a) Tên Đề tài: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dịch vụ tài chính tại Việt Nam - Mã số: ĐTNH.004/19
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Thanh Hằng, Viện Chiến lược ngân hàng, NHNN.
- Thư ký: ThS. Thái Lan Anh, Chuyên viên, Vụ Pháp chế, NHNN
- Thành viên tham gia:
ThS. Tạ Quang Đôn, Vụ trưởng, Vụ Pháp chế, NHNN
ThS. Nguyễn Thị Hương Thanh, Chuyên viên, Viện Chiến lược ngân hàng, NHNN
ThS. Nguyễn Thị Thanh Trang, Chuyên viên, Vụ Hợp tác Quốc tế, NHNN
ThS. Phạm Thuỳ Dương, Chuyên viên, Vụ Hợp tác Quốc tế, NHNN
TS. Đàm Minh Đức, Giám đốc, Ngân hàng Xây dựng
CN. Nguyễn Thị Bình Minh, Chuyên viên, NHNN Chi nhánh Hà Nội
ThS. Lê Phương Lan, Tư vấn cấp cao, Ngân hàng UOB
CN. Trương Thu Trang, Chuyên viên, Cục Quản trị, NHNN
d) Các chủ đề nghiên cứu chính:
- Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính và kinh nghiệm quốc tế.
- Thực trạng khuôn khổ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính tại Việt Nam.
- Giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 12/2019.
- Thời gian kết thúc: Tháng 04/2021
e) Kinh phí thực hiện: 240 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện: Giỏi
h) Mô tả tóm tắt:
Nhằm mục tiêu đề xuất giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý thúc đẩy việc bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính (tập trung vào nội dung liên quan đến người tiêu dùng dịch vụ ngân hàng), phục vụ cho mục tiêu của chiến lược tài chính toàn diện tại Việt Nam, đề tài ĐTNH. 004/19 đã triển khai nghiên cứu các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1 nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính (NTDTC)và kinh nghiệm quốc tế, gồm: định nghĩa về NTDTC, về bảo vệ NTDTC, sự cần thiết xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về bảo vệ NTDTC; Các thông lệ quốc tế về bảo vệ NTDTC; Khuôn khổ pháp lý và cơ chế thực thi bảo vệ NTDTC; Kinh nghiệm của một số quốc gia trong bảo vệ NTDTC và bài học rút ra cho Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu tại chương 1 cho thấy sự cần thiết của việc xây dựng khuôn khổ pháp lý bảo vệ NTDTC do nó giúp NTDTC giảm thiểu rủi ro trong giao dịch tài chính; mở rộng tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính; giúp NTDTC có đầy đủ thông tin để đưa ra quyết định một cách tốt nhất. Bên cạnh đó, bảo vệ NTDTC thúc đẩy các tổ chức tài chính hoạt động có trách nhiệm, sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng, phong phú, tin cậy với chi phí thấp. Đây là một trong những phương thức giúp củng cố niềm tin của người tiêu dùng vào khu vực tài chính chính thức, đóng góp vào sự phát triển lành mạnh, bền vững của thị trường tài chính. Tùy vào đặc thù kinh tế, chính trị, xã hội, mỗi quốc gia có cách tiếp cận riêng trong việc xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhưng các quy định về bảo vệ người tiêu dùng tài chính vẫn bao gồm những nội dung chính sau: (i) yêu cầu công bố thông tin; (ii) quy định về xác thực khách hàng và bảo mật thông tin khách hàng; (iii) quy định về đối xử công bằng; (iv) quy định về khiếu nại, xử lý khiếu nại và giải pháp khắc phục bồi thường cần thiết.
Về tổ chức triển khai nếu thành lập một cơ quan chuyên trách về bảo vệ người tiêu dùng tài chính thì cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm thực thi mọi luật định, quy định liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng tài chính. Trường hợp có nhiều cơ quan cùng tham gia, cần xác định rõ trách nhiệm của từng bên và xây dựng cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin hiệu quả. Đề tài cũng rút ra bài học về cơ chế xử phạt, về nâng cao giáo dục tài chính cho người dân, về xây dựng Bộ quy tắc hoạt động và cam kết tự nguyện về bảo vệ người tiêu dùng tài chính hay Xây dựng Quỹ bảo vệ người gửi tiền và nhà đầu tư.
