Giống như các ngân hàng trung ương trên thế giới, công việc chính của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) là kiểm soát lạm phát trong khi tránh các nguy cơ suy thoái cho nền kinh tế. Để kiểm soát lạm phát, FED phải sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt để làm chậm tăng trưởng kinh tế. FED có thể làm chậm tốc độ tăng trưởng này bằng cách thắt chặt nguồn cung tiền hay là tổng lượng tín dụng được phép vào thị trường. Các hành động của FED làm giảm tính thanh khoản trong hệ thống tài chính, khiến việc vay vốn trở nên đắt đỏ hơn, từ đó làm chậm tăng trưởng kinh tế và giảm bớt nhu cầu, gây áp lực giảm giá.
Tỷ lệ lạm phát lý tưởng mà FED theo đuổi là khoảng 2%- đây là mức tăng giá cả hàng năm được cho là tốt cho nền kinh tế bởi nó có thể kích thích nhu cầu. Người dân kỳ vọng giá cả tăng cao hơn trong tương lai vì vậy họ sẽ mua nhiều hơn trong hiện tại. Nếu lạm phát cao hơn, nhu cầu tăng cao sẽ làm tăng giá hàng hóa.
Các công cụ để kiểm soát lạm phát của FED
FED có một số công cụ thường sử dụng để chế ngự lạm phát, bao gồm hoạt động thị trường mở (OMO), lãi suất liên bang, lãi suất chiết khấu và dự trữ bắt buộc – tuy nhiên FED hiếm khi thay đổi các mức dự trữ bắt buộc.
Tuyến phòng thủ đầu tiên của FED là các hoạt động thị trường mở. FED mua hoặc bán trái phiếu, điển hình là trái phiếu kho bạc từ các ngân hàng thành viên của mình. Thông qua việc mua và bán trái phiếu, FED có thể tác động đến các điều kiện thị trường và qua đó ảnh hưởng đến nền kinh tế. Khi muốn các ngân hàng có nhiều tiền hơn để cho vay, FED sẽ mua vào trái phiếu; ngược lại FED sẽ bán các trái phiếu này ra và các ngân hàng thành viên buộc phải mua. Điều này sẽ làm giảm lượng tiền của FED, khiến họ có ít tiền để cho vay hơn. Do đó, họ có thể thiết lập mức lãi suất cao hơn, qua đó làm chậm tăng trưởng kinh tế và đẩy lùi lạm phát.
Công cụ tiếp theo và nổi tiếng nhất trong các công cụ được FED sử dụng là lãi suất quỹ liên bang (FFR). Lãi suất này cũng là một phần của hoạt động thị trường mở. FFR là lãi suất mà các ngân hàng tính cho các khoản vay qua đêm mà họ thực hiện với nhau. Nó có tác dụng tương tự như việc thay đổi dự trữ bắt buộc và có thể dễ dàng điều chỉnh hơn bởi FED.
FED cũng sử dụng công cụ lãi suất chiết khấu để thực hiện chính sách tiền tệ. Đây là mức lãi suất mà FED tính để cho phép các ngân hàng vay vốn từ hệ thống cho vay chiết khấu của mình. Các ngân hàng thành viên có thể thực hiện các khoản vay qua đêm từ FED để đảm bảo các yêu cầu dự trữ bắt buộc. Để được vay từ FED các ngân hàng phải có các tài sản thế chấp, chúng có thể gồm trái phiếu kho bạc và trái phiếu của chính quyền địa phương,… FED tăng lãi suất chiết khấu khi muốn giảm lượng cung tiền, cùng lúc FED tăng lãi suất quỹ liên bang. Ngược lại, để kích thích tăng trưởng kinh tế, FED giảm lãi suất chiết khấu và lãi suất quỹ liên bang, từ đó tăng lượng cung tiền và cho phép các ngân hàng có nhiều tiền hơn để cho vay.
