soát, bổ sung quy hoạch đối với cán bộ cán bộ trẻ, cán bộ làm công tác thanh niên; quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cán bộ, nhất là đối với cán bộ đoàn; công tác luân chuyển, điều động cán bộ trong hệ thống Đoàn được quan tâm triển khai thực hiện trong những năm gần đây và bước đầu phát huy được hiệu quả. … Bên cạnh đó, việc đảm bảo tiêu chuẩn quy định về trình độ lý luận chính trị của một số cán bộ đoàn cấp tỉnh và đoàn cơ sở ở một số nơi chưa đảm bảo theo quy định tại Quyết định số 289-QĐ/TW ngày 08/02/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; tỷ lệ cán bộ đoàn cấp cơ sở tham gia cấp ủy còn hạn chế về số lượng; việc luân chuyển, bố trí cán bộ đoàn cấp cơ sở khi đến tuổi theo quy định chưa kịp thời, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn công tác...
Sau giám sát, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã ban hành các Thông báo số 01, 02, 04, 07, 08-TB/TWĐTN-BKT ngày 8-23/7/2019 về kết quả giám sát việc thực hiện Quyết định số 289-QĐ/TW ngày 08/2/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng với một số kiến nghị gửi Ban Thường vụ các Tỉnh ủy: Điện Biên, Quảng Trị, Bình Phước, Vĩnh Long, Hậu Giang, Long An.
* Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đề nghị Chính phủ:
- Chỉ đạo UBND các tỉnh, thành phố quan tâm chỉ đạo thường xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tạo điều kiện giúp cán bộ Đoàn được chuẩn hóa trong quá trình quy hoạch, bổ nhiệm các chức danh theo quy định của Đảng và Chỉ thị 28/CT-TTg ngày 18/9/2018 của Thủ tướng Chính Phủ về đẩy mạnh bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với cán bộ, công chức, viên chức.
- Chỉ đạo UBND, HĐND các tỉnh, thành phố quan tâm hỗ trợ kinh phí hàng tháng cho đội ngũ bí thư, phó bí thư chi đoàn, phó bí thư đoàn cơ sở ở các địa bàn khu dân cư; kinh phí hỗ trợ hàng tháng cho đội ngũ bí thư, phó bí thư chi đoàn, bí thư, phó bí thư đoàn cơ sở ở các trong trường học, doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước.
11. Phối hợp thực hiện các hoạt động giám sát theo quy chế phối hợp với các cơ quan hữu quan
Thực hiện Quy chế phối hợp công tác số 01/QC/MTTQ -VKSNDTC ngày 27/8/2014 giữa Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã tham gia kiểm sát, giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tại 02 tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh. Sau giám sát, Đoàn kiểm tra, giám sát đã có kiến nghị đề nghị cơ quan có thẩm quyền có giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong thi hành án tử hình hiện nay; đồng thời phối hợp tham gia Tổ công tác của Chính phủ trong rà soát, chỉ đạo giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, đông người, kéo dài đạt nhiều kết quả.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Thuận lợi và kết quả đạt được
- Trong thời gian qua, hệ thống MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã có đầy đủ hệ thống các văn bản của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện công tác giám sát. Đây là cơ sở quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai hiệu quả hoạt động này2.
- Hoạt động giám sát của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ, thực chất, nền nếp hơn thông qua việc tập trung lựa chọn những vấn đề mà nhân dân đang quan tâm, bức xúc; hướng nội dung giám sát vào những vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp; kết hợp tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đúng pháp luật, góp phần giảm thiểu tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài.
- Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tiếp tục quan tâm thực hiện 04 hình thức giám sát, trong đó tăng cường giám sát văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; giám sát đột xuất và phối hợp, tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam tiếp tục nhận được sự quan tâm của Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan và chính quyền các địa phương. Các nội dung kiến nghị sau giám sát được Chính phủ kịp thời có văn bản phúc đáp và chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan thực hiện.
