Báo cáo tham vấn thường niên về Việt Nam 2022 của Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế vĩ mô ASEAN +3 (AMRO) dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ phục hồi đạt mức 7,0 % trong năm 2022 nhờ vào nhu cầu bên ngoài mạnh mẽ, nhu cầu trong nước phục hồi và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh.
Theo AMRO, những rủi ro đối với triển vọng tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu từ bên ngoài xuất phát từ sự gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, nguy cơ bùng phát các biến thể COVID-19 mới kháng vắc-xin, các điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt, suy thoái kinh tế Trung Quốc và giá dầu thế giới tăng cao. Các chính sách kinh tế vĩ mô vì thế cần cân bằng giữa hỗ trợ phục hồi và hỗ trợ có mục tiêu cho các bộ phận dễ bị tổn thương của nền kinh tế, đồng thời kiểm soát các áp lực lạm phát.
Kinh tế duy trì tăng trưởng cao, lạm phát được kiểm soát
Trong nước, dịch COVID-19 được kiềm chế và giảm mạnh từ tháng 4/2022 và các biện pháp ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh được nới lỏng cùng với hạn chế biên giới được giảm bớt đã tạo điều kiện cho các hoạt động quay lại bình thường. Nền kinh tế phục hồi nhanh chóng nhờ nhu cầu bên ngoài tăng mạnh mẽ và hoạt động sản xuất tiếp tục khôi phục. Sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế có động lực từ sự phục hồi mạnh mẽ của tiêu dùng tư nhân, dòng vốn FDI, các biện pháp chính sách hỗ trợ tài chính và sự phục hồi trong lĩnh vực dịch vụ.
Các số liệu cho thấy lạm phát của Việt Nam trong những tháng đầu năm 2022 được duy trì ở mức thấp và áp lực lạm phát đã được kiềm chế tốt. Việc sử dụng các biện pháp bình ổn giá xăng dầu, cắt giảm thuế môi trường và quản lý giá cả đã giúp giảm bớt các tác động của việc tăng giá dầu toàn cầu và kiểm soát lạm phát ở dưới 3% trong nửa đầu năm 2022. Lạm phát toàn phần vào tháng 6/2022 ở mức 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong khi lạm phát cơ bản là gần 2%. Thời gian tới, lạm phát được dự báo vẫn sẽ được giữ ở mức khoảng 3,5% cả năm 2022.
Kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu, các cơ quan quản lý đã áp dụng chính sách tài khóa một cách thận trọng hỗ trợ tăng trưởng. Vào tháng 1/2022, Quốc hội đã phê chuẩn gói kích thích kinh tế nhằm thúc đẩy phục hồi kinh tế và nâng cao tiềm năng tăng trưởng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã duy trì các điều kiện tiền tệ thuận lợi trong thời gian vừa qua. Các mức lãi suất chính sách đã được giữ nguyên kể từ khi cắt giảm lãi suất vào giữa năm 2020, và mục tiêu tăng trưởng tín dụng là duy trì ở mức 14% cho năm 2022. Nằm trong gói kích thích kinh tế của Chính phủ (Nghị định số 31/2022/NĐ-CP), NHNN cũng triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất 2%, do ngân sách tài trợ, (từ 5/2022 đến 12/2023) đối với các khoản vay thương mại cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ gia đình bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch.
Phần lớn lĩnh vực tài chính đã vượt qua sự suy thoái tương đối tốt. Tỷ lệ nợ xấu hiện ở mức 1,5% vào cuối năm 2021 (thấp hơn so với mức trung bình 1,7% trong giai đoạn 2018-2020). Tuy nhiên, nợ xấu có thể bị ảnh hưởng khi các biện pháp hỗ trợ để cơ cấu thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi suất,… kết thúc vào tháng 6/2022.
Cán cân thanh toán (BOP) thặng dư đã góp phần làm tăng đáng kể dự trữ ngoại hối trong những năm gần đây. Việc nới lỏng các hạn chế đi lại giúp xuất khẩu tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2021 (ở mức 19%), một phần nhờ nhu cầu bên ngoài đối với các sản phẩm điện tử, máy tính, điện thoại di động. Nhập khẩu tăng 26,5%, phản ánh sự gia tăng các nguồn đầu vào trung gian cũng như đầu tư và sản phẩm tiêu dùng. Với tổng thể cán cân thanh toán thặng dư, dự trữ quốc tế đã tăng thêm 14,5 tỷ USD lên 110 tỷ USD vào cuối năm 2021, tương đương 3,4 tháng nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Trong trung hạn, Việt Nam tiếp tục có tăng trưởng cao trong năm 2022 và 2023, mặc dù môi trường bên ngoài được dự báo có nhiều trở ngại. Tuy nhiên, AMRO dự đoán kinh tế khu vực vẫn đạt mức tăng trưởng 4,3% và 4,9% cho năm 2022 và 2923. Đối với Việt Nam, các con số này lần lượt là 7% và 6,5%.
Các rủi ro với triển vọng tăng trưởng
Những rủi ro giảm tăng trưởng chủ yếu bắt nguồn từ rủi ro địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, bùng phát các biến chủng COVID-19 kháng vắc-xin, thắt chặt các điều kiện tài chính ở các nền kinh tế phát triển và giá dầu thế giới tiếp tục tăng. Chính sách “zero-COVID” của Trung Quốc dường như sẽ tiếp tục cản trở xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, cũng như tạo ra các nút “thắt cổ chai” về nguồn cung cho một loạt các sản phẩm nhập khẩu trung gian. Ngược lại, tăng trưởng nhanh hơn dự kiến có thể được kích thích nhờ sự phát triển nhanh hơn trong tiêu dùng tư nhân, khi sức cầu bị dồn nén được giải phóng. Bên cạnh đó, việc duy trì lập trường chính sách kinh tế vĩ mô hỗ trợ trong thời gian lâu hơn như một biện pháp phòng ngừa cũng có thể tác động đến triển vọng.
