a) Tên Đề tài: Quản lý nhà nước đối với hệ thống quỹ tín dụng nhân dân: Thực trạng và giải pháp, Mã số: ĐTNH.004/16
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Hòa, Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng.
- Thư ký đề tài: ThS. Hoàng Quốc Mạnh;
- Các thành viên tham gia: ThS. Hà Thị Thanh Thủy; TS. Phí Trọng Hiển; CN. Nguyễn Hải Thanh; ThS. Trần Thị Thanh Hòa; CN. Nguyễn Tiến Minh; ThS. Nguyễn Văn Huy; TS. Đinh Ngọc Thạch; ThS. Lương Thị Cẩm Tú; CN. Nguyễn Anh Tuấn; CN. Nguyễn Đức Anh; CN. Nguyễn Anh Tuấn; ThS. Đào Phương Thảo.
d) Mục tiêu của nhiệm vụ: Nghiên cứu cơ sở lý luận/kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước (QLNN) đối với hệ thống Quỹ tín dụng; Thực trạng hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), thực trạng công tác QLNN của NHNN đối với QTDND; từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với hoạt động của hệ thống QTDND
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 10/2016.
- Thời gian kết thúc: Tháng 02/2018.
e) Kinh phí thực hiện: 240 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện:
Nhằm mục tiêu nghiên cứu các vấn đề cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng trong nước để đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần củng cố, hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của hệ thống QTDND, đề tài ĐTNH.004/16 đã triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
Chương 1 nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước (QLNN) đối với hệ thống Quỹ tín dụng, bao gồm tổng quan về hệ thống Quỹ tín dụng, QLNN đối với hệ thống Quỹ tín dụng; kinh nghiệm quản lý, hỗ trợ phát triển hệ thống Quỹ tín dụng tại một số nước và bài học cho Việt Nam. Theo nhóm nghiên cứu, các QTD trên thực tế đã khẳng định được vai trò quan trọng trong việc trợ giúp cho người lao động sản xuất nhỏ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà trong đó đại bộ phận ở khu vực nông nghiệp, nông thôn có thể tiếp cận dễ dàng, thuận tiện đối với các dịch vụ tài chính ngân hàng nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các hoạt động kinh doanh, sản xuất. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù có tính rủi ro cao, có tác động dây chuyền nên việc quản lý nhà nước đối với hệ thống QTD có vai trò hết sức quan trọng.
Thông qua nghiên cứu các vấn đề về cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, nhóm nghiên cứu đã rút ra một số vấn đề về định hướng phát triển hệ thống các QTD trong hệ thống tài chính quốc gia, bao gồm sự cần thiết phát triển khu vực HTX trong hệ thống tài chính quốc gia; Xu hướng phát triển hệ thống các QTD trong hệ thống tài chính quốc gia; kinh nghiệm quản lý, giám sát và các nội dung quản lý nhà nước đối với QTD; Về các biện pháp và cơ chế hỗ trợ từ Chính phủ và các tổ chức khác... Mặc dù, không có mô hình cũng như quy định nào phù hợp cho tất cả các hệ thống, nhóm nghiên cứu cho rằng cần lưu ý một số vấn đề để xây dựng một hệ thống quản lý nhà nước vững chắc nhưng vẫn tạo sự chủ động cho hệ thống QTD phát triển, bao gồm:
- Về mô hình tổ chức quản lý, giám sát hệ thống QTD: Có thể thấy 02 mô hình phổ biến và hiệu quả cần cân nhắc là (i) Cơ quan chịu trách nhiệm giám sát khu vực tài chính của nền kinh tế trực tiếp giám sát toàn bộ các QTD (giám sát trực tiếp) hoặc (ii) Ủy quyền giám sát cho bên thứ ba (giám sát gián tiếp), trong đó có cả việc ủy quyền giám sát một phần.
- Về các nội dung quản lý nhà nước đối với QTD: Các nội dung quản lý nhà nước căn bản bao gồm hoạt động cấp phép, xây dựng và ban hành cơ chế chính sách và thanh tra, giám sát, trong đó: Nên có các quy định pháp lý riêng dành cho khu vực QTD; Các tiêu chuẩn điều tiết QTD đòi hỏi mức vốn ban đầu thấp hơn so với các định chế tài chính khác. Hoạt động thanh tra, giám sát đối với hệ thống các QTD phải được thực hiện với những phương pháp, phương thức được lựa chọn trên cơ sở phù hợp với trình độ phát triển và mức độ phức tạp trong mô hình tổ chức hệ thống và hoạt động của QTD.
- Về hỗ trợ phát triển hệ thống QTD: Mặc dù đã đạt được những thành công nhất định trong quá trình phát triển, nhưng hệ thống các QTD vẫn là những định chế dễ bị tổn thương khi một mặt phải thực hiện các nhiệm vụ xã hội, hướng tới phục vụ các đối tượng yếu thế, mặt khác lại là những tổ chức có quy mô tài sản, năng lực tài chính nhỏ so với các định chế tài chính khác. Do vậy, bên cạnh việc định hướng phát triển đúng đắn, xây dựng mô hình quản lý, giám sát và thiết lập các quy định điều tiết chặt chẽ, hệ thống QTD cần có sự hỗ trợ của chính phủ cũng như của các đối tác và các tổ chức tài trợ trong và ngoài nước.
