Báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế các khu vực của Ngân hàng Thế giới (WB) tiếp tục giảm dự báo kinh tế các nước đang phát triển tại Đông Á - Thái Bình Dương (EAP), đồng thời khuyến nghị các nước cần tăng cường nỗ lực cải cách nhằm thúc đẩy tiến trình phục hồi kinh tế.
Báo cáo nhận định, sau khi tăng 7,2% trong năm 2021, kinh tế EAP được dự báo sẽ giảm tốc xuống mức tăng trưởng 3,2% trong năm 2022, giảm khoảng 2% so với dự báo đưa ra hồi tháng 4/2022, chủ yếu là do kinh tế Trung Quốc giảm sâu từ kết quả tăng 8,1% trong năm 2021 xuống mức tăng trưởng 2,8% trong năm nay. Tại những nước còn lại trong khu vực, GDP năm 2022 dự kiến sẽ tăng 5,3%, tương đối cao so với dự báo tăng 4,8% đưa ra trước đó, do nhu cầu trong nước phục hồi sau khi các nước nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội và xuất khẩu hàng hóa tăng cao.
Mặc dù Trung Quốc tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa, nhưng hiệu quả không cao do đại dịch Covid-19 bùng phát và nguồn thu hạn chế, trong khi dư chấn bất động sản có thể ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế, gây tác động tiêu cực đến khu vực tài chính. Trái lại, những nước khác trong khu vực sẽ từng bước thắt chặt chính sách tài khóa và tiền tệ. Thực tế cũng cho thấy, mặc dù GDP thấp hơn tốc độ tăng trưởng tiềm năng, nhưng nhiều nước EAP đã bắt đầu cắt giảm chi tiêu từ trước khi xảy ra cuộc chiến tại Ukraina, đồng thời giảm dần các gói hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân.
Dự báo tăng trưởng kinh tế
|
Kết quả |
Dự báo (1) |
Dự báo (2) |
||
2021 |
2022 |
2022 |
2022 |
2023 |
|
Đông Á - Thái Bình Dương |
1,2 |
7,2 |
5,0 |
3,2 |
4,6 |
Không tính Trung Quốc |
-3,6 |
2,6 |
4,8 |
5,3 |
5,0 |
ASEAN-5 (*) |
-3,8 |
3,4 |
4,9 |
5,4 |
5,1 |
Các quốc đảo TBD |
-9,5 |
-3,3 |
2,9 |
5,3 |
5,7 |
Trung Quốc |
2,2 |
8,1 |
5,0 |
2,8 |
4,5 |
Indonesia |
-2,1 |
3,7 |
5,1 |
5,1 |
5,1 |
Malaysia |
-5,5 |
3,1 |
5,5 |
6,4 |
4,2 |
Philippines |
-9,5 |
5,7 |
5,7 |
6,5 |
5,8 |
Thái Lan |
-6,2 |
1,5 |
2,9 |
3,1 |
4,1 |
Việt Nam |
2,9 |
2,6 |
5,3 |
7,2 |
6,7 |
Campuchia |
-3,1 |
3,0 |
4,5 |
4,8 |
5,2 |
CHDCND Lào |
0,5 |
2,5 |
3,8 |
2,5 |
3,8 |
Mông Cổ |
-4,4 |
1,6 |
2,5 |
2,4 |
5,5 |
Myanmar |
3,2 |
-18,0 |
1,0 |
3,0 |
|
Papua New Guinea |
-3,5 |
1,0 |
4,0 |
4,0 |
4,2 |
Timor-Leste |
-8,6 |
1,5 |
2,4 |
3,0 |
3,0 |
Palau |
-9,7 |
-17,1 |
7,2 |
6,0 |
18,2 |
Fiji |
-17,2 |
-4,1 |
6,3 |
12,6 |
7,8 |
Quần đảo Solomon |
-3,4 |
-0,2 |
-2,9 |
-4,5 |
2,6 |
Tuvalu |
-4,9 |
0,3 |
3,5 |
3,0 |
3,5 |
Quần đảo Marshall |
-2,2 |
-2,5 |
3,0 |
1,5 |
2,2 |
Vanuatu |
-5,4 |
0,5 |
2,0 |
2,2 |
3,4 |
Kiribati |
-0,5 |
1,5 |
1,8 |
1,5 |
2,3 |
Tonga |
0,5 |
-2,7 |
-1,6 |
-1,6 |
3,3 |
Micronesia |
-1,8 |
-3,2 |
0,4 |
-0,5 |
3,0 |
Nauru |
0,7 |
1,5 |
0,9 |
0,9 |
1,9 |
Nguồn: WB tháng 10/2022; (1)Dự báo đưa ra hồi tháng 4/2022; (2) Dự báo đưa ra hồi tháng 10/2022;
(*) Bao gồm: Indonesia, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Việt Nam.