Dự trữ bắt buộc có thể coi là công cụ cơ sở cho tất cả các công cụ khác của FED. Đây là lượng tiền mà các ngân hàng thành viên bắt buộc phải dự trữ vào cuối mỗi ngày. Nếu ngân hàng không có đủ lượng dự trữ theo yêu cầu, họ sẽ cần vay từ các ngân hàng khác, hoặc cũng có thể vay từ FED thông qua hệ thống chiết khấu. FED sử dụng các công cụ này để quản lý thanh khoản trong hệ thống tài chính. Khi giảm dự trữ bắt buộc, FED sẽ tạo nhiều tiền hơn trong hệ thống ngân hàng, ngược lại việc tăng lượng dự trữ bắt buộc khiến giảm tiền trong lưu thông. Tuy nhiên, FED hiếm khi điều chỉnh dự trữ bắt buộc bởi nó thường rất tốn kém cho các ngân hàng. Vào 15/3/2020, FED quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc xuống 0% để khuyến khích các ngân hàng cho vay trong thời gian đại dịch COVID-19.
Cùng với các công cụ truyền thống như trên, FED ngày càng quan tâm đến việc quản lý kỳ vọng lạm phát của công chúng trong cuộc chiến chống lạm phát. Cựu Chủ tịch FED Ben Bernanke (2006-2014) lưu ý rằng kỳ vọng của công chúng về lạm phát là một yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ lạm phát. Một khi mọi người dự đoán giá cả tăng lên trong tương lai, họ tạo ra một lời tiên tri tự ứng nghiệm. Họ lập kế hoạch cho việc tăng giá trong tương lai bằng cách mua nhiều hơn ngay bây giờ, do đó làm tăng lạm phát hơn nữa.
Vào ngày 3/11/2021, Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC) đã phát đi thông điệp rằng họ sẽ cho phép tỷ lệ lạm phát mục tiêu cao hơn 2% nếu điều đó giúp đảm bảo việc làm tối đa. Mặc dù FOMC vẫn theo đuổi mức lạm phát mục tiêu 2% theo thời gian nhưng sẵn sàng cho phép tỷ lệ cao hơn tại một số thời điểm để cân bằng với tỷ lệ thấp hơn trong lịch sử để mức trung bình vẫn trên 2%.
Lịch sử phản ứng của FED đối với lạm phát
Mỗi nhiệm kỳ Chủ tịch của FED trong quá khứ đều phải đối phó với lạm phát. Nhưng những thách thức họ phải đối mặt và những công cụ họ đã sử dụng rất khác nhau kể từ năm 1934 cho đến nay.
Mariner S. Eccles (1934–1948)
Mariner S. Eccles đã phải chống chọi với tình trạng lạm phát đình trệ được thúc đẩy bởi các chương trình của chính phủ để tạo việc làm cho các cựu chiến binh trở về sau chiến tranh, với mức lạm phát cao nhất 18,1% vào năm 1946. Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc, Hội đồng quản trị FED đã kỳ vọng giảm phát, giống như những gì đã xảy ra sau Nội chiến và Thế chiến thứ I. Nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại. Khi lạm phát tăng, chủ tịch FED Philadelphia muốn tăng lãi suất để chống lại nó. Tuy nhiên Eccles, người đã làm việc với Tổng thống Roosevelt để chống lại cuộc Đại suy thoái, đã trừng phạt ông. Bộ Tài chính đã gây áp lực buộc FED phải giữ lãi suất ở mức thấp để trả khoản nợ Thế chiến thứ hai của chính phủ với chi phí thấp điều này khiến lạm phát tăng phi mã và kinh tế trì trệ.
Thomas McCabe (1949–1951)
Thomas McCabe đã tạo ra vị thế độc lập FED ngày nay. Vào những năm 1949 – 1950, mâu thuẫn nảy sinh giữa FED và Bộ Tài chính Hoa Kỳ về chính sách lãi suất và kiểm soát tín dụng, McCabe đã tham gia vào ủy ban do Tổng thống Truman tạo ra để đưa ra một thỏa thuận - được gọi là Hiệp định Kho bạc – FED vào ngày 3/3/1951. Theo các điều khoản, việc quản lý các nợ của chính phủ đã được tách khỏi chính sách tiền tệ, từ đó củng cố vị trí độc lập của ngân hàng trung ương và đặt nền móng cho chính sách tiền tệ mà FED theo đuổi ngày nay.
