Theo báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu công bố tháng 6/2023 của Ngân hàng Thế giới (WB), tăng trưởng toàn cầu đã chậm lại đáng kể và nguy cơ căng thẳng tài chính tại EMDE đang gia tăng trong bối cảnh lãi suất toàn cầu tăng cao. WB dự báo kinh tế thế giới sẽ chỉ đạt mức tăng trưởng 2,1% trong năm nay, trước khi phục hồi nhẹ lên mức 2,4%. vào năm 2024.
Theo WB, điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt và nhu cầu bên ngoài yếu sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng của các EMDE. Các dự báo cho nhiều quốc gia đã được điều chỉnh giảm. Lạm phát vẫn dai dẳng nhưng được dự đoán sẽ giảm dần khi nhu cầu suy yếu và giá cả hàng hóa giảm, với điều kiện kỳ vọng lạm phát dài hạn vẫn được neo giữ.
Tăng trưởng toàn cầu có thể yếu hơn nếu những căng thẳng trong lĩnh vực ngân hàng tiếp tục mở rộng hoặc áp lực lạm phát dai dẳng thúc đẩy chính sách tiền tệ thắt chặt hơn dự kiến. Triển vọng tăng trưởng yếu và rủi ro gia tăng trong ngắn hạn sẽ làm tăng trưởng tiềm năng chậm lại trong dài hạn, điều này đã trở nên trầm trọng hơn bởi những cú sốc chồng chéo của đại dịch COVID-19, cuộc chiến tranh của Nga tại Ukraine, và sự thắt chặt mạnh mẽ của các điều kiện tài chính toàn cầu.
Bối cảnh khó khăn này làm nổi lên rất nhiều thách thức chính sách. Sự đổ vỡ gần đây của một số ngân hàng lớn tại Hoa Kỳ và châu Âu đã đặt ra yêu cầu tập trung đổi mới vào cải cách quy định tài chính toàn cầu. Hợp tác quốc tế cũng cần thiết để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng sạch, giảm thiểu biến đổi khí hậu và các giải pháp giảm bớt gánh nặng nợ cho các quốc gia gặp khó khăn về nợ nần đang ngày càng gia tăng. Ở cấp quốc gia, cần phải thực hiện các chính sách đáng tin cậy để kiềm chế lạm phát và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và tài chính, cũng như thực hiện cải cách để thiết lập nền tảng cho một lộ trình phát triển mạnh mẽ, bền vững và toàn diện.
Báo cáo của WB dự báo tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm tốc từ 3,1% vào năm 2022 xuống còn 2,1% vào năm 2023. Tại các EMDE (trừ Trung Quốc), tốc độ tăng trưởng dự kiến sẽ giảm xuống 2,9% trong năm nay từ mức 4,1% của năm ngoái.
Tăng trưởng được dự báo có sự khác biệt giữa các EMDE ở các khu vực trong năm 2023 và 2024. Các EMDE ở Đông Á và Thái Bình Dương (EAP), châu Âu và Trung Á được kỳ vọng sẽ tăng nhanh khi Trung Quốc mở cửa và phục hồi, cùng với triển vọng tăng trưởng ở một số nền kinh tế lớn được cải thiện. Ngược lại, tăng trưởng của EMDE tại các khu vực khác chỉ ở mức vừa phải.
Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương dự kiến tăng trưởng 5,5% vào năm 2023 và sau đó giảm xuống 4,6% vào năm 2024. Châu Âu và Trung Á tăng trưởng nhẹ ở mức 1,4% vào năm 2023 và 2,7% vào năm 2024. Tăng trưởng dự kiến của Châu Mỹ Latinh và Ca-ri-bê sẽ giảm xuống 1,5% vào năm 2023 trước khi phục hồi lên 2% vào năm 2024. Trung Đông và Bắc Phi dự kiến có mức tăng trưởng 2,2% vào năm 2023 và 3,3% vào năm 2024. Nam Á dự kiến đạt tăng trưởng 5,9% vào năm 2023 và sau đó là 5,1% vào năm 2024. Châu Phi cận Sahara sẽ tăng trưởng chậm lại ở mức 3,2% vào năm 2023 và tăng lên 3,9% vào năm 2024.
Cho đến nay, hầu hết các EMDE chỉ thấy tác động hạn chế từ căng thẳng ngân hàng gần đây ở các nền kinh tế phát triển, nhưng họ hiện đang đi trong vùng nguy hiểm. Với các điều kiện tín dụng toàn cầu ngày càng thắt chặt, trung bình cứ bốn nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi sẽ có một nền kinh tế mất khả năng tiếp cận thị trường trái phiếu quốc tế. Việc thắt chặt đặc biệt nghiêm trọng đối với EMDE có các những tổn thương tiềm ẩn như mức độ tín nhiệm tín dụng thấp. Dự báo tăng trưởng cho các nền kinh tế này trong năm 2023 thấp hơn một nửa so với một năm trước, khiến chúng rất dễ bị tổn thương trước những cú sốc bổ sung.
