a) Tên Đề tài: Nghiên cứu mức độ đánh đổi của bộ ba bất khả thi và gợi ý cho Việt Nam, Mã số: ĐTNH.017/17.
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: PGS.TS. Tô Kim Ngọc, Nguyên phó Giám đốc, Học viện Ngân hàng
- Thư ký: NCS. Nguyễn Thanh Nhàn;
- Các thành viên tham gia: ThS. Vũ Thị Kim Oanh; ThS. Vũ Ngọc Hương; ThS. Trần Hữu Tuyến; ThS. Lê Hà Thu; ThS. Nguyễn Huyền Dịu; CN. Nguyễn Khương Duy.
d) Mục tiêu của nhiệm vụ: Nghiên cứu xu hướng điều chỉnh và quản lý bộ ba bất khả thi tại một số quốc gia trong khu vực, trên cơ sở đó đề xuất các gợi ý chính sách về sự lựa chọn và phối hợp chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá trong bối cảnh hội nhập tài chính ở Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 12/2017.
- Thời gian kết thúc: Tháng 06/2019.
e) Kinh phí thực hiện: 218,077 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện:
Nhằm mục tiêu nghiên cứu xu hướng điều chỉnh và quản lý bộ ba bất khả thi tại một số quốc gia trong khu vực, trên cơ sở đó đề xuất các gợi ý chính sách về sự lựa chọn và phối hợp chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá trong bối cảnh hội nhập tài chính ở Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025, đề tài ĐTNH. 017/17 đã triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể sau:
Chương 1 nghiên cứu cơ sở lý thuyết bộ ba bất khả thi và sự lựa chọn phối hợp chính sách, bao gồm: sự phát triển lý thuyết bộ ba bất khả thi; thước đo mức độ đạt được các mục tiêu của bộ ba bất khả thi; mô hình đo lường mức độ phối hợp và tác động của bộ ba bất khả thi; xu hướng lựa chọn của bộ ba mục tiêu chính sách và các nhân tố quyết định sự kết hợp chính sách bộ ba bất khả thi.
Chương 2 nghiên cứu kinh nghiệm lựa chọn và quản lý bộ ba bất khả thi tại một số quốc gia trong khu vực, gồm Singapore, Fiji, Indonesia, Trung quốc, Ấn độ; Nghiên cứu tác động của sự lựa chọn ba bất khả thi đến hiệu quả vĩ mô (sản lượng, lạm phát, ổn định tài chính), từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như: xu hướng lựa chọn mô hình trung dung; mức độ hội tụ của bộ ba chính sách; xu hướng tất yếu của việc mở của thị trường tài chính; xu hướng gia tăng dự trữ ngoại hối để tăng khả năng can thiệp vào bộ ba bất khả thi, giảm bớt mức độ đánh đổi các mục tiêu.
Chương 3 của đề tài phân tích thực trạng lựa chọn phối hợp bộ ba mục tiêu chính sách của Việt Nam giai đoạn 2000-2017 và đề xuất chính sách giai đoạn 2018-2025. Theo đó, nhóm nghiên cứu đề xuất Việt Nam tiếp tục theo đuổi mô hình trung dung, có ưu tiên về độc lập tiền tệ, chấp nhận giảm dần ổn định tỷ giá và cải thiện quy mô dự trữ ngoại hối.
Đề tài được Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại Giỏi./.