a) Tên Đề tài: Ứng dụng công nghệ Blockchain trong thanh toán điện tử liên ngân hàng - Mã số: ĐTNH.017/19
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: ThS. Lê Mạnh Hùng, Cục trưởng, Cục Công nghệ thông tin, NHNN.
- Thư ký: CN.Vũ Công Hùng - Phó Trưởng phòng Cục Công nghệ thông tin, NHNN.
- Thành viên tham gia:
d) Các chủ đề nghiên cứu chính:
- Phân tích, đánh giá hiện trạng công nghệ của hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng và các hạn chế cần khắc phục để phát triển.
- Tìm hiểu, phân tích công nghệ Blockchain so với các công nghệ khác ứng dụng trong thanh toán điện tử liên ngân hàng.
- Nghiên cứu, đề xuất mô hình các cải tiến quy trình nghiệp vụ để ứng dụng công nghệ Blockchain trong thanh toán điện tử liên ngân hàng tại Việt Nam.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 12/2019.
- Thời gian kết thúc: Tháng 07/2021
e) Kinh phí thực hiện: 250 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện: Giỏi
h) Mô tả tóm tắt:
Nhằm mục tiêu nghiên cứu để đề xuất mô hình, phạm vi và đề xuất cải tiến quy trình nghiệp vụ để ứng dụng công nghệ Blockchain trong thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH), đề tài ĐTNH.017/19 đã triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể sau:
Chương 1 nghiên cứu hiện trạng hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng Việt Nam. Kết quả phân tích chương 1 cho thấy trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ lớn trong quá trình hiện đại hóa hệ thống thanh toán cũng như hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực thanh toán, qua đó vai trò của NHNN trong quản lý, vận hành và giám sát hệ thống thanh toán quốc gia ngày càng được nâng cao. Nghiên cứu cũng chỉ rõ các mặt tồn tại, hạn chế đối với các giao dịch liên ngân hàng cũng như các giao dịch thanh toán bán lẻ.
Chương 2 nghiên cứu tổng quan về công nghệ Blockchain và các ứng dụng công nghệ Blockchain cho TTĐTLNH trên thế giới, qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong các nội dung như bảo đảm giá trị của tiền điện tử; sử dụng cơ chế bù trừ trong TTĐTLNH; tích hợp hệ thống mới với các hệ thống hiện có; đánh đổi lợi ích (như tính sẵn sàng, khả năng phục hồi, chi phí vận hành thấp..) để có được quyền riêng tư, khả năng bảo vệ người dùng; hợp tác trong ứng dụng công nghệ Blockchain và thử nghiệm từng bước để tìm ra hướng đi phù hợp.
Tại Chương 3, nhóm nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá để đề xuất các nền tảng Blockchain cho hệ thống TTĐTLNH tại Việt Nam. Theo nhóm nghiên cứu, với đặc thù của bài toán TTĐTLNH là các giao dịch cần được bảo đảm quyền riêng tư và đồng thời phải được sự quản lý giám sát của ngân hàng trung ương, nền tảng được lựa chọn cần đảm bảo các đặc tính:
- Quyền riêng tư: đảm bảo quyền riêng tư cho các giao dịch để chỉ những bên liên quan được phép truy cập giao dịch, đồng thời, cũng phải cho phép NHTW truy cập mọi giao dịch để thực hiện chức năng quản lý giám sát.
- Phân quyền: khả năng phân quyền là một đặc tính cần thiết để có thể áp dụng nền tảng Blockchain vào nghiệp vụ TTLNH, trong đó
+ Tham gia hệ thống: Chỉ những thành viên đủ điều kiện đã qua quy trình định danh (KYC) và đã kiểm tra đáp ứng đủ điều kiện về pháp lý và hạ tầng mới được quyền kết nối và tham gia hệ thống.
+ Vai trò trung tâm: NHTW cần thực hiện giám sát mọi giao dịch.
- Hiệu suất: Nền tảng Blockchain được lựa chọn sử dụng trong TTLNH phải có thuật toán đồng thuận đáng tin cậy và hiệu suất cao, không tiêu tốn tài nguyên hệ thống, trong khi vẫn phải đảm bảo tính duy nhất tính xác thực và khả năng không thể sửa đổi, giả mạo.
Từ đó, nhóm nghiên cứu kết luận các nền tảng Blockchain công cộng không phù hợp để ứng dụng trong TTLNH. Trong khi đó, các nền tảng Blockchain doanh nghiệp có khả năng đảm bảo quyền riêng tư, có khả năng phân quyền và có cơ chế tăng hiệu năng so với các mạng Blockchain công cộng sẽ phù hợp với việc làm nền tảng để xây dựng hệ thống TTLNH.