Theo báo cáo cập nhật của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu có thể giảm sâu hơn so với dự báo tháng 4/2022, lạm phát được điều chỉnh tăng do giá năng lượng và thực phẩm tăng cao cũng như tình trạng mất cân đối cung cầu, điều kiện tài chính khắt khe hơn. Trên toàn cầu, giá cả hàng hóa được kỳ vọng sẽ giảm dần từ đỉnh điểm hiện nay, nhưng vẫn cao hơn nhiều so với trước khi xảy ra cuộc chiến tại Ukraina. Nguyên nhân là do tình trạng gián đoạn sản xuất và thương mại, căng thẳng địa chính trị và các biện pháp trừng phạt liên quan.
Những nước phụ thuộc vào xuất khẩu trong khu vực dễ bị tổn thương do nhu cầu suy giảm trên toàn cầu. Trái lại, việc nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội sẽ giúp một số nền kinh tế phục hồi hoạt động kinh doanh du lịch, và qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Do điều kiện tài chính khắt khe hơn, những nước cần nguồn tài chính lớn từ bên ngoài như Campuchia, Indonesia, Malaysia, CHDCND Lào, Mông Cổ sẽ dễ bị tổn thương hơn so với những nước khác trong khu vực.
Tại Myanmar, áp lực giá cả vẫn tăng cao, vị thế quốc tế ngày càng xấu đi, bất ổn chính trị triền miên, cản trở khả năng phục hồi kinh tế, sau khi giảm xuống mức tăng trưởng -18% trong năm tài khóa 2021. Tại Mông Cổ, xung đột biên giới dai dẳng và khó khăn về nguồn cung tiếp tục cản trở tăng trưởng kinh tế, mặc dù hoạt động kinh tế trong nước đã phục hồi dần sau đại dịch. Tại quần đảo Solomon, GDP năm 2022 được dự báo sẽ giảm tới 4,5%, phản ánh tác động tiêu cực của bạo loạn xã hội gần đây và Covid-19 lan rộng. Tại Tonga, núi lửa phun trào và sóng thần sau đó xảy ra vào đầu năm 2022 đã nhấn chìm triển vọng kinh tế của quốc đảo này.
Theo dự báo, lạm phát cơ bản trung bình hàng năm tại EAP sẽ vượt ngưỡng 5% trong năm nay, cao hơn dự báo tháng 4/2022 là chỉ tăng 3%. Trong đó, giá thực phẩm và năng lượng tăng cao sẽ gây rủi ro đáng kể và chi phối động thái điều chỉnh tăng lạm phát. Hơn nữa, các động thái thắt chặt chính sách tiền tệ tại Mỹ mạnh tay hơn so với kỳ vọng đã kích hoạt xu hướng đào thoát dòng vốn khỏi các nước trong khu vực và có thể gây áp lực lên tỷ giá, qua đó đẩy lạm phát tăng cao, nhất là tại những nước phụ thuộc vào dòng vốn vào ngắn hạn như Mông Cổ, Malaysia, Indonesia.