- Cơ quan, tổ chức phối hợp triển khai các chương trình giám sát do Ban Thường trực chủ trì đã tích cực, chủ động trong việc bố trí cán bộ theo dõi, tham gia các hoạt động, tiếp nhận và xử lý thông tin thường xuyên, hỗ trợ cho quá trình giám sát.
2. Một số hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát của Mặt trận và các tổ chức chính trị xã hội còn có một số khó khăn, hạn chế như:
- Ngay từ đầu năm, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã sớm chủ động ban hành kế hoạch, quan tâm chỉ đạo và triển khai tích cực các hoạt động giám sát và phản biện xã hội. Tuy nhiên, 9 tháng đầu năm 2019, nhiệm vụ trọng tâm của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam là tập trung tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam khóa IX, nhiệm kỳ 2019-2024, nên bên cạnh những chương trình giám sát triển khai đúng tiến độ theo kế hoạch, còn một số chương trình giám sát triển khai chậm so với kế hoạch.
- Việc tổ chức hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam còn chưa đều giữa các tổ chức thành viên và các cấp. Chưa có sự quan tâm, sâu sát chỉ đạo thực hiện của người đứng đầu một số tổ chức. Một số vụ việc nhân dân bức xúc kéo dài nhưng chưa rõ vai trò giám sát, phản ánh, kiến nghị của MTTQ các cấp.
- Mặc dù nhiều kiến nghị của MTTQ Việt Nam đã được cấp có thẩm quyền trao đổi, tiếp thu, phản hồi, tuy nhiên sự phản hồi ở một số cơ quan còn dừng ở mức độ nhất định, như ghi nhận hoặc nghiên cứu xem xét.
- Yêu cầu về công tác giám sát đặt ra rất lớn cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, trong khi tổ chức bộ máy và lực lượng cán bộ làm công tác Mặt trận nói chung, làm công tác giám sát nói riêng còn chưa được tăng cường một cách tương xứng để đáp ứng những yêu cầu này.
IV. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Ban Thường trực và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục thực hiện các nội dung, nhiệm vụ đã đề ra tại Kế hoạch số 01/KH-MTTW-UB ngày 24/01/2019 về giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam năm 2019.
2. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về hoạt động giám sát và phản biện xã hội; kết quả, kinh nghiệm, cách làm thiết thực trong tổ chức thực hiện nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và Nhân dân về công tác giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Tiếp tục phát huy 04 hình thức giám sát, trong đó chú trọng giám sát đột xuất; giám sát cán bộ, đảng viên; theo dõi, đôn đốc, chất vấn yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các đề xuất, kiến nghị sau giám sát.
4. Phát huy vai trò của các nhà khoa học, chuyên gia, người có kinh nghiệm, uy tín, tiêu biểu tham gia vào quá trình giám sát, lắng nghe ý kiến của người dân…nhằm nâng cao tác dụng, hiệu quả hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam.
5. Tăng cường sự phối hợp giữa hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam với các tổ chức thành viên. Đặc biệt, chú trọng việc phối hợp giữa hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam với hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND các cấp nhằm tạo ra cơ chế giám sát đồng bộ, có hiệu quả.
Trên đây là kết quả giám sát của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từ sau kỳ họp thứ 7 đến kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV. Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam trân trọng đề nghị Quốc hội, Chính phủ xem xét, chỉ đạo giải quyết những kiến nghị theo quy định./.
| Nơi nhận: - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; - Chủ tịch Quốc hội; - Thủ tướng Chính phủ; - Ủy ban Thường vụ Quốc hội; - Ban Bí thư Trung ương Đảng; - HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội; - Các Ban Đảng, Văn phòng TW Đảng; - Kiểm toán Nhà nước; - TANDTC, VKSNDTC; - VPCTN, VPQH, VPCP; - Các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - Các đại biểu Quốc hội; - Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN; - Các TCTV của MTTQVN ở Trung ương; - Ủy ban MTTQVN các tỉnh, thành phố; - Lưu VT, Ban DCPL. |
TM. ĐOÀN CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH (Đã ký) Ngô Sách Thực |