Trong lĩnh vực tài chính, những ảnh hưởng của đại dịch đến bảng cân đối kế toán ngân hàng có thể sẽ cần một chút thời gian để cải thiện. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức tương đối thấp phần nào phản ánh chính sách cơ cấu thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ để hỗ trợ khách hàng do COVID-19. Những rủi ro tiềm ẩn bắt nguồn từ sự bùng nổ bất động sản và sự gia tăng sự kết nối giữa các nhà phát triển bất động sản và các ngân hàng thương mại cần được giám sát chặt chẽ trong thời gian gần đến trung hạn.
Từ một quan điểm dài hạn, đại dịch có thể đã làm sâu sắc hơn sự bất bình đẳng với những “vết sẹo” dai dẳng lên các đối tượng dễ bị tổn thương hơn trong xã hội. Suy thoái kinh tế đã thể hiện ở tác động không đồng đều giữa những người có thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những doanh nghiệp xuất khẩu - các doanh nghiệp nhập khẩu, và giữa các tập đoàn lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong khi đó, đại dịch làm chậm lại các tiến bộ giảm nghèo nhanh chóng của Việt Nam. Các kết quả mô phỏng chỉ ra tỷ lệ nghèo đói năm 2020 đã cao hơn 0,3% so với kịch bản không có COVID.
Đề xuất chính sách
AMRO đề xuất lập trường chính sách tài khóa hỗ trợ nhẹ vào năm 2022. Với dư địa tài khóa sẵn có, trong điều kiện sự phục hồi không đồng đều giữa các lĩnh vực, các hỗ trợ chính sách nên hướng đến tiếp tục hỗ trợ các lĩnh vực bị tác động nặng nề do đại dịch. Trong bối cảnh đó, các biện pháp hỗ trợ trong gói kích thích nên tập trung vào các doanh nghiệp vi mô, nhỏ và vừa (MSMEs) và các hộ gia đình thu nhập thấp. Việc cắt giảm thuế giá trị gia tăng, hoãn thuế và hỗ trợ tiền thuê nhà phải được đánh giá thường xuyên về tính hiệu quả và chấm dứt khi việc phục hồi đã ổn định. Các gói kích thích cần được triển khai thận trọng, phù hợp với quá trình phục hồi. Việc phát triển cơ sở hạ tầng có thể đóng vai trò chủ chốt đêm lại sức sống cho nền kinh tế trong tương lai. Bên cạnh đó, có dư địa cho việc tăng chi tiêu đồng thời tăng cường huy động nguồn thu.
Đối với chính sách tiền tệ, AMRO khuyến nghị Ngân hàng Nhà nước nên hướng tới bình thường hóa các điều kiện tiền tệ. Mặc dù lạm phát vẫn được duy trì dưới mức mục tiêu, nhưng áp lực tăng giá bắt nguồn từ giá hàng hóa tăng cao trên thị trường toàn cầu sẽ tiếp tục tạo ra lạm phát áp lực. Việc giảm lập trường chính sách tiền tệ nới lỏng cũng thích hợp để ngăn chặn hình thành các mất cân đối tài chính xuất hiện trong môi trường lãi suất thấp. Các nỗ lực bổ sung cũng cần được thực hiện để tăng tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái để nâng cao vai trò của nó như một bộ đệm.
Khuôn khổ pháp lý và vốn hóa ngân hàng cần được tăng cường để củng cố và duy trì sự lành mạnh của lĩnh vực tài chính. Trong bối cảnh bùng nổ bất động sản, việc giảm cho vay đối với các phân khúc rủi ro cao và sự phụ thuộc nhiều hơn vào các khoản vay có bảo đảm sẽ có lợi cùng với nỗ lực cải thiện việc định giá tài sản và phát triển một khuôn khổ giải quyết hiệu quả. Ngoài ra, một khung chính sách đảm bảo an toàn vĩ mô mạnh mẽ hơn là rất cần thiết, cùng với nỗ lực để tăng trích lập dự phòng bên cạnh hướng dẫn hiện hành để chuẩn bị cho việc tài sản bị suy giảm.
Cải cách cơ cấu cần được đẩy mạnh để đạt được tăng trưởng bền vững và bao trùm. Khi Việt Nam tiến tới vượt ra khỏi vị thế quốc gia có thu nhập trung bình thấp, nguồn tài chính ưu đãi sẽ giảm với kỳ vọng rằng khu vực tư nhân và nhà nước sẽ tiếp cận ngày càng nhiều với thị trường vốn quốc tế. Điều này sẽ đòi hỏi một nỗ lực phối hợp để thực hiện một loạt các cải cách, bao gồm cả việc làm sâu sắc thêm thị trường tài chính và tăng cường xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
AMRO đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và thúc đẩy tài chính số hóa. AMRO hoan nghênh các cam kết mạnh mẽ của Việt Nam tại COP26 Hội nghị thượng đỉnh Glasgow để đạt được mức độ trung tính carbon vào năm 2050. AMRO cũng khuyến khích phát triển một khuôn khổ pháp lý mạnh mẽ hơn, rõ ràng hơn và minh bạch hơn để thúc đẩy số hóa và đổi mới tài chính đã nhận được sự thúc đẩy trong thời kỳ đại dịch.
HN (theo Amro-asia)