Lạm phát toàn cầu được dự đoán sẽ chậm lại từ từ khi tăng trưởng sụt giảm, nhu cầu lao động giảm bớt ở nhiều quốc gia và giá cả hàng hóa duy trì ổn định. Những cải thiện chậm chạp của lạm phát cho thấy lạm phát cơ bản sẽ tiếp tục cao hơn mức mục tiêu của nhiều ngân hàng trung ương các nước trong suốt năm 2024. Tại nhiều EMDE, lạm phát hoặc đã một lần nữa tăng trở lại hoặc được ổn định ở mức cao.
Các dự báo mới nhất chỉ ra rằng những cú sốc chồng chéo của đại dịch, cuộc xung đột Nga - Ukraine và sự suy giảm mạnh trong bối cảnh các điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt đã tạo ra một trở ngại lâu dài đối với sự phát triển của các EMDE, một trở ngại sẽ tồn tại trong tương lai gần. Đến cuối năm 2024, hoạt động kinh tế EMDE dự báo sẽ thấp hơn khoảng 5% so với mức trước đại dịch. Tại các quốc gia có thu nhập thấp, đặc biệt là những nước nghèo nhất, thiệt hại là rất lớn: ở hơn một phần ba các quốc gia này, thu nhập bình quân đầu người vào năm 2024 vẫn sẽ thấp hơn mức của năm 2019. Tốc độ tăng trưởng thu nhập yếu ớt này sẽ tạo ra tình trạng nghèo đói cùng cực ở nhiều quốc gia có thu nhập thấp.
Phó Chuyên gia kinh tế trưởng của WB Ayhan Kose cho biết: “Nhiều nền kinh tế đang phát triển đang phải vật lộn để ứng phó với tăng trưởng yếu, lạm phát cao dai dẳng và mức nợ kỷ lục. Tuy nhiên, những nguy cơ mới - như khả năng xảy ra tác động lan tỏa rộng hơn từ tình trạng căng thẳng tài chính mới ở các nền kinh tế phát triển - có thể khiến vấn đề trở nên tồi tệ hơn”. “Các nhà hoạch định chính sách ở các nền kinh tế này nên hành động kịp thời để ngăn chặn tác động tài chính lan tỏa và giảm thiểu các tổn thương ngắn hạn trong nước.”
Tại các nền kinh tế phát triển, tốc độ tăng trưởng dự kiến sẽ giảm từ 2,6% năm 2022 xuống 0,7% năm nay và duy trì ở mức thấp vào năm 2024. Sau khi tăng trưởng 1,1% vào năm 2023, nền kinh tế Hoa Kỳ dự kiến sẽ giảm tốc xuống 0,8% vào năm 2024, chủ yếu là do tác động kéo dài của việc lãi suất tăng mạnh trong hơn một năm rưỡi qua. Tại khu vực đồng euro, tăng trưởng được dự báo sẽ giảm xuống 0,4% vào năm 2023 từ mức 3,5% vào năm 2022, do tác động trễ của việc thắt chặt chính sách tiền tệ và tăng giá năng lượng.
Báo cáo của WB cũng đưa ra một phân tích về việc tăng lãi suất của Hoa Kỳ đang ảnh hưởng đến các EMDE như thế nào. Hầu hết sự gia tăng của lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn hai năm trong hơn một năm rưỡi qua là do các nhà đầu tư kỳ vọng vào chính sách tiền tệ diều hâu của Hoa Kỳ để kiểm soát lạm phát. Theo báo cáo, kiểu tăng lãi suất cụ thể này có liên quan đến các tác động tài chính bất lợi ở EMDEs, bao gồm nguy cơ xảy ra khủng hoảng tài chính cao hơn. Ngoài ra, những tác động này rõ rệt hơn ở các quốc gia có nền kinh tế dễ bị tổn thương hơn. Đặc biệt, các thị trường cận biên – là những thị trường có thị trường tài chính kém phát triển hơn và khả năng tiếp cận hạn chế các nguồn vốn quốc tế - có xu hướng tăng chi phí đi vay quá mức.
Ngoài ra, báo cáo cũng cung cấp một đánh giá toàn diện về những thách thức chính sách tài khóa mà các nền kinh tế có thu nhập thấp đang phải đối mặt. Các quốc gia này đang ở trong tình trạng khó khăn. Lãi suất tăng đã làm trầm trọng thêm tình hình tài chính của họ trong thập kỷ qua. Nợ công hiện nay trung bình chiếm tỷ lệ khoảng 70% GDP. Các khoản trả lãi đang chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong nguồn thu hạn chế của chính phủ. Hiện nay, 14 quốc gia có thu nhập thấp đã hoặc đang có nguy cơ cao lâm vào cảnh túng quẫn vì nợ nần. Áp lực chi tiêu đã tăng lên ở các nền kinh tế này. Những cú sốc bất lợi như các hiện tượng thời tiết cực đoan và các cuộc xung đột có nhiều khả năng khiến các hộ gia đình ở các quốc gia có thu nhập thấp rơi vào tình trạng khó khăn hơn bất kỳ nơi nào khác do mạng lưới an sinh xã hội hạn chế. Trung bình, các quốc gia này chỉ chi 3% GDP cho những công dân dễ bị tổn thương nhất của họ - thấp hơn nhiều so với mức trung bình 26% của các nền kinh tế đang phát triển.
MN (theo WB)