Trong những năm còn lại của thập kỷ này (2022-2030), GDP các nước EAP được dự báo chỉ tăng trung bình 4,6%, thấp xa kết quả tăng 7,6% trong những năm 2000-2010 và 6,2% trong thập kỷ 2011-2021, kinh tế EAP tăng trung bình 6,2%, thấp hơn kết quả tăng 7,6% trong thập kỷ 2000-2010. Xu hướng tăng trưởng chậm dần chủ yếu là do kinh tế Trung Quốc giảm tốc, trong khi GDP tiềm năng tại những nước khác (không tính Trung Quốc) được dự báo chỉ giảm 0,1% xuống 4,1%, chủ yếu là do nguồn vốn lũy kế giảm dần (chiếm khoảng 50%).
Kinh tế EAP đang đối mặt với nhiều rủi ro, bao gồm chính sách tiền tệ thắt chặt nhanh hơn so với kỳ vọng, căng thẳng tài chính, kinh tế Trung Quốc giảm tốc, và cuộc chiến tại Ukraina đang diễn biến theo chiều hướng ngày càng xấu đi. Đáng chú ý, lạm phát triền miên trên toàn cầu có thể buộc các NHTW lớn đẩy nhanh tiến độ thắt chặt tiền tệ để kiềm chế áp lực giá cả, kinh tế toàn cầu có thể giảm sâu hơn so với kỳ vọng, kích hoạt làn sóng đào thoát dòng vốn khỏi EMDEs. Ngoài ra, điều kiện tài chính toàn cầu khắt khe hơn có thể gây khó khăn về nợ nần tại những nước có nợ nần ở mức cao.
Cụ thể là, các nước EAP đang đối mặt với nhiều khó khăn ở trong và ngoài nước với mức độ khác nhau: (i) Suy giảm kinh tế toàn cầu, làm giảm nhu cầu bên ngoài về hàng hóa nhập khẩu từ khu vực EAP. Mặc dù hoạt động du lịch đang phục hồi trở lại, nhưng hoạt động kinh tế trầm lắng tại các nền kinh tế lớn có thể khiến GDP tại các quốc gia hàng đầu EAP giảm trên 1% trong năm nay; (ii) Lạm phát ở nước ngoài đang đẩy mặt bằng lãi suất tăng cao, làm tăng dòng vốn đào thoát khỏi EAP và đồng bản tệ mất giá. Đến lượt nó, tỷ giá yếu ớt sẽ hỗ trợ tăng lạm phát trong nước. Trong bối cảnh kinh tế như vậy, CHDCND Lào và Mông Cổ là hai quốc gia dễ bị tổn thương nhất, do nợ nần ở mức cao với các mức lãi suất và ngoại tệ khác nhau; (iii) Lạm phát đã gây xói mòn sức mua của các hộ gia đình và doanh nghiệp, gây tổn thất khá lớn về lợi nhuận, buộc nhiều nước EAP phải tiến hành thêm các biện pháp hỗ trợ, trong khi nợ công và nợ tư nhân đang gia tăng. Đây là lựa chọn chính sách khó khăn, do năng lực triển khai hạn chế, thể chế kinh tế yếu kém, và áp lực chính trị mạnh mẽ. Các giải pháp chính sách hiện nay chỉ mang tính ngắn hạn, nhưng có thể gây rối loạn chính sách và chất thêm gánh nặng nợ nần, bội chi ngân sách sẽ tăng cao. Vì thế, hỗ trợ thu nhập được cho là phương án tốt hơn so với quản lý giá, vì nó không làm ảnh hưởng đến cách thức lựa chọn và có thể tập trung vào những đối tượng cần hỗ trợ nhiều nhất.
Tuy nhiên, các chính phủ vẫn có thể lựa chọn trợ giá thay vì hỗ trợ có mục tiêu với ba lý do cơ bản. Một là, từ giác độ phúc lợi xã hội, một tỷ lệ lớn người nghèo không được nhận hỗ trợ do hạ tầng yếu kém và thiếu cơ sở dữ liệu xã hội đầy đủ. Hai là, hỗ trợ có mục tiêu về nguyên tắc không đem lại lợi ích cho đa số, do những đối tượng không thuộc diện đói nghèo nhưng cũng cảm nhận được khó khăn do lạm phát gây ra. Ba là, kiểm soát giá có thể bảo vệ doanh nghiệp khi chi phí tăng cao, với nguy cơ gây gián đoạn phục hồi sản xuất sau cú sốc Covid-19.
