Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội

Trả lời chất vấn Đại biểu Lê Thị Thủy - Hà Nam

10/12/2020 23:07:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

1

 

Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trân trọng cảm ơn của Đại biểu Lê Thị Thủy, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Nam đã quan tâm, ủng hộ và đánh giá tích cực đối với những nỗ lực hoạt động của ngành Ngân hàng trong thời gian vừa qua.

Về ý kiến chất vấn của Đại biểu nêu tại phiếu chất vấn số 88/GS-PCCV, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước báo cáo Đại biểu Quốc hội như sau:

1. Những vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị quyết 42. Nguyên nhân và giải pháp sắp tới để việc xử lý nợ xấu có hiệu quả nhất

a) Vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị quyết 42: Trong thời gian hơn 03 năm kể từ khi Nghị quyết 42 có hiệu lực, toàn ngành Ngân hàng đã triển khai nghiêm túc, nỗ lực đẩy mạnh xử lý nợ xấu theo đúng mục tiêu, định hướng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và đạt được kết quả tích cực. Tuy nhiên, việc triển khai Nghị quyết 42 còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như sau:

- Về bán nợ xấu và TSBĐ theo giá trị thị trường, phát triển thị trường mua bán nợ:

(i) Việc mua bán nợ xấu chủ yếu diễn ra giữa TCTD và 02 đơn vị mua nợ chính là VAMC và Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ Việt Nam (DATC), thiếu những nhà đầu tư khác trong nước và nước ngoài do điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ khá phức tạp, yêu cầu về vốn cao; Nghị định 69/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ chưa quy định rõ đầu mối tạo lập, phát triển thị trường giao dịch mua bán nợ; Đội ngũ môi giới mua, bán nợ chuyên nghiệp còn thiếu.

(ii) Thiếu thị trường thứ cấp và phái sinh đối với các khoản nợ: Sau khi mua các khoản nợ, do chưa có thị trường nợ thứ cấp, chưa có các nghiệp vụ chứng khoán hóa tài sản, chứng khoán hóa khoản nợ, dẫn đến thanh khoản của các khoản nợ rất thấp, làm giảm mức độ hấp dẫn của các khoản nợ đã mua.

(iii) Các tổ chức thẩm định giá chưa có sự thống nhất trong việc vận dụng Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam khi thẩm định giá khoản nợ, gây khó khăn cho các bên trong việc xác định mức giá khởi điểm trong giao dịch mua bán nợ.

- Về quyền thu giữ TSBĐ: Điều 7 Nghị quyết 42 cho phép các TCTD có quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu, phát đi thông điệp bảo vệ quan hệ có vay - có trả, khẳng định quyền của chủ nợ. Mặc dù Bộ Công an đã có văn bản hướng dẫn về việc hỗ trợ đảm bảo an ninh trật tự trong quá trình thu giữ nhưng trên thực tế, việc thu giữ TSBĐ hiện nay vẫn phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay. Sự phối hợp của các cơ quan hữu quan tại địa phương trong một số trường hợp chưa kịp thời… cũng làm ảnh hưởng đến công tác xử lý thu hồi nợ xấu.

Ngoài ra, nhiều Hợp đồng bảo đảm ký trước thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực không có nội dung “bên bảo đảm đồng ý cho TCTD có quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu”. Do đó, khi khách hàng không hợp tác với TCTD trong việc ký văn bản bổ sung nội dung này vào Hợp đồng bảo đảm, TCTD gặp khó khăn khi tiến hành thu giữ TSBĐ theo Nghị quyết 42.