Chương 2 của đề tài nghiên cứu về thực trạng khuôn khổ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính tại Việt Nam. Theo đó, so với nhiều quốc gia trên thế giới chưa có khuôn khổ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng tài chính hoặc chỉ mới ban hành luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung, Việt Nam vừa có Luật bảo vệ người tiêu dùng, vừa có những quy định cụ thể, chi tiết về bảo vệ người tiêu dùng tài chính trong các luật chuyên ngành tài chính. Tuy nhiên, trong lĩnh vực ngân hàng, khuôn khổ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ ngân hàng còn một số hạn chế sau:
- Chưa có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong giải quyết tranh chấp, khiếu nại, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng dịch vụ tài chính ngân hàng khi xung đột xảy ra.
- Chưa có một đơn vị đầu mối theo dõi, giám sát, xử lý việc thực thi bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính ngân hàng.
- Một số quy định chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ cũng như quá trình số hóa nên ảnh hưởng nhất định đến quyền lợi của người tiêu dùng tài chính (khi sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính ngân hàng số).
Chương 3 của đề tài nghiên cứu về bối cảnh, chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề bảo vệ người tiêu dùng tài chính gắn với mục tiêu tài chính toàn diện và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính. Cụ thể, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán chủ trương phát triển bền vững kinh tế xã hội, gắn liền với nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi cá nhân và doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực phát triển, đặc biệt chú trọng hỗ trợ cho người dân ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, người nghèo, người có thu nhập thấp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ. Do vậy, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành theo Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/1/2020. Ngành ngân hàng, trước khi Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia được ban hành, đã có một số chính sách hỗ trợ và thúc đẩy tiếp cận dịch vụ ngân hàng, tạo điều kiện cho các cá nhân và doanh nghiệp trong nền kinh tế tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn với các dịch vụ ngân hàng, phục vụ các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nâng cao mức sống của người dân. Do vậy, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính, cụ thể:
- Về xây dựng khuôn khổ pháp lý đầy đủ về bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính, nhóm nghiên cứu đề nghị về dài hạn, cần xây dựng nên Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tài chính, trong đó quy định những nội dung tối thiểu cần có để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tài chính. Về ngắn hạn, cần lồng ghép các nội dung quy định về bảo vệ người tiêu dùng trong từng luật, văn bản dưới luật chuyên ngành tài chính. Cụ thể, Bộ Tài chính và NHNN cần chủ động đề xuất sửa đổi, bổ sung các luật hiện hành (Luật các Tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán, Luật Kinh doanh Bảo hiểm) nhằm lồng ghép các nội dung bảo vệ người tiêu dùng tài chính.
- Về giải pháp thể chế thực thi bảo vệ người tiêu dùng tài chính, nhóm nghiên cứu đề xuất trong dài hạn cần thiết lập một cơ quan chuyên trách bảo vệ người tiêu dùng tài chính duy nhất tại Việt Nam. Trong ngắn hạn, để tận dụng nguồn lực sẵn có, có thể xây dựng cơ quan kiêm nhiệm bảo vệ người tiêu dùng tài chính tại từng bộ, ngành liên quan.
- Về giải pháp đối với tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính, cần xây dựng các cơ chế xử lý khiếu nại và công khai với khách hàng cũng như các quy định nội bộ về việc công khai minh bạch thông tin với khách hàng.
Đối với người tiêu dùng dịch vụ tài chính, nhóm nghiên cứu đề xuất NHNN và Bộ Tài chính nên ban hành những giải pháp khuyến khích các tổ chức tài chính có trách nhiệm giáo dục tài chính cho khách hàng qua các kênh cơ bản như trang điện tử chính thức hay ứng dụng trên điện thoại (app) của tổ chức tài chính. Định kỳ hàng năm, các tổ chức tài chính có thể báo cáo về các chương trình triển khai giáo dục tài chính, cũng như kết quả thu được từ các chương trình đó như một giải pháp thực hiện trách nhiệm xã hội. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng đề xuất
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với NHNN và Bộ Tài chính để tăng cường giáo dục tài chính cho học sinh/sinh viên; xây dựng các chương trình giáo dục tài chính về tiền tệ, về cho vay, về quản lý ngân sách thu - chi, về quản lý nợ; kiến thức về bảo hiểm nói chung, bảo hiểm nhân thọ, về chứng khoán và kế hoạch hưu trí và các quỹ hưu trí tự nguyện hiện có...