Chính phủ các nước có thể chuyển đổi từ các biện pháp chính sách kém hiệu quả sang các biện pháp hiệu quả hơn, tùy vào mức độ khắc phục được những hạn chế về năng lực triển khai, thể chế kinh tế và những cân nhắc về chính trị. Để hoàn thành các mục tiêu về lương thực thực phẩm, khả năng chi trả, an ninh quốc gia, chính phủ các nước cần chuyển trọng tâm từ an ninh lương thực tập trung vào lúa gạo sang an ninh dinh dưỡng. Để hoàn thành các mục tiêu về năng lượng, phương án ứng phó chính sách phải đáp ứng nhu cầu trước mắt về năng lượng trong khả năng chi trả để không ảnh hưởng đến an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Để hoàn thành các mục tiêu về tài chính, các cấp có thẩm quyền cần tăng cường các biện pháp an toàn và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong khu vực tài chính, đảm bảo các ngân hàng duy trì tỷ lệ vốn lành mạnh và dự phòng đầy đủ trước nguy cơ tổn thất vốn vay trong tương lai. Các quốc gia có tỷ lệ nợ xấu cao và khả năng thanh toán thấp thường phải đối mặt với suy thoái sâu hơn và dài hơn, quá trình phục hồi kinh tế cũng chậm hơn so với những quốc gia sớm giải quyết được các vấn đề về nợ xấu.
Do dư địa tài khóa thu hẹp dần, các nước EAP phải vật lộn với khó khăn trong việc điều hòa chính sách hỗ trợ tài khóa để giảm thiểu khó khăn, hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, các cú sốc mới sẽ định hình chính sách tài khóa cân bằng. Theo đó, các nước cần tăng cường hỗ trợ tài khóa, mặc dù nguồn thu tiếp tục hạn chế. Rủi ro ở đây là, các biện pháp hỗ trợ tài khóa do chính quyền địa phương các cấp tiến hành và dành cho khu vực doanh nghiệp nhà nước có thể xói mòn các thành tựu tài chính đã đạt được. Một rủi ro khác là tình trạng suy giảm đầu tư phát triển hạ tầng thương mại, năng lượng, và phổ biến công nghệ - những lĩnh vực cần thiết để tận dụng những cơ hội mới bằng cách nâng cao năng lực trong nước và liên kết quốc tế. Vì thế, các nước EAP cần triển khai các biện pháp hỗ trợ kinh tế theo hướng có chọn lọc. Tuy nhiên, lựa chọn chính sách vĩ mô đang đối mặt với sự đánh đổi giữa yêu cầu kiềm chế áp lực lạm phát và tiếp tục hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế. Vấn đề đặt ra là liệu áp lực lạm phát phản ánh cú sốc dai dẳng hay tạm thời. Về cơ bản, cuộc chiến tại Ukraina là yếu tố chi phối áp lực lạm phát, nhưng giá cả một số mặt hàng đã bắt đầu giảm. Tại các nền kinh tế chủ chốt trong khu vực, mặc dù kỳ vọng lạm phát năm 2023 được điều chỉnh tăng liên tục trong những tháng gần đây, nhưng vẫn thấp hơn so với lạm phát năm 2022. Trong ngữ cảnh như vậy, thắt chặt chính sách tài chính theo lộ trình từng bước được cho là lựa chọn phù hợp tại những quốc gia này. Về chính sách tiền tệ, các nước trong khu vực có thể sử dụng cách tiếp cận từng bước, do lãi suất tại các nước đang phát triển và mới nổi trong khu vực vẫn thấp hơn so với mặt bằng lãi suất tại các nước phát triển.
Hoàng Thế Thỏa (Nguồn: WB tháng 10/2022)