William McChesney Martin Jr. (1951–1970)
William Martin Jr. là chủ tịch FED thực sự độc lập đầu tiên và nổi tiếng với việc tích cực chống lạm phát bằng chính sách tiền tệ thắt chặt. Ông đã nỗ lực thúc đẩy sự linh hoạt và độc lập của FED trong thực thi chính sách tiền tệ. Vào năm 1965, bất chấp sự phản đối kịch liệt từ Tổng thống Lyndon Johnson, Martin vẫn quyết định tăng lãi suất chiết khấu để ứng phó với lạm phát. Hành động này của Martin được xem như một sự kiện quan trọng khẳng định sự độc lập của FED.
Mặc dù Martin đã thành công trong cuộc chiến chống lạm phát trong những năm đầu nhiệm kỳ nhưng các chi tiêu lớn của chính phủ cho cải cách và chiến tranh đã góp phần gây ra lạm phát 4,7% vào năm 1968 của Hoa Kỳ. Người Mỹ mua nhiều hàng nhập khẩu hơn, và đô la được chuyển ra nước ngoài nhiều hơn. Các ngân hàng nước ngoài đổi đô la lấy vàng theo thỏa thuận Bretton Woods năm 1944, đe dọa làm cạn kiệt dự trữ vàng của Hoa Kỳ. Để củng cố giá trị của đồng đô la, Fed đã tăng mạnh lãi suất điều hành và đã châm ngòi cho một cuộc suy thoái sau đó.
Arthur Burns (1970–1979)
Arthur Burns trở thành chủ tịch FED trong thời kỳ Đại lạm phát từ năm 1965 đến năm 1982. Nhìn chung, chính sách tiền tệ nới lỏng trong thời kỳ này đã thúc đẩy lạm phát và kỳ vọng lạm phát tăng vọt. Khi lạm phát bắt đầu tăng, các nhà hoạch định chính sách đã phản ứng một cách quá chậm chạp. Hậu quả là kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái trầm trọng. Lạm phát đã trở nên tồi tệ hơn bởi một số yếu tố kinh tế trong suốt một thập kỷ. Năm 1972, Tổng thống Nixon áp đặt các biện pháp kiểm soát giá - tiền lương để ngăn chặn lạm phát. Nhưng thay vào đó, chính sách này đã làm suy thoái nặng nề hơn. Các doanh nghiệp không thể tăng giá bán, vì vậy họ sa thải công nhân. Người lao động không được tăng lương, vì vậy họ cắt giảm chi tiêu. Burns đã cố gắng chống lại các biện pháp của Nixon nhưng vô ích. Ông đã quyết định giảm lãi suất để chống lại suy thoái kinh tế, nhưng điều đó làm lạm phát xấu hơn. Khi FED tăng lãi suất trở lại, nó làm chậm tăng trưởng kinh tế. Đến cuối nhiệm kỳ của Burns, Hoa Kỳ đã phải gánh chịu tình trạng suy thoái trì trệ.
Paul Volcker (1979 - 1987)
Trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, Volcker tập trung vào việc chiến đấu với tỷ lệ lạm phát hàng năm 10% bằng cách tăng lãi suất của Fed lên 20% và duy trì mức lãi suất này cho đến khi lạm phát được kiểm soát. Thật không may, điều này đã góp phần vào cuộc suy thoái năm 1981. Volcker đã thực hiện hành động kịch tính và nhất quán này để khiến mọi người tin rằng lạm phát thực sự có thể được kiểm soát. Trong nhiệm kỳ thứ hai, Volcker ưu tiên mở rộng cung tiền mà không làm tăng lạm phát. Ông cũng dành sự quan tâm nhiều hơn đến việc cải cách cơ cấu tổ chức của FED và hạn chế các hoạt động rủi ro của các ngân hàng thương mại.
Alan Greenspan (1987 - 2006)
Alan Greenspan ủng hộ học thuyết kinh tế laissez-faire – cho rằng chính phủ không nên can thiệp vào nền kinh tế ngoại trừ việc bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của các cá nhân. Theo đó FED không cố gắng quản lý vi mô nền kinh tế mà tuân thủ các mục tiêu rộng lớn là kích thích nền kinh tế trong khi tránh lạm phát. Greenspan chủ yếu dựa vào việc điều hành lãi suất quỹ liên bang để đạt được mục tiêu của mình.