Chương 2 của đề tài nghiên cứu về thực trạng hoạt động của hệ thống QTDND và công tác quản lý nhà nước của NHNN đối với hệ thống QTDND. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình Hợp tác xã tín dụng (HTXTD) đã ra đời từ năm 1956, nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng để phát triển sản xuất và cải thiện đời sống của nông dân, đặc biệt là nông dân nghèo. Theo thời gian, mặc dù có nhiều thay đổi về mô hình và công tác quản lý nhà nước đối với mô hình QTDND,
Nhà nước vẫn kiên trì về chủ trương phát triển loại hình kinh tế hợp tác hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - ngân hàng. Bước đầu tính liên kết hệ thống của mô hình TCTD là HTX được hình thành, là tiền đề quan trọng để duy trì hệ thống phát triển bền vững và tôn chỉ mục đích hoạt động.
Tuy nhiên, hệ thống QTDND hiện nay bộc lộ một số tồn tại như sau: (i) Một bộ phận QTDND xa rời mục tiêu hoạt động, có biểu hiện chạy theo lợi nhuận đơn thuần. Nhiều QTDND có cơ cấu giữa nguồn huy động và dư nợ cho vay mất cân đối, chất lượng hoạt động thấp, tình hình tài chính yếu, nợ quá hạn cao và xu hướng ngày càng tăng. Một số QTDND lâm vào tình trạng khó khăn trong thanh toán, chi trả có nguy cơ ảnh hưởng đến các QTDND khác trên địa bàn. (ii) Tính liên kết của hệ thống QTDND còn lỏng lẻo, mang tính hình thức, chưa phát huy hết tiềm năng thực sự của mô hình hợp tác xã.
Công tác quản lý Nhà nước đối với hệ thống QTDND không ngừng được hoàn thiện, thực hiện đầy đủ các nội dung quản lý Nhà nước đối với hệ thống QTDND và về cơ bản đã đạt được mục tiêu xây dựng, hình thành và duy trì một hệ thống QTDND hoạt động an toàn, hiệu quả. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức, bộ máy của cơ quan quản lý Nhà nước bộc lộ một số bất cập, khiến hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hệ thống QTDND còn hạn chế. Một số nội dung quản lý Nhà nước thực hiện chưa tốt, chưa đúng định hướng chỉ đạo của Thống đốc NHNN, hiệu quả chưa cao như: Một số quy định áp dụng đối với QTDND chưa hoàn toàn phù hợp với đặc thù hoạt động của QTDND (như thành viên, vốn góp, quy chế cho vay, địa bàn,...); Việc thẩm định hồ sơ cấp phép của một số NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố vẫn còn hiện tượng sơ sài, đại khái; Công tác giám sát chủ yếu đánh giá qua các báo cáo định kỳ của QTDND, do đó đôi khi có sự thiếu chính xác; Việc xử lý các QTDND yếu kém còn chậm chạp, kéo dài, một phần do phải qua rất nhiều khâu, nhiều cấp mới quyết định được giải pháp xử lý; Vai trò chỉ đạo, tham gia của NHNN trong việc đào tạo cho hệ thống QTDND bị giảm sút đáng kể trong giai đoạn từ 2009 – nay do chức năng quản lý Nhà nước đối với hệ thống QTDND được phân công tản mạn tại các Vụ/Cục đơn lẻ của CQTTGSNH;...
Chương 3 của đề tài tập trung vào việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với hệ thống QTDND. Thông qua tổng hợp bài học kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý và hỗ trợ phát triển QTDND trên các mặt xây dựng, ban hành chính sách; cấp phép; thanh tra, giám sát, tái cơ cấu; và hỗ trợ về tài chính, thuế, đào tạo và những phân tích toàn diện và sâu sắc các vấn đề nội tại trong hoạt động quản lý NN của NHNN đối với hệ thống QTDND, đề tài đã đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị góp phần củng cố, hoàn thiện về công tác QLNN đối với hoạt động của hệ thống QTDND, bao gồm:
(i) Các giải pháp về hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát;
(ii) Các giải pháp về nâng cao chât lượng, hiệu quả công tác QLNN của NHNN;
(iii) Các giải giải pháp hỗ trợ phát triển QTDND.
Trong đó, có những giải pháp căn cứ vào tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế và so sánh đối chiếu với Việt Nam như: hoàn thiện mô hình thanh tra, giám sát hiện tại; hỗ trợ tài chính, hỗ trợ đào tạo theo các nguyên tắc nhất định để vừa hỗ trợ các QTDND phát triển, vừa đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức này;… Bên cạnh đó, Đề tài cũng đưa ra những giải pháp sáng tạo phù hợp với lý thuyết, bản chất hoạt động của hệ thống QTDND nhưng được thiết kế để giải quyết những vấn đề nội tại, đặc thù tại Việt Nam như vấn đề về thành viên, vốn góp, quy chế cho vay, địa bàn.
Đề tài được Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại Giỏi./.