- Về áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBĐ và xử lý TSBĐ: Hội đồng Thẩm phán đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBĐ, tranh chấp về quyền xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu của TCTD. Hiện tại, một số TCTD đã đề nghị áp dụng hình thức rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến TSBĐ và đang được Tòa án các cấp xem xét xử lý; tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có trường hợp nào được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

- Về việc thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ và việc nộp thuế khi chuyển nhượng TSBĐ: Theo quy định tại Nghị quyết 42, số tiền thu được từ xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm của TCTD trước khi thực hiện nghĩa vụ không có bảo đảm của bên bảo đảm (như nghĩa vụ thuế, án phí). Tuy nhiên, hiện các TCTD vẫn tiếp tục phản ánh về việc phải nộp các khoản thuế trước khi thực hiện nghĩa vụ ưu tiên thanh toán nên đã làm giảm số tiền thu hồi nợ của TCTD, nhiều trường hợp số tiền bán TSBĐ không đủ thu hồi nợ cho TCTD nhưng vẫn phải nộp thuế, gây khó khăn cho cả bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của chủ nợ.

Ngoài ra, TCTD cũng phản ánh việc nội dung hướng dẫn của Tổng cục Thi hành án dân sự về việc thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán án phí trong các vụ việc thi hành án tín dụng (theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự) chưa có sự thống nhất với quy định tại Điều 12 Nghị quyết 42 về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ gây khó khăn cho TCTD.

- Về việc phối hợp tổ chức thực hiện Nghị quyết 42 của các Bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố có liên quan còn nhiều hạn chế như: (i) Tại một số địa phương còn chưa quyết liệt, thiếu đồng bộ, xem đây là lĩnh vực riêng của ngành Ngân hàng nên còn vướng mắc trong phối hợp xử lý. Công tác thu giữ TSBĐ còn nhiều khó khăn, bất cập do các cấp cơ sở chưa được tập huấn về Nghị quyết 42; (ii) Mặc dù đã có Quy chế phối hợp số 01/QCLN/NHNNVN-BTP ngày 18/3/2015 giữa NHNN và Bộ Tư pháp về hoạt động thi hành án dân sự và Bộ Tư pháp cũng thường xuyên chỉ đạo, triển khai kịp thời công tác phối hợp trong hoạt động thi hành án dân sự, tuy nhiên tại một số địa phương, việc thi hành án liên quan đến hoạt động ngân hàng còn chưa thật sự hiệu quả, việc kê biên, bán đấu giá, cưỡng chế bàn giao tài sản cho người mua đấu giá thành công còn chậm, nhiều vụ việc kéo dài. Nhiều vụ việc thi hành án còn tồn đọng thời gian dài, phát sinh nhiều chi phí cho đơn vị xử lý nợ.

- Bên cạnh đó, quá trình triển khai Nghị quyết 42 cũng gặp phải khó khăn, vướng mắc về: (i) cơ chế tiếp cận thông tin về tình trạng TSBĐ; (ii) đăng ký thay đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là TCBĐ của khoản nợ xấu; (iii) điều kiện chuyển nhượng TSBĐ là dự án bất động sản; (iv) hoàn trả TSBĐ là vật chứng trong vụ án hình sự; (v) giới hạn phạm vi lựa chọn tổ chức thẩm định giá...

b) Nguyên nhân:

- Những tác động bất lợi từ các cuộc chiến tranh thương mại và đặc biệt là dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, nhất là đối với công tác cơ cấu lại và xử lý nợ xấu; đặc biệt, khả năng trả nợ của các doanh nghiệp giảm sút, tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu gia tăng, gây áp lực trong việc trích lập dự phòng để xử lý nợ xấu của các TCTD cũng như tiến độ xử lý TSBĐ của các khoản nợ xấu.

- Một số cấp chính quyền và các cơ quan hữu quan trên địa bàn còn thiếu sâu sát, coi đây là lĩnh vực riêng của ngành Ngân hàng nên còn vướng trong phối hợp xử lý. Các cấp cơ sở chưa được tập huấn về công tác phối hợp với TCTD thu giữ TSBĐ theo quy định tại Nghị quyết số 42.