Ngay khi trở thành Chủ tịch FED, Greenspan đã phải đối mặt với cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán tháng 10/1987 và ông đã nhanh chóng hành động để đảm bảo thanh khoản trong các thị trường. Trong suốt nhiệm kỳ của mình, Greenspan đã lãnh đạo FED trải qua nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế lớn, bao gồm suy thoái kinh tế Mỹ, khủng hoảng tài chính châu Á 1997, và sự kiện khủng bố 11/9/2021. Để chống lại cuộc suy thoái năm 2001, Greenspan đã giảm lãi suất xuống 1,25%. Điều này làm giảm lãi suất đối với các khoản thế chấp có thể điều chỉnh và lãi suất các khoản thanh toán. Greenspan đã tăng tỷ giá vào năm 2004 để chống lạm phát 3,3% và tiếp tục nâng lên 4,25% vào năm 2005 và 5,25% vào tháng 6/2006. Đến cuối năm, lạm phát ở mức có thể kiểm soát được là 2,5%.
Tuy nhiên, việc tăng lãi suất của Greenspan đã tác động đến những người nắm giữ các khoản thế chấp lãi suất thấp trước đó khiến họ không thể trả được. Đồng thời, giá nhà đất bắt đầu giảm nên họ cũng không bán được. Điều đó đã tạo ra những vụ kê biên bất động sản lớn. Việc chờ đợi quá lâu để tăng lãi suất đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.
Ben Bernanke (2006–2014)
Ben Bernanke là người lãnh đạo FED ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2006 – 2010 và Cuộc đại suy thoái. Trong nhiệm kỳ của mình, Bernanke đã thực hiện các bước đi chưa từng có để triển khai các gói nới lỏng định lượng, khi NHTW mua hàng tỷ đô la trái phiếu có tài sản đảm bảo và trái phiếu dài hạn để kích thích tăng trưởng kinh tế. Bernake cũng là người thúc đẩy tăng cường thông tin và minh bạch của FED thông qua việc tổ chức các phiên họp báo hàng quý để giải thích các quyết định của FOMC. Ben Bernanke chính thức giới thiệu việc sử dụng các mục tiêu lạm phát 2% để đặt ra kỳ vọng của công chúng về các hành động của FED. Ông đã sử dụng định hướng chính sách để quản lý kỳ vọng của công chúng về lạm phát.
Janet Yellen (2014–2018)
Janet Yellen bắt đầu nhiệm kỳ của mình bằng cách giảm bớt các khoản mua trái phiếu kho bạc của FED khi bà quyết định cắt giảm các gói nới lỏng định lượng. Thay vì lạm phát, Yellen phải vật lộn với lực lượng giảm phát. Năm 2015, lạm phát của Hoa Kỳ chỉ ở mức 0,1% trong khi tăng trưởng GDP chỉ đạt 2,3% và tỷ lệ thất nghiệp lên tới 5,0%. Đến năm 2017, lạm phát được duy trì ở mức 2,1% và tăng trưởng GDP 2,3%.
Jerome Powell (2018–2022)
Là thành viên hội đồng quản trị của FED từ năm 2012, nên Powell đang tiếp tục bình thường hóa lãi suất. FED muốn có lãi suất cho vay ở mức 2,0% vì điều này cho phép FED có thể hạ lãi suất nếu một cuộc suy thoái khác xảy ra. Nó cũng cho phép các ngân hàng tạo ra lợi nhuận hợp lý và người gửi tiết kiệm được hưởng lợi từ lãi suất cao hơn. Tổng thống Trump đã chỉ trích chính sách này và muốn lãi suất thấp hơn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Và khi đại dịch COVID-19 xảy ra, FED đã phải giảm lãi suất quỹ liên bang xuống 0% để cố gắng thúc đẩy nền kinh tế. Năm 2021, GDP Hoa Kỳ tăng 6,9% - cao nhất kể từ 1984, nhưng kéo theo đó, lạm phát cũng lên mức kỷ lục 7% kể từ năm 1982. Lạm phát tiếp tục tăng nóng những tháng đầu năm 2022 lên 7,9% vào tháng 2 so với cùng kỳ năm trước điều này đã khiến Powell liên tục tăng lãi suất nhằm đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2%.
MN (theo the Balance& FedHistory)