Đại dịch Covid-19 đã tàn phá nặng nề nền kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu từ cuối tháng 1/2020, gây ngừng trệ các hoạt động dịch vụ và sản xuất, gián đoạn chuỗi cung ứng và ảnh hưởng tới cuộc sống của hàng triệu người dân. Mặc dù các hoạt động kinh tế đã dần được phục hồi, những viễn cảnh chưa từng được dự đoán có thể xảy ra đang trở thành những rủi ro tiềm tàng cho khu vực ASEAN+3.
Những rủi ro này bao gồm: các làn sóng dịch quay trở lại gây tổn hại đến kinh tế toàn cầu, đặc biệt là các khu vực vốn đã bị ảnh hưởng và làm gián đoạn quá trình phục hồi. Ngoài tác động nội khối, ảnh hưởng từ hoạt động kinh tế ở Mỹ và EU cũng sẽ có tác động lan tỏa tăng trưởng âm tới khu vực ASEAN+3; Chế độ bảo hộ mậu dịch của các nước một lần nữa hiện rõ; việc đóng cửa giữa các nước đã làm lộ rõ lỗ hổng trong chuỗi cung ứng toàn cầu; Những rủi ro và bất ổn về tài chính do cầu sụt giảm khiến nhiều doanh nghiệp phá sản và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao gây áp lực tới hệ thống ngân hàng trong khu vực; Tỷ lệ nợ công tăng lên khi các chính phủ buộc phải cung cấp hỗ trợ tài chính cho nền kinh tế nhằm vượt qua các đợt ngừng trệ hoạt động có thể gây ra khủng hoảng vỡ nợ quốc gia.
Tác động tới nhu cầu trong và ngoài nước
Tác động của đại dịch tới sản xuất toàn cầu bắt đầu khi Trung Quốc ngừng hoạt động các nhà máy và hạn chế đi lại nhằm kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh. Khi làn sóng lây nhiễm lan rộng khắp khu vực châu Á, chuỗi cung ứng bị gián đoạn và ảnh hướng tới hoạt động thương mại quốc tế, vào tháng 5/2020 tổng khối lượng xuất khẩu của khu vực đã giảm 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Vĩ mô ASEAN +3 (AMRO) đánh giá triển vọng phục hồi xuất khẩu của khu vực vẫn còn mong manh trước làn sóng tái bùng phát dịch trên toàn cầu. Ngành du lịch và lữ hành với giá trị 300 tỷ USD cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Lượng khách du lịch trong tháng 4 và 5 giảm 95% so với cùng kỳ năm ngoái do việc đóng biên và hạn chế đi lại, gây tác động cực kỳ nghiêm trọng đối với các nền kinh tế như Campuchia, Hồng Kông, Thái Lan và Philippines.
Bên cạnh đó, tình trạng khan hiếm việc làm cùng tỷ lệ thất nghiệp gia tăng cũng trở thành mối lo trên toàn khu vực. Trong ngắn hạn, tình trạng mất thu nhập trên diện rộng có thể tác động tới ổn định tài chính do rủi ro tín dụng gia tăng. Trong dài hạn, tỷ lệ thất nghiệp cao kéo dài có thể gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế và xã hội, bao gồm tình trạng đói nghèo, hạn chế về nguồn lực, ảnh hưởng tới nhu cầu trong nước và cân đối tài khóa, làm giảm tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế.
Mặc dù các quốc gia trong khu vực đã nỗ lực trong việc trợ cấp người dân nhằm thúc đẩy chi tiêu, sự gián đoạn trong thị trường lao động và triển vọng phục hồi kinh tế ảm đạm vẫn có ảnh hưởng lớn tới niềm tin của người tiêu dùng. Nhu cầu tiêu dùng sụt giảm kéo theo doanh số bán lẻ trên toàn khu vực giảm đáng kể trong nửa đầu năm 2020. Sự hoài nghi về “trạng thái bình thường mới” đang tiếp tục làm mất niềm tin trong tâm lý người tiêu dùng và ảnh hưởng nhu cầu nội địa trong khu vực.