- Một số cơ quan chức năng chưa mạnh dạn, quyết liệt trong việc áp dụng các chính sách xử lý nợ xấu, xử lý TSBĐ quy định tại Nghị quyết 42; chưa thực sự hiểu rõ ý nghĩa, tác dụng, quyền và nghĩa vụ liên quan của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện Nghị quyết 42.

c) Giải pháp của NHNN để xử lý nợ xấu hiệu quả trong thời gian tới:

- Tiếp tục phân tích tác động, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố dịch bệnh, thiên tai đến nền kinh tế để đánh giá, dự báo diễn biến nợ xấu của hệ thống TCTD trong thời gian tới.

- Tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” (Đề án 1058) và Nghị quyết 42.

- Chỉ đạo các TCTD tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; thường xuyên rà soát chất lượng tín dụng, tăng cường xử lý nợ xấu, trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ theo quy định.

2. Về sự khác nhau của việc tăng vốn điều lệ đối với các ngân hàng thương mại (NHTM). Sự khác nhau trong việc tăng vốn của các NHTM Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ với các NHTM mà Nhà nước chiếm dưới 50% vốn điều lệ và NHTMCP. Tiêu chí và tỷ lệ tăng vốn điều lệ của các NHTMCP

a) Về sự khác nhau trong việc tăng vốn của các NHTM:

- Hệ thống các NHTM Việt Nam gồm NHTMCP (trong đó có các NHTMCP do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ); NHTM trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (NHTM do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, NH 100% vốn nước ngoài); NHTM trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên (ngân hàng liên doanh).

- Việc tăng vốn của các NHTM nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ với các NHTMCP khác nhau ở 2 điểm cơ bản, cụ thể:

+ Về việc áp dụng các quy định của pháp luật: Việc tăng vốn điều lệ của NHTM cổ phần nói chung thực hiện theo quy định của Luật các TCTD và các văn bản hướng dẫn Luật các TCTD. Đối với các NHTM có vốn nhà nước, việc tăng vốn điều lệ còn phải thực hiện theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội) và các văn bản hướng dẫn.

+ Về thẩm quyền quyết định tăng vốn điều lệ: Đối với NHTM cổ phần nói chung, việc tăng vốn điều lệ do Đại hội đồng cổ đông quyết định; đối với NHTM trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên, thẩm quyền thuộc chủ sở hữu; đối với NHTM trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên, thẩm quyền thuộc Hội đồng thành viên. Trước khi thực hiện tăng vốn điều lệ theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông/chủ sở hữu/hội đồng thành viên, NHTM lập hồ sơ, gửi NHNN xem xét, chấp thuận theo quy định của Luật các TCTD và các văn bản hướng dẫn Luật các TCTD.

Riêng đối với NHTM cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, trước khi biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, người đại diện phần vốn nhà nước tại các ngân hàng này phải xin ý kiến NHNN – cơ quan đại diện chủ sở hữu về việc tăng vốn điều lệ của ngân hàng.

Đối với việc tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn nhà nước đầu tư bổ sung của các NHTM có vốn nhà nước (gồm NHTM do Nhà nước nắm giữ 100% vốn nhà nước và NHTM cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ), theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội và các văn bản hướng dẫn, thẩm quyền quyết định đầu tư bổ sung vốn nhà nước tại ngân hàng thuộc về Thủ tướng Chính phủ. Trường hợp quy mô bổ sung vốn nhà nước tại ngân hàng tương đương mức vốn thuộc dự án quan trọng của quốc gia (trên 10.000 tỷ đồng), Thủ tướng xem xét quyết định đầu tư bổ sung sau khi Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư

b) Về tỷ lệ được chấp thuận tăng vốn điều lệ NHTMCP:

Pháp luật hiện hành không quy định về mức tăng vốn hay tỷ lệ tăng vốn điều lệ của các NHTMCP. Tùy vào thực trạng, quy mô hoạt động, nhu cầu và sự cần thiết tăng vốn điều lệ của từng NHTMCP mà các NHTMCP xây dựng kế hoạch tăng vốn điều lệ nhằm cải thiện, nâng cao năng lực tài chính, bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của NHNN và tạo tiền đề cho tăng trưởng tín dụng.