Tại chương 4, nhóm nghiên cứu đã xây dựng 02 mô hình thiết kế ở mức cao cho thanh toán liên ngân hàng (bank-to-bank) và thanh toán bán lẻ (customer-to-customer). Mặc dù mục tiêu trọng tâm của đề tài là đề xuất một thiết kế mức cao cho hệ thống TTNHN nhưng trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu nhận thấy có khả năng ứng dụng công nghệ Blockchain để giải quyết một số vấn đề liên quan đến khả năng liên thông giữa các hệ thống thanh toán ví không trực tiếp qua tài khoản ngân hàng, nhằm kết nối các khách hàng, các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán qua ví vào một mạng lưới chung để một tài khoản ví có thể thanh toán cho nhiều nhu cầu. Đây vừa là một cơ hội đem lại sự thuận tiện cho người dùng, qua đó đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, vừa tạo điều kiện cho công tác giám sát, quản lý của NHTW. Tại đây, nhóm nghiên cứu cũng đề xuất giải pháp ngăn chặn và xử lý rủi ro đối với các hệ thống thanh toán trên nền tảng Blockchain.
Chương 5 của đề tài tập trung vào việc đánh giá hành lang pháp lý của ứng dụng công nghệ Blockchain trong thanh toán và đề xuất lộ trình ứng dụng ứng dụng công nghệ Blockchain trong TTLNH tại Việt Nam. Từ 2 thiết kế tại Chương 4, nhóm nghiên cứu cho rằng, về mặt kỹ thuật 2 thiết kế có nhiều điểm tương đồng. Hệ thống TTLNH bank-to-bank có thể mở rộng thành bán lẻ customer-to-customer và ngược lại khi thay đổi phạm vi thành viên và đối tượng được cấp tài khoản trên sổ cái DLT (hệ thống tiền kỹ thuật số cho phép giao dịch hoàn toàn ngang cấp không cần bên thứ 3). Về ứng dụng, Hệ thống Thanh toán liên ví sẽ có khả năng được đón nhận hơn, do giải quyết một nhu cầu thực tế chưa được đáp ứng. Hệ thống TTĐTLNH bank-to-bank sẽ không đem lại lợi ích đáng kể trong ngắn hạn do chỉ đề xuất một phương tiện khác cho một hệ thống đang hoạt động. Từ đó, Nhóm nghiên cứu đề xuất lộ trình ứng dụng công nghệ Blockchain trong thanh toán tại Việt Nam theo 2 giai đoạn, gồm:
- Giai đoạn 1: Triển khai ứng dụng công nghệ Blockchain để xây dựng hệ thống Thanh toán liên ví. Thực hiện thí điểm triển khai hệ thống Thanh toán liên ví với 2 đến 3 thành viên trong thời gian từ 6 tháng đến 1 năm; tiếp đó triển khai mở rộng kết nối các tổ chức cung cấp dịch vụ ví còn lại vào hệ thống Thanh toán liên ví trong 1 năm. Sau đó thí điểm mở một số tài khoản của tổ chức là ngân hàng trên sổ cái DLT để thanh toán bán lẻ với nhau và thanh toán với các nhân, tổ chức khác.
- Giai đoạn 2: Tiếp tục theo dõi, đánh giá việc triển khai hệ thống Thanh toán liên ví để đề xuất hướng mở rộng hoặc triển khai phù hợp.
Đồng thời, Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số đề xuất với NHNN trong việc ứng dụng công nghệ Blockchain như sau:
- Việc ứng dụng công nghệ Blockchain trong các giao dịch TTLNH, thanh toán qua nhiều hệ thống là khả thi về mặt kỹ thuật. Tuy nhiên, khi ứng dụng trong lĩnh vực TTLNH, nhiều lợi ích nổi bật của công nghệ Blockchain sẽ không còn nguyên vẹn mà phải đánh đổi phần nào để đổi lấy tính riêng tư và khả năng bảo vệ người dùng. Trong điều kiện hiện tại của Việt Nam, việc xây dựng mới các hệ thống thanh toán như thiết kế tại Chương IV chưa phải là phương án tối ưu về mặt kinh tế. Vì vậy, nhóm nghiên cứu đề xuất chưa triển khai ứng dụng công nghệ Blockchain trong TTLNH tại Việt Nam.
- Do yêu cầu của người dùng đối với hoạt động thanh toán ngày càng cao và đa dạng, để phát huy hiệu quả năng lực của tất cả các thành phần trong hệ thống thanh toán quốc gia trong việc từng bước tiếp cận tương lai tiền tệ kỹ thuật số, NHNN cần xem xét đến việc thúc đẩy, hỗ trợ hình thành trục thanh toán kết nối liên thông tất cả các đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán trên cả nước. Bước đầu tiên hướng tới tương lai này, nhóm nghiên cứu kiến nghị NHNN xem xét giao một đơn vị chuyên môn tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm “sandbox” để ứng dụng cho các dịch vụ thanh toán bán lẻ.