Các chính sách áp dụng trong thời kỳ dịch bệnh
Các quốc gia ASEAN+3 cùng các NHTW đã đưa ra các biện pháp về tài khóa và tiền tệ để ứng phó với suy giảm kinh tế do ảnh hưởng của đại dịch. Các gói kích thích tài khóa trong khu vực hiện ở mức trung bình 11% GDP, ban đầu tập trung vào các nhu cầu thiết yếu, y tế, kiểm soát dịch bệnh. Sau đó, các gói kích thích tập trung hỗ trợ hộ gia đình và doanh nghiệp, hướng tới phục hồi nền kinh tế.
Về chính sách tài khóa, hầu hết các Chính phủ thực hiện hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt cho hộ gia đình và người dân trong thời gian phong tỏa nền kinh tế. Các doanh nghiệp được hỗ trợ thông qua giảm thuế, tạm thời miễn các chi phí, hỗ trợ trả lương để tăng cường khả năng thanh khoản, giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp.
Về chính sách tiền tệ, các NHTW hỗ trợ nền kinh tế thông qua kiểm soát tốt lạm phát, giảm lãi suất nhiều lần trong nửa đầu năm 2020, giảm dự trữ bắt buộc để bơm thanh khoản vào hệ thống ngân hàng, khuyến khích các ngân hàng thương mại hỗ trợ tín dụng, bảo lãnh chính phủ trong hoạt động cho vay tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, một số NHTW trong khu vực đã thực hiện mua trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ trên thị trường thứ cấp để làm giảm tác động lên thị trường tài chính.
Giám sát khu vực tài chính, ngân hàng, mức đệm vốn của hệ thống ngân hàng trong khu vực đã được cải thiện đáng kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á. Các NHTW trong khu vực đã ban hành hàng loạt các quy định tạm thời nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, nới lỏng một số quy định đối với các ngân hàng thương mại nhằm cải thiện niềm tin của người tiêu dùng. Các ngân hàng cần tiếp tục thực hiện những biện pháp cần thiết để hạn chế sự gia tăng về nợ xấu.
Thời gian tới, các nước cần tiếp tục duy trì khoảng không chính sách cần thiết để đảm bảo ban hành các chính sách tài khóa, tiền tệ phù hợp trong trường hợp dịch bệnh bùng phát trở lại.
Viễn cảnh thận trọng trong năm 2020 – 2021
AMRO dự báo 9/14 thị trường khu vực ASEAN+3 sẽ có mức tăng trưởng âm trong năm nay, trong đó khu vực ASEAN có mức tăng trưởng trung bình là -2.6% trong năm 2020. AMRO kỳ vọng nền kinh tế các nước sẽ hồi phục trong năm 2021 và đạt mức tăng trưởng trung bình 6%.
Trong khi chưa xác định thời điểm kết thúc dịch bênh, việc tái khởi động sản xuất ở một số quốc gia là tín hiệu tốt cho khu vực. Các hoạt động tái khởi động nền kinh tế được thực hiện nhanh chóng ở các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc cùng nhóm BCLMV (Brunei, Cambodia, Lào, Myanmar, Việt Nam) khi thực hiện nhanh chóng các biện pháp ứng phó với dịch bệnh. Trong khi nhóm ASEAN-5 sẽ mất nhiều thời gian hơn để hồi phục khi số ca nhiễm vẫn ở mức cao tại một số nước.
Theo AMRO, 03 nội dung quan trọng cần được tính toán đến khi nền kinh tế bước vào giai đoạn “hậu đại dịch”: (i) Cắt giảm các khoản hỗ trợ tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp phi tài chính để đảm bảo an toàn tài khóa; (ii) Xây dựng các quy định hoãn trả nợ một cách phù hợp, tránh việc sử dụng sai mục đích và đảm bảo an toàn bảng cân đối của các ngân hàng; và (iii) Chấm dứt bơm thanh khoản vào hệ thống ngân hàng, giảm rủi ro bong bóng tài sản.
Tuy nhiên, tóm lại, rủi ro lớn nhất đối với khu vực vẫn là diễn biến của dịch bệnh, có thể ảnh hưởng đến các kế hoạch tái khởi động kinh tế.
HTQT (theo AMRO)