NHNN sẽ xem xét, chấp thuận việc tăng vốn điều lệ của các NHTMCP trên cơ sở hồ sơ đề nghị của NHTMCP và các quy định tại Luật các TCTD năm 2010 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) và quy định cụ thể tại Điều 11, Điều 12 Thông tư số 50 về hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận tăng mức vốn điều lệ của NHTM.

3. Khó khăn của các NHTMCP trong quá trình cơ cấu lại. Ảnh hưởng của việc NHNN không chấp thuận hoặc chấp thuận chậm việc tăng vốn điều lệ đối với NHTMCP

a) Khó khăn của các NHTMCP trong quá trình cơ cấu lại: Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, các TCTD nói chung và các NHTMCP nói riêng đều gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện các giải pháp cơ cấu lại và xử lý nợ xấu nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra tại phương án đã được phê duyệt. Một số khó khăn, vướng mắc chính đối với các NHTMCP bao gồm:

(i) Khó khăn trong việc kiểm soát nợ xấu phát sinh mới, duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn, nguyên nhân do:

- Khả năng trả nợ của khách hàng vay suy giảm, tiềm ẩn gia tăng nợ xấu tại các TCTD dưới tác động của dịch bệnh Covid-19. Trong trường hợp dịch Covid-19 trên thế giới và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường gây tác động tiêu cực đến thu nhập của các cá nhân, hộ gia đình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, nợ xấu tại các NHTMCP (là khối TCTD có dư nợ tín dụng chiếm 40% của toàn hệ thống) có khả năng tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới.

- Giá trị TSBĐ của nhiều khoản nợ xấu thường lớn nên TCTD gặp rất nhiều khó khăn trong việc thẩm định và đấu giá khi thực hiện xử lý nợ xấu, TSBĐ của các khoản nợ xấu.

- Trong quá trình triển khai quy định liên quan đến xử lý nợ xấu có một số khó khăn vướng mắc về khuôn khổ pháp lý như: Hành lang pháp lý cho hoạt động xử lý nợ xấu đã hình thành nhưng được quy định rải rác tại nhiều văn bản và chưa có Luật xử lý nợ xấu. Việc thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ theo quy định tại Nghị quyết 42; việc nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản và xử lý TSBĐ còn chưa được áp dụng hoặc phát huy hiệu quả trong trong thực tiễn.

(ii) Khó khăn trong việc thoái các khoản đầu tư, góp vốn, mua cổ phần không hiệu quả. Trong bối cảnh chịu nhiều tác động bởi dịch Covid-19, nhìn chung thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng mạnh. Các hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A) và các giao dịch mua bán cổ phần chưa niêm yết bị chậm lại. Dự báo thị trường sẽ còn tiếp tục khó khăn trong năm 2021, ảnh hưởng đến việc thoái các khoản góp vốn, mua cổ phần trong danh mục kém hiệu quả.

(iii) Một số NHTMCP gặp khó khăn trong việc đăng ký giao dịch, niêm yết cổ phiếu trên thị trường chính thức1, nguyên nhân do:

- Các NHTMCP đang trong quá trình tập trung nguồn lực để triển khai thực hiện Phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Trước tình hình dịch Covid -19, các ngân hàng lo ngại việc niêm yết sẽ không có nhiều thuận lợi, giá cổ phiếu có thể bị ảnh hưởng tiêu cực (định giá cổ phiếu không thể đạt được điểm tối ưu). Do đó, kế hoạch đăng ký giao dịch cổ phiếu, niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.

- Một số NHTMCP chưa đáp ứng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm liền năm đăng ký niêm yết (tối thiểu là 5% theo quy định tại Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán).

- Do một số yếu tố khách quan khác như tranh chấp dân sự về cổ phần, cổ phiếu giữa các cổ đông cũng như hoạt động tư pháp, hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền… dẫn đến chậm trễ trong việc thực hiện các thủ tục lưu ký chứng khoán tập trung của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam.

b) Ảnh hưởng của việc NHNN không chấp thuận hoặc chấp thuận chậm việc tăng vốn điều lệ đối với các NHTMCP:

- Về cơ bản, NHNN luôn ủng hộ chủ trương tăng vốn điều lệ của các TCTD nói chung và các NHTMCP nói riêng nhằm nâng cao năng lực tài chính, tăng cường năng lực cạnh tranh và duy trì các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các TCTD theo quy định pháp luật.

Trong quá trình chỉ đạo việc xây dựng và thẩm định, phê duyệt phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của TCTD, NHNN luôn yêu cầu các NHTMCP bổ sung nội dung về tăng vốn điều lệ vào phương án; xây dựng, triển khai lộ trình thực hiện tăng vốn tự có và cải thiện chất lượng nguồn vốn tự có2 để bảo đảm mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật, đáp ứng đầy đủ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật và chuẩn mực quốc tế. Trong giai đoạn 2016 - tháng 10/2020, vốn điều lệ của các NHTMCP đã tăng 48%.

- Cùng với việc ủng hộ chủ trương tăng vốn điều lệ của các NHTMCP, NHNN giám sát chặt chẽ quá trình các NHTMCP thực hiện việc tăng vốn để bảo đảm theo đúng quy định pháp luật, đúng lộ trình đã đăng ký/được phê duyệt. Trường hợp NHTMCP gặp khó khăn trong việc tăng vốn điều lệ, ngân hàng phải có giải pháp cải thiện chất lượng nguồn vốn tự có hoặc điều chỉnh tài sản có rủi ro của ngân hàng để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu theo quy định của NHNN.

c) Giải pháp của NHNN trong thời gian tới:

- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng phù hợp với nguyên tắc thị trường, bảo đảm giữ an toàn, lành mạnh và ổn định của hệ thống và phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó có việc ban hành các quy định, hướng dẫn các TCTD thực hiện trong từng giai đoạn để đáp ứng mức vốn tự có theo chuẩn mực của Basel II.

- Tiếp tục giám sát chặt chẽ việc thực hiện phương án cơ cấu lại giai đoạn 2016-2020 của các NHTMCP đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong đó có nội dung về lộ trình tăng vốn điều lệ, nâng cao năng lực tài chính.

- Khuyến khích các NHTMCP niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nhằm tăng khả năng huy động vốn từ các nhà đầu tư bên ngoài; đồng thời tạo động lực để các ngân hàng nâng cao chất lượng hoạt động, nâng cao vị thế trên thị trường tiền tệ, ngân hàng.

- Nghiên cứu xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2021-2025, trong đó định hướng yêu cầu các TCTD tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính và chất lượng tín dụng và khả năng cạnh tranh.

4. Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các NHTMCP trong nước trong quá trình cơ cấu lại hiện nay có vướng mắc gì không? Thời gian để được NHNN chấp thuận? Thực tế thời gian qua đã thực hiện như thế nào?

a) Về vướng mắc của các nhà đầu tư nước ngoài vào các NHTMCP trong nước: Hiện nay, việc góp vốn, đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại NHTMCP trong nước được thực hiện theo quy định tại Luật các TCTD năm 2010 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị định số 01/2014/NĐ-CP ngày 03/01/2014 của Chính phủ về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của TCTD Việt Nam; Thông tư số 38/2014/TT-NHNN ngày 08/12/2014 của NHNN quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của TCTD Việt Nam và các quy định pháp luật có liên quan. Các quy định này đã quy định tương đối cụ thể, rõ ràng về hồ sơ, trình tự, thủ tục, điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài đầu tư, mua cổ phần của TCTD Việt Nam, trong đó có các NHTMCP.

Đến nay, NHNN chưa nhận được phản ánh của các nhà đầu tư nước nước ngoài về các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện góp vốn, đầu tư tại NHTMCP trong nước.

b) Về thời gian để được NHNN chấp thuận việc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các NHTMCP trong nước:

- Theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Thông tư số 38/2014/TT-NHNN: “Trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước xem xét chấp thuận hoặc không chấp thuận bằng văn bản việc mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài. Trường hợp không chấp thuận, văn bản của Ngân hàng Nhà nước phải nêu rõ lý do”.

- Trường hợp cần trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần, tại khoản 3 Điều 13 Thông tư số 38/2014/TT-NHNN quy định: Trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước xem xét, thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư nước ngoài, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một TCTD yếu kém được cơ cấu lại vượt quá giới hạn quy định tại khoản 2, 3, 5 Điều 7 Nghị định số 01/2014/NĐ-CP.

c) Thực tế thời gian qua, NHNN đã xem xét, chấp thuận việc nhà đầu tư nước ngoài góp vốn tại NHTMCP trên cơ sở NHTMCP và nhà đầu tư nước ngoài đáp ứng các yêu cầu về hồ sơ, điều kiện quy định tại Nghị định số 01/2014/NĐ-CP và Thông tư số 38/2014/TT-NHNN. Tại các văn bản này, đã quy định cụ thể tỷ lệ sở hữu đối với nhà đầu tư nước ngoài, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và hồ sơ đầu tư nước ngoài mua cổ phần của NHTMCP3. Từ năm 2016 đến nay, NHNN đã chấp thuận cho các nhà đầu tư nước ngoài là nhà đầu tư chiến lược góp vốn vào các NHTMCP như: ngân hàng Hana của Hàn Quốc đầu tư vào NHTMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam, ngân hàng Aozora của Nhật Bản đầu tư vào ngân hàng OCB,...

Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Lê Thị Thủy. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ hơn nữa của Đại biểu đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.

Trân trọng cảm ơn Đại biểu./.

 

 

 

 

1 Đề án 1058 đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành việc niêm yết cổ phiếu của các NHTMCP trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn một số NHTMCP chưa đăng ký giao dịch, niêm yết cổ phiếu trên thị trường chính thức.

2 Tăng vốn tự có từ các nguồn: (i) Phát hành cổ phiếu bổ sung, tăng vốn góp từ các cổ đông chiến lược trong và ngoài nước phù hợp với quy định pháp luật hiện hành; (ii) Tăng vốn từ nguồn cổ tức hàng năm hoặc từ nguồn thặng dư phát hành, lợi nhuận để lại; (iii) Phát hành trái phiếu chuyển đổi, công cụ nợ dài hạn để tạo dựng nguồn vốn ổn định; (iv) Một số tổ chức tín dụng có uy tín lớn có thể lựa chọn giải pháp niêm yết cổ phiếu trên thị trường quốc tế.

3 Điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần dẫn đến mức sở hữu cổ phần từ 5% vốn điều lệ trở lên hoặc mua thêm cổ phần khi nhà đầu tư nước ngoài đã sở hữu từ 5% vốn điều lệ trở lên của TCTD; điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần dẫn đến mức sở hữu từ 10% vốn điều lệ của NHTMCP trở lên; điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần và trở thành nhà đầu tư chiến lược nước ngoài… Đồng thời, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại 01 TCTD không được vượt quá 30% vốn điều lệ của TCTD đó; do vậy, nếu 01 NHTMCP đã gần đạt tỷ lệ này thì ngân hàng đó phải cân nhắc trong việc tiếp tục kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn để bảo đảm thực hiện đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, theo khoản 6 Điều 7 Nghị định số 01/2014/NĐ-CP, trong trường hợp đặc biệt để thực hiện cơ cấu lại TCTD yếu kém, gặp khó khăn, bảo đảm an toàn hệ thống TCTD, Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng cổ phần yếu kém được cơ cấu lại vượt quá giới hạn quy định đối với từng trường hợp cụ thể.

      

 


  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
CÁC TIN KHÁC
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Lã Thanh Tân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hoàng Bảo Trân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Quản Minh Cường gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Quân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Quang Huân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Hiếu gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
15/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Quản Minh Cường gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
13/01/2026
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Bùi Xuân Thống gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
10/01/2026
Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Hưng Yên gửi tới sau Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
20/01/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 170
  • 1
  • 2
  • 3
  • 17
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready